9. Mong ước đầu Xuân

03/05/201311:17(Xem: 12367)
9. Mong ước đầu Xuân
Bằng Tất Cả Tấm Lòng


9. Mong Ước Đầu Xuân

Thích Chân Tính
Nguồn: Thích Chân Tính

Chỉ còn vài giờ đồng hồ nữa là bước qua năm Tân Mùi. Khắp nơi trong thành phố xe cộ và người qua lại tấp nập. Họ đang vội vã về nhà với những thứ bên mình như: Bánh mứt, trái cây, bông hoa... để chuẩn bị cho buổi lễ giao thừa sắp tới. Trước cửa nhà dọc theo phố chính, đèn hoa, chậu bông được trang hoàng với đủ loại màu sắc rực rỡ. Tiếng pháo đì đùng đã vang vọng đó đây. Không khí thật tươi vui nhộn nhịp.

Hòa cùng với niềm vui chung đó, tôi cũng đang trên đường về chùa với một cành mai vàng trên chiếc xe Honda. Đang miên man nghĩ đến giờ phút giao thừa tại chùa với quang cảnh Phật tử đi lễ Phật và hái lộc đầu năm, với những lời chúc tụng bên cạnh tách trà nóng thắm tình đạo vị, bỗng tôi bị cắt đứt dòng suy tưởng khi thấy xa xa phía trước xe có một bóng người đi ngược đường. Có một điều làm tôi chú ý là người ấy không đi đứng tự nhiên mà dường như là ngồi đi, khiến tôi nghi vấn không hiểu đây là người hay ma? Bởi vì suốt đoạn đường Tô Hiến Thành, từ ngã tư Lý Thường Kiệt đến ngã ba Nguyễn Tri Phương, không có ánh sáng đèn đường, mặc dù cột điện và bóng đèn đã có sẵn từ lâu. Tối nhất là khu đối diện doanh trại quân đội với Trường Đại học Bách Khoa. Do vậy ánh sáng đèn xe qua lại chập chờn, khi sáng khi mờ nên không thấy rõ là người hay ma. Nhưng tôi tin chắc không thể có ma xuất hiện giữa đường phố như vậy. Đây chỉ là người mà thôi. Tôi cố hướng ánh đèn xe của mình chiếu vào người ấy xem sao. Lúc này chiếc xe chỉ còn cách xa khoảng mười thước và tôi đã nhận ra đúng là người chứ không phải ma. Một người đàn ông đi bằng hai bàn tay của chính mình, vì hai chân đã bị cụt. Xe càng đến gần tôi càng nhận rõ gương mặt gầy xạm nắng của ông. Tuổi ông khoảng độ 50, mặc chiếc áo lính đã vá nhiều mảnh với chiếc quần đùi để lộ hai chân cụt ngủn phía trước, bên dưới mông có lót một miếng vỏ xe hơi. Trên vai ông đeo một chiếc túi đã cũ màu. Ông đi bằng cách chống hai tay xuống đất - dưới bàn tay có cột hai chiếc ghế con - rồi nhấc mình lên đằng trước. Cứ thế một thân một mình ông lê từng bước trên con đường đầy xe cộ qua lại, trước giờ phút vội vã của bao nhiêu người đang chuẩn bị đón mừng xuân mới. Tôi dừng xe bên cạnh ông, qua ánh đèn thấy mặt ông nhễ nhại những giọt mồ hôi. Tôi hỏi:

- Bác đi về đâu vậy?

Ngước nhìn tôi ông đáp:

- Tôi đi đến đầu đường Nguyễn Tri Phương.

Lúc ấy có chiếc xe xích lô chạy tới, tôi liền ngoắc lại. Mặc cả giá xong tôi trả tiền trước và nhờ anh xích lô đưa ông lên xe. Trong túi chỉ còn 2.000 đồng, tôi biếu ông luôn. Gương mặt ông rạng rỡ hẳn lên với lời cám ơn rất chân thành. Tôi muốn hỏi thăm và an ủi về cuộc đời bất hạnh của ông, nhưng vì trời đã tối, đường về chùa còn xa nên tôi đành phải tạm biệt ông.

Suốt chặng đường còn lại tôi không thiết nghĩ gì khác ngoài số phận của người tàn phế này. Chắc chắn khi sinh ra ông cũng đầy đủ chân tay như bao người khác. Và không khi nào ông nghĩ là cuộc đời mình sẽ bị cảnh tàn phế như vậy. Thế rồi vì chiến tranh, hay vì một lý do nào đó đã cướp đi một phần thân thể yêu quý của ông. Theo tôi đoán trong các lý do trên thì chiến tranh là phần đúng. Vì dấu tích nơi thân thể ông là một bằng chứng rõ rệt. Ai cũng công nhận và lên án chiến tranh là thảm họa và đau thương. Không một ai muốn cảnh tương tàn tương sát xảy ra giữa con người với nhau. Vậy mà tại vùng Vịnh ngày nay người ta lại đang tiến hành một cuộc chiến tranh khốc liệt. Ai đã gây nên cảnh máu đổ thịt rơi như thế? Ông trời hay con người? Rõ ràng chúng ta không thể đổ lỗi cho ông trời mà phải nhìn nhận một cách thực tế rằng chiến tranh là do con người gây ra. Mà tham, sân, si là đầu mối của bao tai họa trên quả đất này. Khi nào tham, sân, si còn khống chế sai sử con người thì cuộc đời này sẽ không bao giờ có hòa bình vĩnh cửu.

Tiếng pháo đã vang rền khắp nơi. Năm cũ đang đi qua và năm mới sắp đến. Trong khi chúng ta hân hoan đón mừng Xuân mới thì đó đây trên quả địa cầu này chiến tranh vẫn tiếp tục gieo rắc đau thương và cướp đi một phần thân thể của biết bao con người. Chúng ta hãy chắp tay cầu nguyện cho thế giới hòa bình, cho người người thương yêu nhau, cho tình thương xóa sạch hận thù. Để những mùa Xuân mới sẽ không còn thêm những người lê tấm thân tàn phế vì chiến tranh trên khắp nẻo đường quê hương đất nước.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30074)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25184)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9741)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5863)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4087)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4857)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4257)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4067)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15217)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5336)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.