Xuân Viên

25/12/201011:39(Xem: 5495)
Xuân Viên



Co_Xuan_Vien

Chúng ta,
 những người bỏ xứ ra đi, đã quay lưng với cổng trường ngày cũ, nhưng lòng vẫn còn tưởng nhớ đến những hình ảnh thân yêu của bạn bè ngày nào! Vẫn mong ước ngày trở lại để tìm kiếm ký ức thầm kín ngày xưa, để được nhìn gặp những người ở lại của thuở ấy, nhưng những người ở lại có còn gì nữa đâu? Đói khổ đã làm mòn mỏi thêm cuộc sống, tất cả chỉ còn biết đem hơi sức bám vào nhịp thở, sống cho qua chuỗi ngày còn lại.
Tôi quen chị Xuân Viên khi được đổi về trường Sương Nguyệt Anh (SNA). Hình ảnh một con người tuy nhỏ bé nhưng lúc nào cũng đầy nghị lực đã đập vào mắt tôi và dần dần từ chỗ quen biết, chúng tôi đã thương mến nhau từ lúc nào cũng không hay nữa!



Nói đến chị, phải nói đến một con người mẫu mực, một cô giáo hoàn toàn gương mẫu đúng phong cách một nhà giáo đầy đạo đức. Đó là người mà tôi mến phục nhất và lúc nào cũng chiếm trọn trong tôi một niềm thương yêu trìu mến và bất tận.

Giao cho chị phụ trách làm giáo sư hướng dẫn một lớp nào, coi như nhà trường khỏi phải lo lắng gì về lớp đó nữa. Từ sổ sách cho đến tập vở, tất cả đều trình bày mạch lạc, trang trí đẹp vô cùng. Chị đã để hết tâm trí mình vào công tác giáo dục mà không biết mệt mỏi, cuộc đời chị sinh ra như để dâng hiến hết cho học đường.

Một lần chị làm Chủ tịch Hội đồng thi tại trường SNA, một người bạn đã hỏi tôi:

- Con người xinh đẹp vậy mà sao không chịu lấy chồng?

Làm sao tôi trả lời được khi cuộc sống nào cũng có những tâm tư thầm kín riêng của nó. Mà thật thế, con người tuy nhỏ nhắn nhưng khuôn mặt rất xinh, đã từng đi tu nghiệp ở Pháp về, tài năng đầy đủ nhưng chị vẫn sống khép kín một mình, âm thầm một bóng trên lối đi và lối về.

Sau 1975, với bao sầu muộn trước thời cuộc chồng chất, với những khó khăn về kinh tế, tôi thấy chị mệt mỏi nhiều. Chị sống với gia đình một người em cũng là giáo viên, cư ngụ ở một con hẻm đường Trương Minh Giảng, sau lưng trường Đại Học Vạn Hạnh. Với chiếc xe đạp mini hai bánh nhỏ xíu, ngày ngày leo hết con dốc của cầu Trương Minh Giảng cũng đủ mệt bở hơi tai rồi. Vậy mà chị còn dạy thêm ở trung tâm đêm Lê Hồng Phong nữa. Đêm đêm nhìn con người nhỏ bé đó đạp xe lọc cọc cho đến nhà, lòng tôi xót xa quá mà số tiền kiếm được có là bao! Đã thế chị đâu có ở yên được trong căn nhà đó, chủ nhà không muốn cho thuê nữa nên đã tìm đủ mọi cách để đuổi đi. Nhớ một lần tôi đến thăm chị, chưa kịp dựng chiếc xe trước sân, chị đã tất tả chạy ra bảo tôi phải đem luôn chiếc xe vào nhà kẻo chủ ở trên gác sẽ dội nước xuống. Cuộc sống của chị là thế, người ta đối xử tàn tệ như vậy mà phải cắn răng chịu đựng, nếu không thì dọn nhà đi đâu bây giờ?

Dần dà với thời gian, không chịu đựng nổi chị đã ngã gục và phải vào bệnh viện. Chúng tôi rất buồn và lo lắng cho chị vô cùng, nếu chị phải từ giã nhà trường cũng giống như ca sĩ phải ngưng tiếng hát, cuộc đời chị sẽ buồn tẻ biết bao và chị sẽ sống ra sao?

Cũng may chị đã bình phục lần lần nhưng không còn phong độ như xưa nữa, không còn một Xuân Viên đầy duyên dáng và linh động mà là một con người gầy rạc đi, ai thấy cũng phải xót xa ái ngại!

Tôi ra đi, chị buồn nhiều vì đã mất đi một người bạn; riêng tôi cũng không khỏi ân hận là vì hoàn cảnh mà phải lặng lẽ ra đi, không từ giã được chị dù chỉ một lời. Tuy vậy, tôi vẫn không quên chị và tình cảm tôi dành cho chị vẫn không phôi pha với thời gian.

Một hôm, vừa bước chân ra cửa, tôi nhận được thư từ bên nhà. Ra đến bến xe, dù trời đang đổ tuyết, tôi vội vã bóc thư ra đọc. Một niềm xúc động dâng lên ngập tràn làm tôi muốn khóc khi hay tin chị đã xuất gia. Suốt ngày hôm đó tôi cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn không tin là sự thật – dù con đường chị đã chọn rất có ý nghĩa nhưng sao tôi vẫn bàng hoàng! Thì ra chị đã dọn trước cho mình một con đường thanh thản của những ngày xế bóng sắp đến.

Cha mẹ không còn, một người chị đã có gia đình sống đời công nhân viên cũng chẳng khá gì, em trai bị "hy sinh vì nghĩa vụ quân sự" ở chiến trường Kampuchia; người em gái mà chị đang tá túc hoàn cảnh lại càng bi thương hơn nữa. Chồng cô ta bị mù, tiền lương ba đồng ba cọc của một giáo viên tiểu học làm sao nuôi nổi một ông chồng mù và hai đứa con. Anh ấy bị bắt chỉ vì hoạt động quá hăng say cho Gia Đình Phật Tử, Cộng sản không chấp nhận, nghi ngờ tất cả và bắt giam. Sau đó anh đã ra tù với một thân xác tàn tạ, đôi mắt không còn thấy ánh sáng nữa.

Tôi không nghĩ cuộc sống thực tế quá thê thảm đã làm cho chị không còn vui thích nữa, cũng không còn gì phấn khởi để chân chị bước tới, theo cách nói thông thường. Mà với tôi, chị là một Phật tử thuần thành đầy nghị lực và giàu niềm tin vào Tam Bảo. Những lúc rảnh rỗi chị thường say sưa giảng cho tôi nghe những lời Phật dạy. Và giống như chị, tôi tin Phật Pháp nhiệm mầu, lòng từ bi và cứu độ của Bồ Tát Quán Thế Âm có thể hóa giải tất cả mọi chướng duyên của cuộc đời. Có những khi chúng tôi ngồi hằng giờ bên nhau, chia xẻ cho nhau những hiểu biết và linh nghiệm của riêng mình về hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm, vị Bồ Tát của tình thương mà chúng tôi học được từ những buổi nghe giảng của Chư Tôn Đức.

Chị thường nhắc lại lời Phật dạy, chúng ta ai cũng có khả năng thành Phật, chỉ tại vô minh che lấp Phật tánh mà thôi. Chúng ta đều đã biết thế nhưng vẫn thường dễ dãi với mình để ngày tháng trôi qua trong vô ích. Chỉ lỡ vài nhịp thở mong manh thôi là chúng ta không còn khả năng „Thời thời cần phất thức. Vật sử nhạ trần ai“ như lời khuyên của Ngài Thần Tú nói chi đến gạn sạch vô minh mà nhận ra „Bản lai vô nhất vật. Hà xứ nhạ trần ai! Như Ngài Lục Tổ Huệ Năng (chơn như Phật tánh vốn sáng suốt, không cần phải gọt rửa).

Từ chị, tôi được biết thêm rằng Bồ Tát Quán Thế Âm là một Cổ Phật. Tuy Ngài đã thành Phật từ xa xưa nhưng bây giờ và mãi mãi hiện thân Bồ Tát để lắng nghe tiếng kêu thương của chúng sanh. Nơi nào có tiếng kêu thương, nơi đó có hóa thân của Ngài thị hiện, tình thương Ngài dành cho chúng sanh như người mẹ hiền thương đàn con dại. Chị có một quan niệm rất đặc biệt, hơn một lần, tôi ngơ ngác trước tâm linh và kiến thức của chị khi chị say sưa giảng giải:

„Bồ Tát Quán Thế Âm phát nguyện độ chúng sanh. Lúc nào Ngài cũng là người ban cho, chúng ta là kẻ thọ nhận năng lượng của Ngài như ánh trăng thu vằng vặc chiếu sáng một bầu không gian rộng lớn bao la, chúng ta là mặt nước ao, hồ, sông, biển. Chừng nào mặt nước bình lặng, chừng ấy năng lượng của ánh sáng được phản chiếu cao nhất“.

Chị còn giảng thêm rằng:

„Chúng ta đã từng nhận sự gia hộ của Bồ Tát Quán Thế Âm để sống và tu, nhưng không thế nào mãi thọ nhận. Chúng ta phải là một cánh tay, một con mắt của Ngài để cùng Ngài hóa độ và cứu giúp chúng sanh, trước là đền đáp ân đức cao dày của Ngài, sau là kết thiện duyên với tất cả chúng sanh. Dù chưa phải là Phật, là Bồ Tát nhưng phát nguyện đem thân này, lời nói này và sự suy nghĩ này làm hóa thân của Bồ Tát để cứu giúp chúng sanh“.

Chị là thế đấy! Cuộc đời như dòng sông trôi mãi trôi mãi. Trên dòng sông ấy, có những bãi cát dài thầm lặng nằm dọc hai bên bờ, có những tảng đá khổng lồ dám ngăn dòng nước tạo nên thác ghềnh thơ mộng, có những viên sỏi dễ thương chìm trong đáy nước long lanh màu trời, có những chiếc lá lênh đênh thong thả xuôi dòng nhưng cũng có những chiếc thuyền nhẹ nhàng ngày ngày đưa khách sang sông. Chị và tôi như hai nhân tố hiện hữu trong cuộc đời này nhưng con đường chị đi tràn đầy ý nghĩa hơn tôi nhiều.

Bên chị, tôi đã học hỏi được rất nhiều điều về quan niệm cuộc sống. Những lúc buồn phiền vì những điều không vừa ý, tôi nhớ đến chị thường hay mượn lời của Helen Keller, một nhà văn Pháp, khuyên tôi nên suy ngẫm thế nào là hạnh phúc:

J’ai pleuré parce que je n’avais pas de souliers jusqu’au jour où j’ai vue quelqu’un, qui n’avait pas de pieds“.

Xin tạm dịch:

Tôi đã khóc vì không có giày để mang, cho đến một ngày tôi nhìn thấy một người không có chân” !

 

Tôi đã nhận được thư chị, sau khi nhờ bạn bè chuyển về biếu chị một ít tiền. Chị đã viết: “Rất cảm động khi ở nơi thâm sơn cùng cốc này mà vẫn còn có người nhớ đến mình. Mình ở đây thân tâm an lạc”. Tuy vậy, khi đọc đến hàng chữ “Mình bây giờ là Thuần Tánh đấy nhé, Xuân Viên là dĩ vãng rồi!” mà bâng khuâng cả tấc lòng!

 

Cô Thuần Tánh ơi!

Cô đã chọn con đường giải thoát để mà đi, bỏ lại đằng sau tất cả ưu tư phiền muộn của cuộc đời. Cô đã thắp sáng cho mình một miềm tin, một ngọn lửa  tin yêu thuần khiết như phiến gỗ nâu chắc để mãi mãi lớp than hồng vẫn còn bùng cháy đủ sưởi ấm Cô trong những ngày khoác áo nâu sồng nương thân nơi cửa Phật.

Từ nơi xa xôi này, xin gởi đến Cô lòng mến phục vô biên và niềm thương yêu trìu mến của một người em, một người bạn đã từng chia xẻ ngọt bùi cùng Cô dưới mái trường SNA thân yêu ngày nào.

 

● Nguyên Hạnh HTD

(Mùa Vía Đức Phật Quán Thế Âm)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/01/2018(Xem: 16186)
Hồi còn tại thế xưa kia Trên đường giáo hóa Phật đi qua làng Ngài đi cùng ông A Nan Khai tâm gieo ánh đạo vàng giúp dân. Đang đi ngài bỗng dừng chân Bước quanh lối khác có phần xa thêm Ông A Nan rất ngạc nhiên Vội lên tiếng hỏi. Phật liền giảng ra: "Này A Nan phía trước ta Có quân giặc cướp thật là hiểm nguy Sau ta ba kẻ đang đi Gặp quân giặc đó khó bề thoát qua!"
08/01/2018(Xem: 14770)
Ở bên Ấn Độ thuở xưa Nơi thành Xá Vệ, buổi trưa một ngày Gia đình kia thật duyên may Phật thương hóa độ, dừng ngay tại nhà, Tiếc thay chồng vợ tỏ ra Tham lam, độc ác, xấu xa, hung tàn. Hóa thành một vị đạo nhân Phật đi khất thực dừng chân trước thềm Ôm bình bát, đứng trang nghiêm, Anh chồng đi vắng, vợ liền nhảy ra Tay xua đuổi, miệng hét la
07/01/2018(Xem: 9697)
Sau mỗi lần có dịp viếng thăm các chứng tích như tượng đài, lăng mộ, viện bảo tàng, nhà lưu niệm, ..., của những nhân vật mà cuộc đời phần nào liên quan đến đời sống vật chất hay tinh thần, sự thịnh suy ,... của một nhóm người, một dân tộc, một vùng, một quốc gia,..., tôi ra về lòng những bâng khuâng với hai câu : Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ ? trong bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên.
21/12/2017(Xem: 5912)
Anh sinh ra và lớn lên ở miền gió cát khô nóng Phan Rang. Là một Phật tử thuần thành, lại được phước báu khi có đến hai người con trai xuất gia, nên nhân duyên đưa đẩy đã trở thành đạo hữu của tôi qua nhiều lần hội ngộ lạ lùng ở các thiền viện thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Kết tình đạo hữu với nhau đã gần mười năm rồi, mỗi lần gặp mặt, tôi và anh đều tay bắt mặt mừng, trò chuyện thân mật, nhưng người huyên thiên lúc đàm đạo là anh, còn tôi thì cứ chỉ biết gật gù, mỉm cười, họa hoằn lắm mới buông một đôi câu phụ họa. Anh quý mến tôi ở điểm đó.
15/12/2017(Xem: 12425)
Hương Lúa Chùa Quê" Bản Tình Ca Quê Hương của nhị vị Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và Thích Như Điển. Sau khi đọc tác phẩm “Hương Lúa Chùa Quê” chúng con không dám mong ước giới thiệu sự nghiệp văn học, văn hóa cả đạo lẫn đời của nhị vị Hòa Thượng. Vì công trình tạo dựng sự nghiệp của các bậc xuất sĩ không nằm trong “nguồn văn chương sáng tác”. Vì xuyên qua mấy chục năm hành đạo và giúp đời, nhị vị đã xây dựng nhiều cơ sở Phật giáo đồ sộ trên nhiều quốc độ khác nhau như: chùa Pháp Bảo tại nước Úc; chùa Viên Giác và Tu viện Viên Đức tại nước Đức. Nhị vị cũng đã mang ánh Đạo vàng đến khắp muôn nơi, soi sáng cho bước chân “người cùng tử” được trở về dưới mái nhà xưa, để thấy lại “bóng hình chân nguyên”; dẫn đường cho những người chưa thể “tự mình thắp đuốc lên mà đi” được tìm lại “bản lai diện mục”. Đó mới gọi là “sự nghiệp” của bậc xuât sĩ. Điều nầy đã có lịch sử ghi nhận từ mạch nguồn công đức biểu hiện và lưu truyền.
15/12/2017(Xem: 128787)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.
29/11/2017(Xem: 8781)
Trong loạt bài Kể Chuyện Đường Xa lần này, người viết đặt thêm tên cho mục này Vòng Quanh Thế Giới, để có cùng tên với loạt phóng sự sẽ đưa lên tvtsonline.com.au với nhạc hiệu mở đầu của bài “Vòng quanh thế giới” người viết sáng tác gần bốn thập niên trước đây. Từ năm 1990, chúng tôi đã bắt đầu viết bút ký với chuyến đi Bangkok (Thái Lan) và loạt bài cuối cùng là chuyến du lịch Âu Châu vào năm 2015.
27/11/2017(Xem: 7277)
Nếu chấp nhận thuyết nhân duyên của Đạo Phật thì có thể dễ dàng, giải thích cho mọi tình huống và mọi sự việc xảy ra trong cuộc đời nầy. Nhân duyên hay duyên sanh cũng tương tự với nhau. Đó là: „Cái nầy có cho nên cái kia có; cái nầy sanh cho nên cái kia sanh. Cái nầy diệt, cho nên cái kia cũng diệt theo“. Không ai trong chúng ta có thể biết trước được việc gì sẽ xảy đến cho mình về sau nầy cả; dầu cho chúng ta có cố gắng làm mọi việc tốt đẹp trong hiện tại; nhưng dư báo trong quá khứ, ai biết được thiện, ác còn lại bao nhiêu mà lường được. Chỉ khi nào nắp quan tài đậy lại trong kiếp nầy, thì lúc ấy ta mới biết được cái quả trong hiện tại là cái nhân như thế nào mà trong quá khứ của chúng ta đã gây ra và chính cái quả của ngày hôm nay sẽ là cái nhân cho ngày sau nữa.
01/11/2017(Xem: 6766)
Hôm nay ngày 1.11 tôi viết bài này chỉ nhằm kể một câu chuyện thực tế lịch sử; vì đâu, nguyên nhân, tôi xin miễn đào sâu vì cũng không có đủ hiểu biết, thời gian và cũng không phải mục đích tôi muốn chia sẻ ở đây! Ba mẹ tôi đều sinh ra và lớn lên tại Huế, học xong tú tài ở trường Khải Định năm 1955 (tên lúc bấy giờ của trường Quốc Học Huế). Giai đoạn đó đất nước vừa chia đôi, TT Ngô Đình Diệm vừa chấp chính. Ông Diệm xuất thân từ gia đình quan lại, bản thân ông cũng từng đỗ đạt ra làm thượng thư như cha của ông là Ngô Đình Khả, anh là Ngô Đình Khôi, nên rất trọng bằng cấp, học vấn như lối suy nghĩ của tầng lớp trí thức nho học thời bấy giờ. Vì vậy ông Diệm rất ưu tiên cho ngành giáo dục, đặc biệt trong giai đoạn sau 1954 khi người Pháp rời khỏi VN, cần xây dựng một nền giáo dục bản xứ thay thế cho nền giáo dục thuộc địa của Pháp.
19/10/2017(Xem: 21944)
Truyện thơ: Hoàng Tử Khéo Nói và Con Thủy Quái, (thi hóa, phỏng dịch theo bản văn xuôi PRINCE GOODSPEAKER AND THE WATER DEMON của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson) , Ngày xưa có một ông vua Trị vì đất nước rất ư công bằng Cạnh bên hoàng hậu đoan trang Vua yêu, vua quý, chứa chan hương tình. Thế rồi hoàng hậu hạ sinh Một trai kháu khỉnh đẹp xinh vô cùng Nhà vua sung sướng vui mừng Nghĩ suy chọn lựa tìm đường đặt tên Mong cho con lúc lớn lên Vẻ vang ngôi vị, êm đềm tương lai Vua bèn đặt tên con trai Hoàng tử Khéo Nói, nhiều tài mai sau.