Câu chuyện cái tơi

24/12/201005:02(Xem: 9008)
Câu chuyện cái tơi

  cai_toi

      Từ ngày định cư ở một xứ hiếm mưa, lắm lúc tôi tưởng chừng như không còn nhớ nhiều đến những cơn mưa vùng nhiệt đới; mưa quê hương, nhất là những cơn mưa dai dẳng của một xứ "mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu ăn", mưa xứ Huế!

      Nhưng không, chiều nay nhìn học sinh tan học ra về trong cơn mưa, bao kỷ niệm của quê hương mưa dầm, trong đó cái tơi là một dấu ấn đậm đà nhất, đã đưa tâm hồn tôi vượt thời gian, vượt biển cả về với quê hương, về tận miền Trung mà đặc trưng là xứ Huế thân yêu; rồi thơ thẩn đậu lại trong sân trường Đồng Khánh, nơi tôi đã được lớn lên, được đào luyện, được phục vụ trong gần hết cả cuộc đời giữa bao hàng Phượng vỹ.

      Những em bé tan trường như những chú chim non đi ngang qua nhà tôi hôm nay với đầy đủ phương tiện văn minh chống mưa, chống rét, khiến tôi chợt se thắt nghĩ đến kỷ niệm của chính tôi trong chiến tranh với phương tiện che mưa duy nhất thật thô sơ lúc bấy giờ là "cái tơi“ phụ kèm cái nón.

      Tơi - nón là một cặp. Cái tơi không thể không đi chung với cái nón. Nhưng nón được dùng quanh năm, gặp thời tiết đẹp, nón được dịp phô trương vẻ nên thơ của nó; cho nên văn nhân thi sĩ không hề tiếc bút mực để ca tụng vẻ đẹp của cái nón, nhất là chiếc nón bài thơ, lại là chiếc nón bài thơ của miền sông Hương núi Ngự!

      Còn cái tơi, bản chất nó đã chìm sâu vào dĩ vãng mà vang bóng của nó cũng không hề lưu lại trong văn chương ít nhiều. Cái tơi là tiền thân của áo mưa hiện tại, là vật dụng che mưa của người Việt Nam từ nửa thế kỷ 20 về trước.

      Tơi được làm từ lá một loại cây Palm vùng nhiệt đới. Lá tơi được chằm lại với nhau, lớp nọ được bẻ chồng lên lớp kia thành một tấm lá dày hình chữ nhật. Cạnh ngang trên được xâu thành vai và cổ, có một sợi dây cột lại thành cổ tơi. Phần dưới lá được cắt phẳng và được rút lại thành chân tơi.

      Mang tơi là chui qua đầu, cái tơi được phủ từ vai xuống trở thành gần như diện tích một hình lăng trụ bao quanh người, dài gần tới mắt cá.

      Người mang tơi xa trông như một chú Pinguin! Tùy hướng mưa hướng gió, người mang tơi xoay mép tơi quanh mình sao cho khỏi ướt. Nếu như nón có nhiều kiểu nhiều tên kiêu sa như nón bài thơ, nón gò găng, nón tam giang, nón thượng.... thì cái tơi, hình thái giản dị mà cái tên cũng gần gũi, bình dân như tơi cá, tơi đọt, tơi cánh gà...

      Vật liệu để chằm Tơi cá là lá tơi già. Màu xanh đậm của lá phơi khô trở thành xám bầm bạc bạc. Tơi cá vừa rẻ vừa tiện, rất thích hợp cho đa số người bình dân trong mùa mưa gió.

      Sang hơn, bền hơn mà cũng ấm áp hơn thì có Tơi đọt. Tơi đọt làm bằng lá tơi non màu trắng ngà, phơi được nắng thì có màu vàng cam non, dở nắng thì ngả sang màu vàng nâu sẫm. Lá khô được ủi thẳng có hình như bàn tay xòe ra mà các ngón tay là đuôi lá mềm mềm, nhọn nhọn. Vai tơi đọt vừa rộng vừa ngang chứ không xệ xuôi như tơi cá.

       So với những vật dụng che mưa ngày càng tiến bộ, cái tơi quả có nhiều bất tiện, thua kém. Nhưng bộ máy chọn lọc nhiệm mầu của ký ức sao chỉ còn để lại trong tôi những kỷ niệm vặt vãnh, dễ thương gắn liền với cái tơi trên những bước đường đi học của thời thơ ấu.

      Nhớ lại cái mưa dầm của xứ Huế, mưa dai dễ sợ, lạnh dễ sợ... mà gió cũng dễ sợ! Đoạn đường dài đi bộ dưới mưa từ Thành Nội qua trường Đồng Khánh lại phải qua cầu Tràng Tiền "dài" lê thê! Nhưng cảm giác còn lại trong tôi chỉ là sự ấm áp, cái ấm áp của một đứa bé được che mưa trốn gió trong chiếc tơi dày nhất là khi được lúc thúc đi trong cái tơi với một bọc bắp rang đầy trong túi áo và bất chợt một đôi khi là sự nao nao se thắt!

      Cái tơi đầu tiên trong đời tôi thật nhiều kỷ niệm gắn liền với trường Đồng Khánh. Mùa khai giảng, cô tôi đã dắt tôi ra chợ Đông Ba mua một cái tơi và một cái nón. Cô cẩn thận dắt tôi theo để đo cho vừa. Cái tơi cô mua cho là một cái tơi cá. Cô lựa kỹ để chọn cái có lá sáng hơn một chút, cô trải bề trái cái tơi, rờ rờ từng đường chỉ, nắn vòng vai coi có chắc không, rồi ướm vào thân hình tôi xem có vừa không? Xong cái tơi vừa ý, cô mua thêm cái nón mười lăm vành và nài thêm một cái dải nón. Cô chụp cái nón lên đầu tôi trong bộ tơi nón mới rồi gõ gõ trên nón cười: " Ngó như tai nấm! "

      Ra khỏi chợ Đông Ba một lúc, trời đang tạnh bỗng rỉ rả mưa. Tôi kéo cô núp dưới mái hiên tiệm ăn Quốc-tế cho đỡ ướt bộ tơi nón mà tôi muốn dành trọn vẹn cho ngày mai. Cô tôi không ngạc nhiên trước ý tưởng ngây ngô ấy, chỉ chép miệng:" Hùm! giữ được hoài răng, mưa Huế mà! "

      Hồi hộp chờ đợi ngày mai đến trường, tôi thức khuya, xếp vuốt chiếc áo bằng vải dù đen, cái quần trắng, mấy quyển vở với cán bút, cặp tơi nón mới cũng được chiếm một địa vị cao hơn nhà bếp, được móc lên cao như một chú bù nhìn. Mưa dầm gió bấc nhưng nép trong cái tơi cá với một bọc bắp rang, đôi chân bé nhỏ đã được đỡ lạnh bằng đôi guốc gỗ. Nhưng khi về nhà mới thấy nhức rát ở sau chân. Quay lại cúi nhìn thì hai nhượng chân đều đã chảy máu. Cái tơi cá mới với hàng lá rất sắc đã cứa chân tôi trong mỗi bước đi mà tôi không hay biết!

      Mùa đông năm ấy đánh dấu một chuỗi ngày mới của đời tôi. Cùng với cái tơi, tôi hãnh diện được chen chúc trong hàng ngũ của những nữ sinh Đồng Khánh mà nhiều người hằng mong ước. Tôi được vào lớp Đệ Thất B2, lớp lớn nhất trường lúc bấy giờ chỉ mới đến Đệ Tứ mà thôi.

      Đây là thời gian cam khổ, hàng nhập cảng chưa thông, hàng nylon chưa có; một số ít còn giữ được những cái áo tơi dầu dưới thời Pháp thuộc, ngoài ra là tơi cá và tơi đọt. Áo tơi dầu bấy giờ chưa gọi là cái áo mưa, là loại áo giống như áo manteau có hai mặt, mặt trong là vải dày như nỉ, mặt ngoài có phết lớp dầu màu đen. Loại áo này cũng sột soạt và kém chịu nắng. Hễ áo hơi cũ là mặt dầu rạn nứt làm cho áo dễ bị thấm nước mưa nhưng đó là loại sang nhất thời bấy giờ. Cả trường chỉ đếm được mấy áo của cô Hiệu trưởng và một số ít thầy cô. Đến Tết năm đó áo mưa nylon đầu tiên xuất hiện tại trường Đồng Khánh. Hai bạn trong lớp tôi được dì và chị từ Pháp gởi về cho hai áo mưa nylon đầu tiên tại trường và có lẽ cả trong thành phố Huế?

      Ngày đầu hai bạn mang tới, cả trường trố mắt đứng ngó theo. Xinh đẹp làm sao! một cái màu xanh, một cái màu đỏ, tươi thắm giữa lùm xùm những nón cùng tơi ủ dột ướt át. Lại còn cái mũ áo nữa, bạn kéo lên trùm đầu thay cái nón, đẹp đẽ gọn gàng chắc lại còn ấm đầu, ấm tai nữa(?) và văn minh ghê! Bước lên thềm, bạn cởi áo, chỉ cần rũ nước và xếp nhỏ lại cho vô hộc bàn; chắc chắn là nhiều người mơ ước lắm nhưng trong đó chưa có tôi! Niềm mơ ước của tôi chỉ mới dừng ngang cái tơi đọt mà chưa có, huống gì cái áo mưa tân tiến đó!

      Con đường đi học của tôi đã xa mà phải qua thêm một cây cầu nhiều gió. Hằng ngày vào giờ đi học cũng như vào giờ tan trường, học sinh Đồng Khánh nối nhau hàng một qua cầu. Trời nắng, áo trắng, nón trắng làm đẹp cầu bao nhiêu thì trời mưa, tơi cá, tơi đọt, nón xám đen trông ủ dột bấy nhiêu! Cái tơi quả có quá nhiều nhược điểm. Mang tơi cá mới, trước hết là phải chịu cảnh "lòng quê đi một bước đường một đau" cho đến khi cái chân tơi hết bén. Cái bất tiện hằng ngày cho học sinh chúng tôi là phải cất nón chào thầy cô khi đang mang tơi. Cái tơi được xoay mép theo chiều ngược gió, gặp thầy cô liền phải xoay lại ra trước để có thể thò tay ra đưa lên giở nón. Thật ra thì cũng không phải là giở hẳn, chỉ cần nhích nghiêng cái nón cho có điệu, cọng với cái cúi đầu và một ánh mắt thay lời chào là đủ.

      Nhưng chỉ trong tích tắc đó thôi, cũng đã đủ cho nước mưa hắt vào mép tơi ướt dọc thân mình, lại còn theo cổ mà chảy ròng qua vai, xuống tới nách, chảy suốt dọc theo cánh tay. Mưa Huế mà! Ướt và lạnh! Nhưng có ai bắt phải chào đâu? Các thầy cô cũng thông cảm nên có lẽ không ai muốn đối diện để bắt học sinh cất nón chào nhưng phần mình vẫn thích, vẫn cố tìm cách để chào. Được chào thầy cô, thấy vui vui, tâm trạng hay hay, một chút hãnh diện được làm học sinh Đồng Khánh!

      Mang tơi, dù phải đi vòng qua cầu, xa hơn nhiều, tôi chẳng dám qua đò Thừa Phủ, bởi cái tơi cá hoặc tơi đọt cứng ngắt, người ta không thể ngồi ở mép đò. Nhiều người đứng thì đò dễ mất thăng bằng nhất là khi gặp gió mạnh, những cái tơi trở thành vật cản gió, đò càng dễ lật. Chìm đò với cái tơi cột quanh cổ thì chỉ có nước làm bạn với thủy tề mà thôi!

      Tuy nhiên, muốn thấy được cái ưu điểm lớn nhất của cái tơi, tưởng cũng nên quay về nơi thôn dã. Đối với người nông phu làm việc giữa ruộng đồng nhất là những người đi cấy lúa, đi nhổ cỏ, với cái thế của con người chồm bò trên ruộng mạ, cái tơi có tác dụng như một cái mền cứng phủ xuôi trên lưng, vừa ấm, vừa ngăn được mưa, chắn được gió mà không làm trở ngại phần đầu phải cúi xuống, cũng như không vướng bận đôi tay thoăn thoắt làm việc. Trường hợp này tơi cá lại tiện dụng hơn tơi đọt vì ít cứng hơn và mép tơi mở rộng hơn.

      Cái tơi còn một biến thể khác thích hợp cho những người lao động mà đôi tay cần di chuyển như kéo xe, chèo đò gọi là "tơi cánh gà". Tơi này gồm hai phần trên dưới nối lại với nhau, có hai chỗ hở cho đôi tay thò ra, hai tay được che bằng hai mảnh tơi xòe ra như hai cánh gà. Đối với tất cả các nghề lao động nói trên làm việc không kể mưa rét, cái tơi quả có đem lại ấm áp hơn là áo nylon sau này. Chả thế mà người phụ nữ nông thôn khi lo lắng cho chồng làm việc dưới mưa dầm gió bấc đã gởi gắm được chút tin cậy vào cái tơi:

                          Trời mưa thì mặc trời mưa

                          Chồng tôi đi bừa đã có cái tơi.

                                                     (ca dao)

      Không hiểu có phải riêng tôi vì cảm tình, kỷ niệm chi phối cách nhìn mà hình ảnh "cái tơi" trở về trong ký ức của tôi cũng quyện lẫn với bao nhiêu hương vị ngọt ngào của kỷ niệm, bàng bạc giữa mùi thơm ấm áp của bắp rang, đậu phụng, bánh mì...

      Đêm đông giá buốt ngồi học khuya, nghe tiếng rao lanh lảnh "ai ăn bánh mì không?" sẽ nghe được cả mùi thơm của bánh mì thoang thoảng từ xa ngoài đường cái. Tôi rã rũ mấy quyển vở cầu may có khi rụng ra một đồng do nhịn tiền đò ngang hôm trước. Chú bé bước vào với cái tơi cá nằm nghiêng che gọn bao bố đựng bánh mì hơn là che người. Chú bê bao mì đặt trên bực thềm và hắt cái tơi ra, mùi thơm tỏa lên ngọt ngào chi lạ! Bánh mì ủ trong mấy lần bao bố cũng được "mang tơi" cẩn thận, vẫn nóng, vẫn giòn và thơm ngon dễ sợ!

      Thế hệ trẻ ngày nay, thức ăn dư thừa không thể nào cảm nhận được những cảm giác đó. Những cảm giác bắt nguồn từ vị giác, khứu giác thẩm thấu vào ruột gan rồi xuyên qua tim, suốt não và đọng lại trong vòng lưu trữ của kỷ niệm mà theo đó, hình ảnh cái tơi cũng dập dềnh như những nét chấm phá của bức tranh xưa.

      Mùa mưa năm sau nữa, tôi cũng được thăng hoa. Băng qua giai cấp tơi đọt mà tôi từng mơ ước, tôi nay đã súng sính trong chiếc áo mưa nylon màu xanh da trời. Áo mưa vừa tiện lợi vừa đẹp đẽ nhưng mỗi lúc qua cầu lạnh gió, nhất là những lúc mà hàng khuy nút dẫn nước mưa chui tuột vào đẫm ướt thân hình, tôi bỗng lại thấy thích nhớ cái tơi ấm áp ngày nào!

      Thực tế thì cũng tùy vùng, tùy lúc, cái tơi cũng vẫn còn xuất hiện rải rác ở các địa phương hẻo lánh, xa hẳn ánh sáng thị thành. Đôi lúc qua những vùng đó, bất chợt tôi còn thấy lại những cái tơi lá hoặc hơn nữa là những cái tơi làm bằng bao cát nylon phế thải từ những đồn bót điêu tàn, tôi xót thương cuộc sống vẫn còn khổ nghèo, lạc hậu dai dẳng của đồng bào tôi.

      Cái tơi cá, tơi đọt, cái áo dầu đã theo luật tiến hóa của xã hội mà biến dạng chuyển mình, lớp sau đẩy lớp trước cùng lùi dần vào dĩ vãng. Vật thể tiêu biến nhưng hình ảnh tồn tại, cho dù hình ảnh có nhạt nhòa nhưng kỷ niệm vẫn khắc ghi đậm sâu mãi trong lòng!

      Nắng cháy mưa tuôn mà có được chiếc tơi, chiếc nón đúng lúc, thiết thực và thân thương biết chừng nào tinh thần lá lành đùm lá rách.

      Ngày nay, sau nửa trái đất xa xôi vạn dặm, sau nửa thế kỷ dài, cô bé với chiếc tơi cá đứng dưới gốc cây phượng già trong sân trường ngày xưa vẫn còn quanh quẩn với bao hàng cây phượng vỹ đang cố nở hoa trên xứ người (nhóm Phượng Vỹ - Houston) gởi mến thương theo từng cánh hoa học trò đang bay về quê cũ, mong biến thành những chiếc nón, chiếc tơi đến với những đồng nghiệp đang còn cơ cực trong những lúc nắng lửa mưa dầm.

 

                        Chiếc tơi hoài niệm mà thương,

                        Cho nhau ấm áp để vương nhớ hoài!

 

      Còn chiếc áo tơi thật sự qua bao thế hệ đã phôi pha theo đà tiến hóa. Nó cũng cùng chung số phận như "Ông Đồ" qua bài thơ nổi tiếng của Vũ đình Liên:

                             ....

                            Ông Đồ vẫn ngồi đó,

                            Bên đường không ai hay.

                             ....

      Đã đi vào quên lãng. Nhưng chiếc áo tơi của một thời thể hiện nếp sống sinh hoạt của người dân Việt xưa trong bối cảnh còn lạc hậu, nông nghiệp là chính. Tuy vị trí của nó không sâu đậm như chiếc áo dài quốc hồn, quốc túy hay chiếc nón lá vẫn còn tồn tại đến bây giờ nhưng nó cũng là một hình ảnh rất gần gũi, thân thương của người dân nghèo và bàng bạc đậm nét quê hương.

      Rất tiếc còn lại chăng chỉ là trong ký ức!!

 

                                                                              Viết để nhớ lại những ngày ấu thơ

                                                                                            Tháng 2/2014

                                                                                          Nguyên Hạnh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/08/2016(Xem: 5473)
Nó không biết chính xác năm nay mình bao nhiêu tuổi, chỉ nghe sư thầy nói nó ở chùa đã 12 năm với cái tên Quảng Chân Tâm. Tất cả những đứa trẻ ở chùa ngoài tên đời do cha mẹ đặt, sư thầy đều cho pháp danh với chữ Quảng đứng đầu.
03/08/2016(Xem: 43978)
Nhà thơ triết gia Phạm Công Thiện [1941 - 2011] qua đời năm 2011 tại Houston, nhưng chuyện kể, các bài viết về anh đã nhiều lầm lạc : Người viết : anh bỏ áo tu hành lấy cô vợ người Pháp, theo Thiên Chúa Giáo, kẻ khác viết : anh không hề có một mảnh bằng kể cả bằng tú tài mà dạy Triết Học Viện Đại học Sorbonne, mười lăm tuổi anh đọc và viết hàng chục ngôn ngữ, mười lăm tuổi anh dạy trung học, hai mươi tuổi anh là khoa trưởng khoa Khoa Học Nhân Văn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn, anh là triết gia không cần học một ai ? Dạy Triết học tại một Đại Học Pháp mà không cần một văn bằng nào ?
25/07/2016(Xem: 7197)
Người đàn bà đến bên cửa sổ ghé mắt nhìn ra ngoài trời. Qua lớp mưa mù dầy đặc trắng xoá ngoài kia bà chẳng nhìn thấy được gì ngoài những tia chớp xé toạt không gian kèm theo hàng loạt tiếng sấm như long lỡ đất trời. Thời tiết chiều nay quá xấu, xấu hơn người ta đã dự đoán và xấu hơn sự suy nghĩ của Quang, đứa con trai lớn của bà. Đã mấy tháng rồi nó mới có dịp bay về thăm bà vậy mà hôm nay trời lại mưa bão quá chừng! Trước khi lên máy bay nó còn gọi báo cho bà biết: - Bên đây thời tiết đẹp lắm má! Mong rằng khi con bay sang đến Cali thì trời quang mây tạnh, con sẽ chở má đi ăn và ở chơi với má đến tối mới về lại khách sạn.
06/07/2016(Xem: 12603)
Hôm nay là ngày 10 tháng 6 năm 2015, tại thư phòng chùa Viên Giác Hannover, Đức Quốc, tôi bắt đầu viết tác phẩm thứ 65 của mình với tựa đề là “Nước Úc trong tâm tôi” để sang năm 2016 sẽ xuất bản và ấn tống. Tác phẩm nầy được viết trong mùa An Cư Kiết Hạ lần thứ 31 của năm Ất Mùi, nghĩa là từ năm 1984 đến nay (2015) cứ mỗi năm ba tháng như vậy, Thầy trò chúng tôi có trọn vẹn 3 tháng an cư tại chùa Viên Giác thật là an lạc. Chương trình mỗi ngày được bắt đầu từ 5 giờ 45 sáng. Đại Chúng vân tập nơi Tổ Đường để xá Tổ, sau đó lên Chánh Điện, hô canh và tọa thiền 15 phút. Sau khi xả thiền, Đại Chúng bắt đầu trì tụng Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm, phần giữa của thời khóa có kinh hành niệm Phật ba vòng, tiếp đó lạy danh hiệu của chư Phật, Bồ Tát và Thánh Chúng độ 35 lạy. Sau thời công phu khuya ai về phòng nấy để nghỉ ngơi hay hành trì tiếp, hoặc tập thể dục. Đúng 8 giờ sáng là giờ điểm tâm của Đại Chúng, ai nấy đều tỉnh thức trong lúc dùng sáng, không nói chuyện, mà câu chuyện hằng ngày chỉ được
13/06/2016(Xem: 6683)
Hoa Lan nhất định không đầu hàng ngẩng mặt than thở: “Đời là bể khổ, tình là giây oan“ như cụ Tố Như đâu. Hoa Lan phải tâm tâm niệm niệm cột vào tâm câu Nhất thiết duy tâm tạo, khổ hay vui đều do cái đầu và bàn tay năm ngón của ta điều binh khiển tướng. Hoa Lan sẽ kể về nỗi khổ, niềm đau của thế gian trong trường thiên Tỵ Nạn Tình Duyên, một vấn nạn trong cuộc sống lứa đôi, trong vòng ái ân, sinh tử. Nỗi khổ chúng sanh chỉ cần khoanh vùng trong hai chữ tỵ nạn cũng đủ làm ta khiếp vía. Nào tỵ nạn cộng sản, con rơi của tỵ nạn chính trị, cháu rớt của tỵ nạn kinh tế, những đề tài ấy nhắc đến đã đủ ù tai hoa mắt và cũng chẳng phải là sở trường của mình, Hoa Lan sẽ kể về đề tài tỵ nạn tình duyên, nơi đã đi, đã đến và đã về.
01/06/2016(Xem: 20628)
Bài này được viết như một ghi chú cho Thiền Tông, để như một cách tiếp cận đơn giản… và hy vọng, cũng là một ghi chú cho rất nhiều pháp khác của nhà Phật, kể cả Tịnh Độ. Bởi vì, Thiền Tông là pháp môn cốt tủy nhất, trực tiếp nhất, không qua bất kỳ phương tiện nào khác, và cũng có thể dùng làm chiếc cửa lớn cho tất cả các pháp khác.
31/05/2016(Xem: 25367)
Chuyện xảy ra ở Việt Nam, nhưng lại bắt đầu từ bên Mỹ. Số là, vào khoảng thời gian năm 1956, có một kỹ sư Hoa Kỳ tên là Frank M.Balk. Chàng kỹ sư này suốt đời chẳng biết gì về cái xứ bé nhỏ xa xôi tận vùng Đông Nam Á tên gọi là Việt Nam cả.
27/05/2016(Xem: 9334)
Bao nhiêu năm ao ước cho đến hôm nay tôi mới có duyên lành được hành hương về Tây Trúc - Tây Trúc hay Thiên Trúc là tên gọi trước đây của xứ Ấn Độ. Trong phái đoàn tôi đi có nhóm Sợi Nắng và các Phật tử đến từ Canada cũng như Hoa Kỳ. Về chư Tăng thì có thầy Tánh Tuệ - nhà thơ Như Nhiên. Thầy là người từng sống và học tập ở Ấn Độ suốt bảy năm nên thầy nắm rất rõ về lịch sử, địa lý, phong tục tập quán... của người Ấn Độ. Cũng chính vì thâm niên như vậy nên nước da thầy rám nắng và người ta thường gọi thầy với cái tên rất gần gũi là "thầy cà-ri". Ngoài ra, phái đoàn còn có thêm sư cô An Phụng và sư cô Huệ Lạc
16/05/2016(Xem: 15512)
Phim Phật Giáo: Quan Âm Bán Cá
10/05/2016(Xem: 23029)
Hằng triệu dân Miền Nam nói chung trong các tôn giáo, nói riêng Quân, Cán Chính VNCH, (KiTô Giáo, Tam Giáo), tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương, đều thấy biết chốp bu (VIP) của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, đều là Tướng, Tá các cấp trong Tam giáo, do Đại Tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch có lời hiệu triệu kêu gọi toàn quân binh chủng tham gia Cách Mạng nhưng, những Tướng, Tá các cấp Cần Lao KiTô Giáo ngồi im và có hành động chống lại. Tức thì liền bị bắn chết ngay. Như Đại Tá Quyền (Cần Lao – Bộ Tư Lệnh Hải Quân) bị bắn chết trên xa lộ, do không tham gia, chống lại HĐQNCM. Nói rõ hơn, Tướng, Tá gốc Cần Lao Thiên Chúa không ai lên tiếng xin tham gia, đánh điện ủng hộ. Đến khi nghe ĐT Quyền bị bắn chết, liền gọi điện thoại, đánh công điện về Bộ Chỉ Huy Cách Mạng xin tham gia, nói lời ủng hộ. Nhưng, tất cả đều giả vờ, không thật lòng, là ý tưởng chung của các ông Cần Lao, họ đã hội kiến với nhau, với các giới KiTô trong nhà thờ, ngoài xóm đạo, là cứ giả theo, để rồi sau đó