5. Ðeo mắt kính

03/05/201311:13(Xem: 14262)
5. Ðeo mắt kính
Bằng Tất Cả Tấm Lòng


5. Đeo Mắt Kính

Thích Chân Tính
Nguồn: Thích Chân Tính

Nếu tôi không lầm, mắt kính được sáng chế ra nhằm mục đích giúp cho những người mà cặp mắt bị sự cố. Dần dần nó đã chuyển thành công cụ bảo vệ đôi mắt, rồi tiến đến tạo mốt cho gương mặt. Do vậy đã có bao nhiêu kiểu kính ra đời. Có những cặp tạo cho gương mặt thêm dễ thương, nhưng cũng không ít loại xem càng dị dạng. Nhìn một người đeo mắt kính, nếu không phải là cận thị, tôi đều nghĩ ngay anh hay chị đang làm duyên đây! Do đã có thành kiến như vậy nên việc đeo kính của tôi bây giờ chẳng dễ dàng chút nào.

Trong đợt hội diễn vòng sơ kết văn nghệ Phật giáo nghiệp dư, do Tổ công tác Văn hóa Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh tổ chức tại giảng đường chùa Xá Lợi, tôi phụ trách hướng dẫn nhóm Phật tử huyện Hóc Môn lên tham dự. Buổi chiều đi dự thì sáng hôm đó tôi bị đau mắt đỏ. Để khích lệ tinh thần các em Phật tử, mặc dù đau mắt tôi vẫn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tuy có người cho mượn mắt kính đeo để tránh gió bụi khi đi đường, tôi vẫn thấy ngài ngại và cầm nó trong tay nhiều hơn là đeo! Sau buổi hội diễn trở về chùa mắt tôi bị sưng đỏ lên. Các Phật tử đổ lỗi tại tôi không đeo kính, đi ra phố nhiều, tiếp xúc với nữ giới v.v... Để mau khỏi bệnh, từ hôm đó tôi tập đeo kính trước công chúng. Tuy việc đeo kính là do đau mắt chứ không phải làm duyên như tôi vẫn thường quan niệm trước đây, nhưng khi gặp ai tôi cũng giới thiệu cho họ biết trước là mình bị đau mắt đỏ!

Do Phật sự, tôi đi lại từ thành phố về Hóc Môn bằng xe Honda rất thường xuyên. Lần nào về đến chùa, mắt tôi cũng “sản xuất” ra hai cục bụi ghèn! Có hôm, tôi bị những con vật li ti bay vào mắt làm cay xé, không thể mở mắt ra được, tôi phải dừng xe lại dụi mắt, đợi cho êm êm mới dám đi tiếp. Từ những sự thật trên khiến tôi phải xét lại quan niệm xấu về việc đeo kính của mình trước đây. Và khi nhận rõ sự lợi ích của nó rồi, tôi mong mình có được cặp kính để đeo.

Quả là Trời cao có mắt. Lòng mong ước đã được cảm ứng. Một hôm, mở gói quà nhân dịp lễ Vu Lan, tôi ngạc nhiên khi thấy cặp kính trong đó. Lòng thầm vui, tôi cứ ngắm nhìn nó mãi.

Mặc dù đã biết rõ lợi ích của mắt kính rồi, nhưng cái tư tưởng đeo kính để làm duyên chưa bị “loại khỏi vòng chiến” hoàn toàn, nên tuy có kính trong tay tôi vẫn coi như là không. Một hôm tôi đánh bạo đem ra xài thử khi đang trên đường đi từ thành phố về Hóc Môn, nhưng chẳng đơn giản chút nào. Tôi phải giấu nó vào trong túi xách đợi đi cách thật xa chùa mới lấy ra đeo và khi về gần đến nơi lại tháo ra cất vào túi. Nhất là trong lúc đi đường tôi cảm thấy mất tự nhiên về cặp kính nơi gương mặt của mình. Mọi lần, có khi nào tôi quan tâm đến người đi đường đâu? Thế mà hôm nay tôi thấy dường như ai ai cũng nhìn tôi đến là lạ. Chẳng may gặp người quen là tôi tháo vội kính ra và giấu ngay lập tức.

Nghĩ cũng lạ, có những cái không ai chê trách, chẳng giới luật nào ngăn cấm, vậy mà chỉ vì một chút lo ngại cỏn con đã làm mất đi sự tự tại trong hành động. Thú thật, cái câu “Tâm vô quái ngại, vô quái ngại, cố vô hữu khủng bố” trong Kinh Bát Nhã tôi đã thuộc làu hơn mười mấy năm rồi. Ấy thế, cho đến nay tôi vẫn đọc như két chứ chưa ứng dụng trọn vẹn câu kinh ấy trong cuộc sống thường nhật của mình. Do vậy việc đeo mắt kính của tôi chẳng biết sẽ còn bị “khủng bố” đến bao giờ?
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30048)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25177)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9731)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5839)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4062)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4833)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4252)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4035)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15173)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5334)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.