2. Hồi chuông báo tử

03/05/201311:07(Xem: 12274)
2. Hồi chuông báo tử
Bằng Tất Cả Tấm Lòng


2. Hồi Chuông Báo Tử

Thích Chân Tính
Nguồn: Thích Chân Tính

Reng... Reng... Reng...

Đang chập chờn trong giấc ngủ mỏi mệt sau khi từ bệnh viện Chợ Rẫy trở về, chợt nghe tiếng chuông điện vang rền phía trước cửa chùa, tôi liền bật người ngồi dậy, linh tính báo cho biết một biến cố kinh hoàng sẽ xảy đến với mình.

Dòng ký ức...

Một hôm vừa đi học về đến cổng chùa, con liền nhận được lá thư ba gởi. Lòng hồi hộp, con bước vội vào phòng và bóc lá thư ra xem. Con lâng lâng sung sướng khi đọc từng dòng chữ yêu thương, từng ý nghĩ hướng thượng xuất trần của ba mà tưởng đó là một giấc mơ. Ba ơi! Đã từ lâu con hằng mong ước và khuyến khích ba hướng tâm về lý tưởng giải thoát, thế nhưng mọi sự cố gắng của con đều bất lực trước sức mạnh lợi danh cuộc đời. Hôm nay, bỗng nhận được tin ba quyết chí sẽ từ bỏ thế sự, nguyện sống đời phạm hạnh thiêng liêng. Con vui mừng cảm động biết bao. Nhưng...

Thời gian cứ âm thầm lặng lẽ trôi qua. Đã mấy mùa sen nở và bao cánh nhạn đưa thư, con chỉ nhận những lời hồi âm của ba với những từ ngữ “bận” “kẹt”, “chưa giải quyết xong”... Con rất thông cảm đợi chờ và luôn thúc giục ba hãy đại hùng đại lực cắt đứt trần duyên, dũng tiến bước lên con đường xuất gia giải thoát. Con vẫn hy vọng một ngày không xa, cha con ta sẽ sum họp dưới một mái chùa, cùng tắm mình trong ánh từ quang của Đức Phật, cùng khích lệ nhau đi suốt lộ trình giác ngộ tâm linh. Nhưng ba ơi! Chùm bọt trên biển cả ai hay phút giây tan vỡ? Dây đằng bên bờ sông ai biết lở lúc nào? Thân tứ đại sinh có hạn, tử vô kỳ biết đâu mà chờ với
đợi? Rồi, một hôm con bàng hoàng đau đớn khi nghe tin ba đau nặng, bệnh trạng mỗi lúc một trở nên nguy cấp. Ngày ba được chuyển lên bệnh viện Chợ Rẫy chữa trị, hai cha con chỉ còn hiểu nhau qua đôi mắt. Trong ánh mắt ba chứa đầy nuối tiếc; trong ánh mắt con tràn ngập đau thương. Ba nằm nhìn con chăm chú muốn tâm sự thật nhiều, nhưng không làm sao thốt được nên lời. Trong phút giây im lặng thiêng liêng này, con chợt nghe tiếng lòng của ba qua từng cơn nấc nhỏ, rồi từng giọt, từng giọt lệ tràn ra hố mắt, lăn dài trên gò má nhô xương. Con chết lặng cả người, cúi đầu nuốt lệ tôn trọng sự trở về thầm kín của ba mà trong lòng như đứt ruột xé gan.

Thế mà giờ này...
Reng... Reng... Reng...

Tôi bước vội ra mở cửa phòng và đoán được những gì đã xảy ra trong lúc ngoài trời còn đầy ánh sao khuya. Tôi đứng im lặng ngậm ngùi than cho lẽ sinh ly tử biệt, khi nghe tin người cha yêu quý đã ra đi không hẹn ngày trở lại.

“Ô hô! Tam thốn khí tại thiên ban dụng
Nhất đán vô thường vạn sự hưu” ([1])

Thấm thoát đã ba Thu trôi qua, cứ mỗi lần nghe tiếng chuông điện reo, tôi lại giật mình kinh hãi, nhớ đến biến cố đau thương nhất đời mình. Ôi! Tiếng chuông báo tử, tiếng chuông cắt đứt tình phụ tử thiêng liêng, tiếng chuông vang vọng cảnh tỉnh hồn ai đang còn đắm say trong mộng ảo ái hà, hãy mau mau:

Trần duyên sớm rũ lên thuyền giác
Nấn ná vô thường một kiếp qua.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30917)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25393)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9984)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6117)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4196)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4911)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4577)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4135)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15418)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5410)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.