57. Sứ giả đi thỉnh Phật

04/03/201103:31(Xem: 9178)
57. Sứ giả đi thỉnh Phật

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ SÁU: CHƯ THIÊN CÚNG DƯỜNG

SỨ GIẢ ĐI THỈNH PHẬT

Lúc ấy, Phật ở gần thành Vương-xá, trong tinh xá Trúc Lâm. Mùa an cư vừa mãn, Phật cùng chư tỳ-kheo ra khỏi thành đi giáo hóa ở những vùng xa xôi.

Bấy giờ, ông trưởng giả Tu-đạt tâu lên vua Ba-tư-nặc rằng: “Chúng ta đã lâu không được gặp Phật. Xin đại vương cho sứ giả sang thành Vương-xá thỉnh Phật về đây để chúng ta cùng lễ bái cúng dường.”

Vua Ba-tư-nặc nghe lời tâu hợp ý, liền sai sứ giả sang thành Vương-xá vấn an Phật, bày tỏ lòng vua với bá tánh đều mong nhớ, nguyện được thấy Phật trở lại thành Xá-vệ mà lễ bái cúng dường.

Sứ giả đến nơi trình tâm nguyện của vua Ba-tư-nặc lên với Phật, Phật liền nhận lời.

Sứ giả quay về tâu lên vua Ba-tư-nặc là Phật đã nhận lời. Vua rất vui mừng, liền truyền đưa xe theo sứ giả ấy sang thành Vương-xá mà đón Phật. Sứ giả đến nơi thưa thỉnh rằng: “Đại vương lòng thành truyền cho xe đến đón, xin đức Thế Tôn từ bi thương xót, cho sứ giả này được dùng xe đưa ngài về thành Xá-vệ.”

Phật nói rằng: “Ta có đủ sáu phép thần thông, bảy phép giác chi, tám phần thánh đạo, năm loại xe pháp. Phép thần của ta như vậy, sao phải cần dùng đến xe của vua?”

Vị sứ giả ấy ba lần cầu thỉnh, xin Phật lên xe để mình đưa đi, không cần dùng đến các phép thần túc.

Khi ấy, Phật cảm lòng thành của sứ giả, liền chịu lên xe để người đưa đi. Khi lên xe rồi, Phật dùng thần thông khiến cho cả người và xe đều vượt lên hư không mà đi, trong phút chốc đến thành Xá-vệ, chỗ vua Ba-tư-nặc đang vọng thỉnh.

Trong đêm hôm đó, vị sứ giả thỉnh Phật ấy mạng chung, sinh lên cõi trời Đao-lỵ, tự suy nghĩ rằng: “Không biết trước đây ta tạo phước đức gì được sinh lên cõi trời này?” Liền tự quán sát, nhớ lại tiền thân là sứ giả của vua Ba-tư-nặc, nhờ hết lòng thỉnh Phật mà được phước sinh lên cõi trời, liền hiện xuống thành Xá-vệ muốn báo ơn Phật.

Khi ấy, vị thiên tử này hiện thân trang nghiêm đẹp đẽ, mang theo những hương hoa, trân bảo từ cõi trời, đến lễ bái cúng dường Phật. Lễ bái cúng dường xong, liền ngồi sang một bên nghe pháp. Phật thuyết pháp Tứ diệu đế cho nghe rồi, tâm ý liền khai mở, đắc quả Tu-đà-hoàn, liền lễ Phật rồi quay về cõi trời.

Sáng hôm sau, chư tỳ-kheo thưa hỏi Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Đêm qua có hào quang chiếu sáng ở nơi tinh xá, chẳng hay đó là các vị Thích phạm, tứ thiên vương, hay hai mươi tám bộ quỷ thần đến nghe pháp?”

Phật nói: “Chẳng phải Thích phạm, thiên thần, tứ thiên vương đến nghe pháp. Ấy là vị sứ giả của vua Ba-tư-nặc hôm trước mang xe đến thỉnh ta. Nhờ thiện tâm ấy, nay được sinh lên cõi trời, nên đến cúng dường ta. Do đó mà có ánh hào quang ấy.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/11/2011(Xem: 6487)
Tôi có ý nghĩ viết thành tập sách này vào đầu năm nay 97, nhân kỷ niệm mười năm tôi được xuất gia học đạo. Mười năm thường là cái mốc thời gian đáng nhớ cho những sự cố gì xảy ra trong một đời người. Sự cố ấy mang ý nghĩa của đổi thay dù sự đổi thay đó mang tính cách thế tục hay xuất thế. Trong đạo thầy đã dạy tôi rằng: "Sau một thời gian tu tập con cần nên cứu xét lấy mình, ngắn thì mỗi năm, dài thì năm năm, mười năm. Sau khoảng một thời gian dài ấy mà con thấy có niềm tin hơn, ý chí hơn trong sự tu tập thì đó là con đã tiến bộ. Giảm niềm tin, thiếu tinh tấn chính là con đã lui sụt. Tu tập mà không tiến bộ tức là thua sút, yếu hèn, phụ bạc công ơn thầy tổ nuôi nấng và sự thọ nhận cúng dường của đàn na thí chủ".
04/11/2011(Xem: 5901)
Tiếng súng nổ từ xa, dù lớn dù nhỏ, vẫn là chuyện thông thường không thắc mắc đối với dân Quảng Ngãi trong thời chiến tranh. Nhưng đêm nay, đêm mồng một Tết, tiếng súng nổ bên tai làm cả nhà tôi bàng hoàng. Không ai bảo ai đều giật mình thức giấc rồi chạy ào xuống nhà núp dưới chân cầu thang. Tiếng súng nổ gần quá, tôi nghe cả tiếng hô hoán: “Tiến lên!” giọng Bắc rặc của một người chỉ huy nào đó. Trời! Không lẽ mặt trận đang diễn ra trong thành phố? Tim tôi đập loạn xạ, dù mồ hôi vã ra, răng tôi vẫn đánh bò cạp. Tôi rúc vào lòng năm chị em gái và ba má của tôi. Tiếng khóc thút thít vì sợ hãi muốn oà ra nhưng tôi cố dằn lòng sợ địch quân nghe thấy. Ầm! Một trái pháo kích rớt trúng nhà phía sau của tôi. Ngói bể rơi loảng xoảng, khói đạn bay mịt mù. Tôi chỉ kịp thét lên, ôm cứng lấy má tôi, hồn như bay khỏi xác. Đó là năm Mậu Thân 1968, lúc tôi 14 tuổi.
27/10/2011(Xem: 31885)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 26570)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 10903)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6363)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4425)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 5259)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4959)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4514)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.