Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Giải Nghĩa Đại Bi Sám Pháp

09/03/201919:02(Xem: 618)
Giải Nghĩa Đại Bi Sám Pháp

Quan Am Bo Tat Quang Duc

GIẢI NGHĨA ĐẠI BI SÁM PHÁP

Soạn dịch: Tỳ-kheo Thích Minh Kiết

 

Lời tựa

 

          Đại Bi sám là một trong các nghi sám hối nổi tiếng được sử dụng rộng rãi trong giới xuất gia và tại gia xưa kia cũng như hiện nay. Bản thân tôi cũng đã từ lâu thọ trì và cố công tìm hiểu ý nghĩa. Vì thấy công dụng của sám hối này rất cao, nên tôi cũng ngầm xiển dương, khuyến khích mọi người cùng thọ trì. Nhằm giúp cho mọi người hiểu rõ hơn về sám pháp này, tôi đã định chú giải nghĩa lý. Việc chưa khởi thì tôi có nhận một bản giảng giải Đại Bi sám photo với tựa là "Đại Bi sám danh tướng giảng nghĩa" Bản này không được rõ lắm và lại cũng khuyết danh tác giả soạn giải. Khi đọc, tôi nhận thấy tác giả phần nhiều dẫn Kinh Luận để chú giải, có tính xác thật rất cao, nên lấy bản này để dịch. Trong quá trình phiên dịch, tôi có thêm một vài ý cho rõ nghĩa, nhưng cũng không mất đi cái chân vị của nó.

Dịch phẩm này ra đời, nhằm cống hiến cho các vị hành pháp đại bi hiểu rõ thêm về ý nghĩa sám hối cũng như nghĩa lý trong đại bi sám, qua đó đầy đủ hai phần sự lý, giúp cho việc thọ trì được đắc dụng.

Vì khả năng phiên dịch rất kém cõi, lại thêm lời tổ ý Kinh sâu xa, nên trong phiên dịch không sao tránh khỏi sai xót. Ngưỡng mong chư tôn Đức Tăng và các bậc thức giả cao minh từ bi lượng thứ phủ chính cho.

Dịch xong ngày vía Quán Âm thành đạo năm Giáp Ngọ, tại chùa Phổ Giác, Hóc Môn.

                             Tỳ-kheo Thích Minh Kiết cẩn đề

 

 

          Nam mô(नमो): là tiếng Phạn, dịch ý có nghĩa là cứu giúp, bảo vệ, nghĩa là người gặp cảnh khốn khổ mong mỏi Đức Quán Thế Âm Bồ-tát cứu hộ; lại có nghĩa là đảnh lễ, hướng về Đức Quán Thế Âm Bồ-tát cung kính đảnh lễ; lại có nghĩa là quy mạng, mạng nghĩa là lời dạy dỗ của Đức Quán Thế Âm Bồ-tát, quy mạng chính là thuận theo, nghe theo lời dạy dỗ. Thuận theo, nghe theo lời dạy dỗ của Đức Quán Thế Âm Bồ-tát, học theo Quán Thế Âm Bồ-tát.

          Thế nào gọi là Đại Bi?"Vì muốn phát khởi hết thảy các Bồ-tát làm an lạc, giải thoát rốt ráo cho tất cả chúng sanh."

Trong Kinh có nói “Bồ-tát chỉ từ đại bi sanh chớ không phải từ pháp thiện nào khác sanh” Đây là nói rõ địa vị từ bi trong Bồ-tát đạo. Từ bi lấy nhổ gốc khổ cho niềm vui làm tướng trạng. Nhìn thấy chúng sanh bị khổ não, Bồ-tát liền nghĩ muốn cứu họ, mong cho họ được an lạc. Có được cái tâm đồng cảm, thương xót này thì gọi là tâm bi. Nhưng sự rộng lớn của tâm đại bi là ở chỗ muốn cho cả thảy chúng sanh được an lạc trọn vẹn. Mục đích của Phật giáo lưu truyền trong nhân gian cái chính là khuyến khiến cho hết thảy chúng sanh chuyển phàm thành thánh. Còn sự từ bi thông thường thì chỉ dừng lại ở chỗ giải trừ sự khó khăn trong đời sống của con người. Ví như có đau bệnh thì lập bệnh viện; không có tiền đi học thì xây trường học v.v… Nhưng việc này chưa được coi là tâm đại bi, vì những việc này hiệu quả không đáng cậy. Bệnh có trị khỏi rồi vài ngày sau cũng sẽ bệnh lại. Việc học hành xem ra cũng là tốt, nhưng sau này ra xã hội làm việc, người được học cũng chưa hẵn là có đạo Đức và vấn đề của nhân sinh vẫn chưa thể giải quyết. Những việc này tuy là thiện nhưng trong cái thiện đó vẫn còn ẩn chứa thành phần bất thiện. Nếu như có thêm nhận thức Phật pháp thì khi giáo hóa chúng sanh, chúng ta cũng có thể sử dụng tiền tài của thế gian để cứu giúp nỗi khó khăn trước mắt của họ; nhưng mục đích chính là phải làm sao cho họ đạt đến vô thượng bồ-đề. Cho nên tâm đại bi là dùng mọi hình thức, phương tiện khéo léo để cứu giúp bảo vệ chúng sanh, khiến cho họ được vô thượng bồ-đề (thành Phật) hay nói cách khác là khiến cho họ nhập vô dư niết-bàn, mong mỏi họ đạt được công Đức thanh tịnh vô lậu của xuất thế gian, được vậy mới gọi là đại bi.

Trong các Kinh Luận đại thừa như Kinh A Hàm, hoặc là Kinh Bát-nhã, Kinh Phương Đẳng(1), Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Niết-bàn…Đức Phật giáo hóa chúng sanh như thế nào? Đức Phật chủ yếu là dùng trí tuệ để giáo hóa chúng sanh, khiến cho chúng sanh tăng trưởng đại trí tuệ, là thứ căn bản để giải quyết mọi vấn đề. Tuy Đức Phật cũng có tán thán bố thí ba-la-mật(2), có tiền của thì nên cứu giúp những chúng sanh bần khổ, nhưng mục đích chính là Đức Phật muốn dạy chúng ta phát đại trí tuệ, thấy rõ sự thật về cuộc đời, được đại giải thoát, vấn đề chính yếu là như vậy. Nếu không thì vấn đề giải thoát sanh tử coi như vẫn còn đó và tâm từ bi như thế là không rốt ráo, đâu có thể gọi là đại bi.

         Do bốn duyên nên gọi là đại bi:

1.     Duyên nơi cái khổ nhỏ nhít sâu xa của hữu tình chúng sanh làm đối tượng mà khởi đại bi.

2.     Tu tập tích chứa trong thời gian lâu dài: nghĩa là các vị Bồ-tát đã tích tập công Đức từ vô lượng đại kiếp mà thành.

3.     Duyên nơi tác ý cầu cứu mãnh liệt, nhanh nhẹn của chúng sanh mà phát khởi: nghĩa là các vị Bồ-tát do đây mà khởi lòng thương xót đối tượng cầu cứu. Để dứt trừ nhân duyên các khổ cho chúng hữu tình còn có thể xả bỏ trăm ngàn thân mạng hà huống gì chỉ một thân mạng và số của cải này sao? ở trong tất cả sự trừng phạt chịu đại khổ, vì các chúng sanh nên Bồ-tát thảy đều kham nhẫn.

4.     Cực thanh tịnh: nghĩa là các vị Bồ-tát đã đạt đến địa vị Bồ-tát rốt ráo thanh tịnh, cũng giống như các Đức Phật đã đạt đến Phật địa Như Lai thanh tịnh vậy.

“Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Phổ Môn Quán Thế Âm Bồ-tát” có nói đến nguyên nhân vì sao mà Ngài có tên là Quán Thế Âm Bồ-tát “Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các khổ não, nghe đến danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát này, một lòng xưng niệm danh hiệu thì tức thời Quán Thế Âm Bồ-tát quán sát tiếng kêu cứu của họ mà cứu thoát.” vì thế nên gọi là Quán Thế Âm Bồ-tát. Đây là do y nơi lòng từ bi cứu độ chúng sanh rộng lớn của Bồ-tát mà lập tên. Chữ quán của Quán Thế Âm là quán sát. Hạng phàm phu nghe âm thanh bằng đôi tai, còn Đức Quán Thế Âm Bồ-tát có thiên nhĩ thông, thiên nhãn thông nên nghe được tiếng kêu cầu Bồ-tát cứu khổ cứu nạn của chúng sanh ở thế gian khổ não này, nghĩa là khi cất tiếng xưng niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ-tát cầu xin cứu khổ cứu nạn, ngay nơi đó ngài liền dùng đại trí tuệ để quán sát tiếng kêu cứu đó, rồi sau đó mới dùng từ bi cứu độ họ. Cho nên chúng ta trước hết phải nên niệm “Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ-tát” rồi sau đó mới hướng về Ngài trình bày nỗi khốn khổ.

          Tùy cơ ứng hóa là nét đặc sắc của Bồ-tát hạnh:

Chú Đại Bi mà ngày nay chúng ta trì tụng đó là Quán Thế Âm ngàn mắt ngàn tay. Mượn phương tiện ngàn mắt ngàn tay để nêu lên tác dụng rộng lớn hóa độ tất cả chúng sanh của Đức Quán Thế Âm Bồ-tát, chớ chẳng phải Đức Quán Thế Âm Bồ-tát thật sự có ngàn mắt ngàn tay. Lại nữa, do Đức Quán Thế Âm Bồ-tát từ kiếp lâu xa đến nay rộng độ chúng sanh. Những chúng sanh đã được Ngài giáo hóa trọn nên rất nhiều, được phân bố khắp mười phương thế giới để hóa độ chúng sanh hoằng dương Phật pháp, đây chính là ý nghĩa ngàn mắt ngàn tay của Đức Quán Thế Âm Bồ-tát. Cách giải thích như vầy rất hay.

Nhưng ngàn mắt ngàn tay chủ yếu là để biểu thị tác dụng dùng vô số phương tiện khéo léo phổ độ chúng sanh của Đức Quán Thế Âm Bồ-tát. Trong Kinh đây có nói “Bấy giờ con rất vui mừng, liền phát ra lời thệ: Nếu như sau này mà con có thể làm lợi ích, an lạc cho tất cả chúng sanh thì khiến cho thân con tức thời đây sanh ra đủ ngàn tay ngàn mắt. Phát nguyện xong, đúng lúc đó thân con có đủ ngàn tay ngàn mắt” Quán Thế Âm Bồ-tát quả thật là có ngàn tay ngàn mắt, chính cảnh giới tự thọ dụng của Ngài đã nói lên điều đó. Quán Thế Âm Bồ-tát ngàn mắt ngàn tay chính là hóa thân của Đức Quán Thế Âm Bồ-tát. Ngàn tay là biểu thị năng lực vĩ đại cứu vớt chúng sanh; ngàn mắt là biểu thị ánh sáng trí tuệ chiếu cùng khắp. Đây là sự biểu tượng cho đại bi đại trí. Vì để tiếp dẫn chúng sanh hướng về đại đạo chánh giác cho nên Đức Quán Thế Âm Bồ-tát mới phương tiện ứng hóa, có thể nói là không chỗ nào mà Ngài không có mặt.

          Thế nào là Đà-la-ni?

Luận Đại Trí Độ nói: Đà-la-ni nghĩa là năng lực trí tuệ thâu tóm giữ gìn hết thảy các pháp thiện, khiến cho chúng không tan mất, cũng giống như vật đựng nước tốt, đựng nước sẽ không bị rò rỉ. Đà-la-ni có khả năng ngăn ngừa cội gốc tâm ác bất thiện đã sanh, khiến cho nó không sanh khởi. Như người nào lúc sắp tạo ác tạo tội, nếu thọ trì Đà-la-ni này thì sẽ không tạo tội ác nữa, đây gọi là Đà-la-ni. Ngài Tăng Triệu phiên thành Tổng trì, nghĩa là trì thiện không mất, trì ác không sanh; lại phiên dịch thành ngăn, giữ gìn. Chỉ Quán Phụ Hành có nói: "Thể ngăn tam hoặc, tánh gìn tam trí"(3) Huân Văn có nói: "Ngăn cái ác của nhị biên, gìn cái thiện của trung đạo"(4) đây là dựa vào tánh huệ mà lập tên. Xiển Nghĩa có nói: "Như vậy Đà-la-ni là tiếng Phạn. Còn chữ chú là tiếng Trung. Tựa Kinh nêu cả hai tiếng Trung Phạn cho nên gọi là Đà-la-ni chú " Vậy thì tại sao lại phiên Đà-la-ni là ngăn, giữ gìn? Vì người xưa thấy nó bí mật nên không phiên nghĩa, cũng giống như các cấm chú v.v... (pháp thuật) của cõi này vậy, người ta dùng từ chú để gọi nó, nhưng nó cũng không có mất đi cái nghĩa ngăn và giữ gìn. Tại sao? Vì chú là sự xác thật theo lời thệ nguyện, như bốn nguyện của Bồ-tát: hai nguyện bạt khổ tức nghĩa là ngăn (già), hai nguyện là ban cho niềm vui tức nghĩa là giữ gìn (trì) điều thiện.

          Đại Trí Độ Luận nói có ba Đà-la-ni:

1.Văn Trì Đà-la-ni:Người chứng đắc được Đà-la-ni này thì tất cả các pháp các ngôn ngữ, những gì mà tai nghe thấy, đều không quên mất. Đây chính là nghĩa danh trì (giữ gìn tên gọi)

2. Phân Biệt Tri Đà-la-ni:Người chứng đắc được Đà-la-ni này, đối với hết thảy chúng sanh, hết thảy các pháp lớn nhỏ, tốt xấu, thảy đều biết rành rẽ, vì vậy gọi là Phân Biệt Đà-la-ni, tức có nghĩa là giữ gìn (trì) vậy.

3. Nhập Âm Thanh Đà-la-ni:Nguời đắc được Đà-la-ni này khi nghe bất cứ âm thanh ngôn ngữ nào cũng đều không sanh tâm vui mừng hay nổi giận; Nghĩa là dù hết thảy chúng sanh kiếp số nhiều như cát sông hằng có dùng lời ác mắng chửi mình đi nữa, mình cũng không oán hận; Hay dù cho hết thảy chúng sanh nhiều như cát sông hằng có tán thán cúng dường mình đi nữa, tâm mình vẫn bất động, không vui mừng cũng không say đắm, đây gọi là "Nhập Âm Thanh Đà-la-ni". Phải hành trì đúng như vậy.

          Kinh Pháp Hoa nói có ba loại Đà-la-ni:

1. Triền Đà-la-ni.

2. Trăm Ngàn Muôn Ức Triền Đà-la-ni.

3. Pháp Âm Phương Tiện Đà-la-ni

Chú sớ Tịnh Danh(5) giải thích như sau: Triền nghĩa là chuyển. Chuyển giả nhập không, chứng đắc chân đế. Trăm ngàn muôn ức nghĩa là từ Không nhập Giả, xoay chuyển biện bạch, phá trần sa hoặc, hiển hằng sa Phật pháp. Pháp Âm Phương Tiện nghĩa là Phương tiện nhị quán (quán giả quán không) chứng nhập trung đạo.

          Thế nào gọi là Bồ-tát Đà-la-ni?

Nên biết diệu Đà-la-ni như vậy lược có bốn loại: Một là pháp Đà-la-ni. Hai là nghĩa Đà-la-ni. Ba là chú Đà-la-ni. Bốn là năng đắc Bồ-tát nhẫn Đà-la-ni.

1.     Pháp Đà-la-ni:

Thế nào là Bồ-tát pháp Đà-la-ni? Nghĩa là các vị Bồ-tát đã đạt được lực trì của niệm huệ như vậy, rồi do lực trì này mà nghe được những lời chưa từng nghe, những thứ chưa từng ôn luyện qua, chưa khéo thông lợi, những thứ ghi chép gom nhóm thuộc danh cú văn thân lẫn lộn thứ tự, vô lượng Kinh điển kết tập lần lượt, trãi qua vô lượng thời gian khéo giữ gìn không quên. Đây gọi là Bồ-tát pháp Đà-la-ni.

2.     Thế nào gọi là Bồ-tát nghĩa Đà-la-ni?

Cũng giống như đã nói ở trước, nhưng phần này có khác một chút, nghĩa là đối với vô lượng nghĩa thú của pháp đó (pháp đã được thọ trì đọc tụng), những pháp mà tâm chưa từng ôn luyện qua, chưa có rành rẽ thông lợi, trãi qua vô lượng thời gian khéo trì không quên. Đây gọi là Bồ-tát nghĩa Đà-la-ni.

3.     Thế nào gọi là Bồ-tát chú Đà-la-ni?

Nghĩa là các vị Bồ-tát đã được đẳng trì (tam ma địa) tự tại như vậy, do sức tự tại này nên có thể trừ nạn tai hoạn họa cho hữu tình, khiến cho các chương cú của các câu chú thảy đều linh nghiệm. Linh nghiệm thứ nhất đó là không luống phí, không phải chỉ có thể duy nhất diệt trừ các thứ tai họa. Đây gọi là Bồ-tát chú Đà-la-ni.

4.     Thế nào gọi là Bồ-tát năng đắc Bồ-tát nhẫn Đà-la-ni?

Nghĩa là các vị Bồ-tát đã thành tựu nhân hạnh kiên cố một cách tự nhiên, đầy đủ trí tuệ mầu nhiệm, độc cư vô sự, không có điều gì để nói; hiểu được đây là con đường duy nhất đi đến thánh đạo, ăn đúng lượng, không ăn những thứ tạp uế, chỉ ăn một loại thức ăn; thường ở trong trạng thái cực tỉnh giác, ban đêm thức nhiều ngủ ít, đắc được các chương cú câu chú của Bồ-tát nhẫn qua lời Đức Phật dạy, suy xét thật kỹ lời của câu chú ấy là:Nhất chi mật chi, kiết chi tỳ sằn đề, bát đà nỉ sa ha, nghĩa là đối với nghĩa của chương cú bài chú như vậy, suy nghĩ cho thật kỹ, suy tính quán sát, thực hành đúng theo nghĩa lý của chương cú bài chú đó mà không cần phải nghe thêm điều gì khác thì tự nhiên sẽ thông đạt. Rõ biết các chương cú của bài chú như vậy đều không có nghĩa(6), là viên thành thật(7), chỉ có câu không có nghĩa mới như thật rõ biết được cái ý nghĩa của chương cú này, đó gọi là không có nghĩa. Vì vậy qua nghĩa này, không cần tìm nghĩa nào khác nữa. Ngang đây gọi là thông đạt nghĩa chương cú bài chú rành rẽ sâu mầu vậy. Người đã thông đạt đúng như nghĩa của chương cú bài chú này rồi thì chỉ y theo cái nghĩa này mà hành, chớ không có nghe theo một kiến giải nào khác; từ đó thông đạt nghĩa như thật của tất cả pháp, nghĩa là thông đạt đúng như thật về nghĩa này, còn tất cả các nghĩa về tự tánh của các pháp được nói ra về mặt ngôn ngữ đều không phải là nghĩa "thành thật", chỉ có các pháp tự tánh lìa ngôn ngữ mới là "thành thật". Cái nghĩa tự tánh này, Bồ-tát đã thông đạt đúng như thật về nó nơi các pháp, đến đây không có một nghĩa nào khác nữa để cầu. Do vì rành rẽ thông đạt cái nghĩa này, cho nên đạt được sự hoan hỷ rộng lớn hơn hết, vì vậymà Bồ-tát chứng đắc Đà-la-ni, ngay nơi đó cho là Bồ-tát đã chứng đắc Bồ-tát thắng nhẫn được thiết lập từ chương cú Đà-la-ni này. Do chứng đắc được Nhẫn này, nên các Bồ-tát không lâu sau sẽ đắc được Tịnh thắng ý lạc(8), do y theo thắng nhẫn của địa Thắng Giải Hành(9)ở phẩm trên mà chuyển, nên biết đây là năng đắc Bồ-tát nhẫn Đà-la-ni thuộc về hàng Bồ-tát.

Trong số đó, Bồ-tát pháp Đà-la-ni, nghĩa Đà-la-ni, ước tính phải trãi qua vô số đại kiếp lần thứ nhất, đã nhập vào Địa tịnh thắng ý lạc, sở đắc mới quyết định vững chắc rộng lớn. Từ địa này trở xuống, hoặc là nhờ nguyện lực, hoặc là y nơi tĩnh lự (thiền định) tuy có đạt được nhưng không có quyết định, cũng không có vững chắc, cũng không có rộng lớn. Đây là nói về hai Đà-la-ni pháp và nghĩa, còn nói về chú Đà-la-ni thì cũng giống như vậy. Còn pháp Năng đắc Bồ-tát nhẫn Đà-la-ni, như đã có giải thích ở trước, sở đắc cũng giống như vậy.

Tóm lại, Bồ-tát phải có đầy đủ bốn thứ công đức mới đạt được các Đà-la-ni như vậy, không thể thiếu một. Bốn thứ công đức đó là gì?

Một là không khởi lòng tham đắm bất cứ dục lạc nào. Hai là không sanh lòng đố kỵ đối với tài năng của người khác, không ganh ghét sự giàu sang của người khác. Ba là tất cả những gì chúng sanh mong cầu đều thí cho hết không có chút hối tiếc. Bốn là đối với chánh pháp (pháp thượng diệu của chư Phật) vô cùng ưa thích. Những pháp ưa thích là đối với Bồ-tát tạng(10)và Bồ-tát tạng ma-đát-lý-ca(11) tâm rất là ưa thích.

Đức Phật bảo A-nan: Thần chú như trên đây có các thứ tên như: 1. Quảng Đại Viên Mãn 2. Vô Ngại Đại Bi 3. Cứu Khổ Đà-la-ni 4. Diên Thọ Đà-la-ni 5. Diệt Ác Thú Đà-la-ni 6. Phá Ác Nghiệp Chướng Đà-la-ni 7. Mãn Nguyện Đà-la-ni 8. Tùy Tâm Tự Tại Đà-la-ni. 9. Tốc Siêu Thượng Địa Đà-la-ni. Cứ như vậy mà thọ trì.

          Chánh văn:

Quán Thế Âm Bồ tát nói với Phạm vương:

Ông vì phương tiện làm lợi ích cho tất cả chúng sanh nên mới hỏi như vậy. Ông nay lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì các ông mà lược nói sơ qua. Quán Thế Âm Bồ-tát nói rằng: Tướng trạng của Đà la ni này là tâm đại từ đại bi, là tâm bình đẳng, là tâm vô vi, là tâm không đắm nhiễm, dính mắc, là tâm quán không, là tâm cung kính, là tâm khiêm hạ, là tâm không tạp loạn, là tâm không có kiến thủ, là tâm vô thượng Bồ-đề. Ông nên biết, các thứ tâm như vậy chính là tướng trạng của Đà-la-ni, ông nên y vào đó để tu hành.

          Phương Tiện Trì Chú:

Phát Tâm bồ-đề rộng lớn, thệ nguyện độ hết thảy chúng sanh, thân trì trai giới, khởi tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sanh, thường trì tụng thần chú này chớ để cho dứt mất. Ở trong ngôi tịnh thất (một căn nhà sạch sẽ) tắm rửa sạch sẽ, đắp y (mặc áo tràng) sạch sẽ, treo phang đốt đèn, cúng dường hương hoa, đồ ăn thức uống trăm vị, chú tâm vào một chỗ, không cho duyên theo cảnh nào khác, trì tụng đúng pháp.

          Chánh văn:

Nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, đồng nam, đồng nữ nào muốn trì tụng thần chú này thì phải khởi tâm từ bi với tất cả chúng sanh, rồi trước hết phát nguyện theo con như vầy:

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau biết tất cả pháp

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm được mắt trí tuệ

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau độ tất cả chúng

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm được thiện phương tiện

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau ngồi thuyền Bát-nhã

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm rời khỏi biển khổ

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau được giới, định, đạo

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm lên núi Niết-bàn

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau gặp nhà vô vi

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm đồng thân pháp tánh

Nếu con hướng núi đao

Núi đao tự bẻ gãy

Nếu con hướng hầm lửa

Hầm lửa tự khô kiệt

Nếu con hướng địa ngục

Địa ngục tự tiêu diệt

Nếu con hướng ngạ quỷ

Ngạ quỷ tự no đủ

Nếu con hướng Tu-la

Ác tâm tự điều phục

Nếu con hướng súc sanh

Tự đắc đại trí tuệ

Phát nguyện này rồi, chí tâm xưng niệm danh hiệu của con, và cũng nên chuyên niệm bổn sư con là A-Di-Đà Như Lai, rồi sau đó mới tụng thần chú Đà-la-ni này....Trừ những người bất thiện và không chí thành...kẻ nào sanh chút tâm hoài nghi thì sẽ không được toại ý...Chỉ trừ một việc là nghi ngờ thần chú này.

Quán Thế Âm Bồ-tát nói: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào trì tụng thần chú nàyphải phát tâm bồ-đề rộng lớn, thệ nguyện độ hết thảy chúng sanh, thân trì trai giới, khởi tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sanh, thường trì tụng thần chú này chớ để cho dứt mất. Ở trong ngôi tịnh thất (một căn nhà sạch sẽ) tắm rửa sạch sẽ, đắp y (mặc áo tràng) sạch sẽ, treo phang đốt đèn, cúng dường hương hoa, đồ ăn thức uống trăm vị, để tâm vào một chỗ, không cho duyên theo cảnh nào khác, trì tụng đúng pháp.

          Công Đức Trì Tụng:

Bấy giờ, Quán Thế Âm Bồ tát từ chỗ ngồi đứng dậy, chỉnh sửa y phục, chắp tay hướng về phía Phật bạch rằng:

- Bạch Thế Tôn! Con có Chú Đại Bi Tâm Đà-la-ni, nay định nói ra, vì muốn cho các chúng sanh được an lạc, vì muốn trừ tất cả bệnh, vì muốn được sống thọ, vì muốn được giàu có của cải sung túc, vì diệt trừ tất cả ác nghiệp trọng tội, vì lìa các chướng nạn, vì muốn tăng trưởng tất cả các công đức thanh tịnh, vì thành tựu tất cả các thiện căn, vì xa lìa tất cả sự sợ hãi, vì muốn nhanh chóng thỏa mãn đầy đủ các sự mong cầu hiếm có, kính nguyện Đức Thế Tôn, từ bi thương xót, nghe nhận con nói.

          Diệt trừ tất cả ác nghiệp trọng tội:Mỗi đêm tụng đủ năm biến sẽ diệt trừ được trăm ngàn muôn ức kiếp sanh tử trọng tội của thân.

          Chánh Văn:

Quán Thế Âm Bồ tát lại bạch với Đức Phật rằng:

Bạch Đức Thế Tôn! Nếu trong chốn trời người, có ai trì tụng chương cú Đại Bi này, đến lúc lâm chung, mười phương cõi Phật đều đến trao tay, muốn sanh về cõi Phật nào cũng đều được mãn nguyện sanh về cõi ấy. Quán Thế Âm Bồ tát lại bạch Phật:

Bạch Đức Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nào trì tụng thần Chú Đại Bi này mà bị đọa vào ba đường ác, con thệ không thành chánh giác. Nếu người trì tụng thần Chú Đại Bi này mà không sanh vào các cõi nước Phật thì con thệ không thành chánh giác. Nếu người trì tụng thần Chú Đại Bi này mà không được vô lượng tam-muội biện tài thì con thệ không thành chánh giác. Nếu người trì tụng thần Chú Đại Bi này, đối với tất cả những điều mong cầu trong đời này mà không được như ý thì chú này không được gọi là Đại Bi Tâm Đà-la-ni.

Nếu có những người nữ nào nhàm chán thân gái, muốn được thân nam mà trì tụng chương cú Đại Bi Tâm Đà-la-ni này, nếu không chuyển thân nữ thành thân nam thì con thệ không thành chánh giác.

Nếu có chúng sanh nào xâm tổn đến tài vật, đồ ăn thức uống của thường trụ, dù có ngàn Đức Phật xuất hiện nơi đời cũng không có sám hối được, hay dù có sám hối cũng không diệt hết tội; nay tụng thần Chú Đại Bi này liền được diệt trừ. Nếu có kẻ xâm tổn đến tài vật, uống ăn, thuộc về thức ăn vật dùng của thường trụ, phải đối trước thập phương sư để sám hối nhận sai thì mới được diệt tội, nay tụng Đại Bi Đà-la-ni này, thập phương sư sẽ liền đến chứng minh cho, tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt. Tất cả các tội thập ác, ngũ nghịch, báng người, báng pháp, phá trai phá giới, phá tháp phá chùa, trộm đồ của Tăng, làm ô uế phạm hạnh thanh tịnh, tất cả những ác nghiệp trọng tội như vậy thảy đều diệt hết.

Quán Thế Âm Bồ-tát lại bạch Phật:

Bạch Đức Thế Tôn! Nếu có những trời người nào trì tụng Đại Bi Tâm Chú này sẽ được mười lăm loại sanh thiện, không bị mười lăm loại chết dữ.

          Các loại chết dữ đó là:

Một là không để cho người đó chết vì đói khát, khốn khổ. Hai là không chết vì bị gông cùm xiềng xích, roi gậy đánh đập. Ba là không bị chết vì oán gia thù đối. Bốn là không bị giết chết giữa chiến trận. Năm là không bị hổ, sói, thú dữ hại chết. Sáu là không bị rắn độc, bò cạp cắn chết. Bảy là không bị chết vì lửa đốt, nước trôi. Tám là không bị chết vì trúng thuốc độc. Chín là không bị sâu bọ độc hại chết. Mười là không bị chết vì điên loạn mất trí. Mười một là không bị chết vì rơi xuống vách núi bờ cây. Mười hai là không bị kẻ ác yểm mị chết. Mười ba là không bị tà thần ác quỷ thừa dịp hại chết. Mười bốn là không bị bệnh ngặt triền thân chết. Mười lăm là không bị chưa tới số mà chết. Người trì tụng thần chú Đại Bi này sẽ không bị mười lăm loại chết dữ như vậy.

          Được mười lăm loại sanh thiện đó là:

 Một là sanh ra nơi nào cũng thường gặp bậc vua thiện. Hai là thường sanh vào nước thiện. Ba là thường gặp vận may. Bốn là thường gặp bạn lành. Năm là thân thể được lành lặn. Sáu là đạo tâm thuần thục. Bảy là không phạm giới cấm. Tám là có ân nghĩa hòa thuận với tất cả quyến thuộc. Chín là tiền của vật thực thường được sung túc. Mười là thường được người khác cung kính giúp đỡ. Mười một là tất cả tài sản không bị cướp đoạt. Mười hai là nguyện cầu điều chi cũng đều được toại ý. Mười ba là thường được trời rồng thiện thần theo hộ vệ. Mười bốn là sanh ra nơi nào cũng được thấy Phật nghe pháp. Mười lăm là khi nghe chánh pháp ngộ nghĩa sâu xa.Nếu có người trì tụng Đại bi tâm Đà-la-ni sẽ được mười lăm loại sanh thiện giống như vậy.

Quán Thế Âm Bồ Tát nói thần chú này xong, đại địa chấn động sáu cách, trên trời rãi hoa báu xuống như mưa, mười phương chư Phật thảy đều hoan hỷ, thiên ma ngoại đạo sợ hãi dựng lông tóc, tất cả chúng hội đều được chứng quả. Hoặc có người chứng quả Tu-đà-hoàn, hoặc là chứng quả Tư-đà-hàm, hoặc là chứng quả A-na-hàm, hoặc chứng quả A-la-hán; hoặc có người chứng sơ địa, nhị địa, tam đia, tứ địa, ngũ địa, cho đến thập địa, vô lượng chúng sanh phát tâm bồ-đề.

Bấy giờ sẽ có Nhật Quang Bồ tát, Nguyệt Quang Bồ tát và vô lượng thần tiên đến để chứng minh, tăng thêm hiệu nghiệm. Lúc này, ta sẽ dùng ngàn mắt chiếu soi, ngàn tay hộ trì, từ đó về sau, tất cả sách vở thế gian thảy đều có thể thọ trì. Tất cả pháp thuật của ngoại đạo, sách vở Vệ-đà cũng có thể thông đạt. người trì tụng thần chú này, tám muôn bốn ngàn loại bệnh ở thế gian thảy đều trị hết, cũng có thể sai khiến tất cả quỷ thần, hàng phục các thiên ma, chế ngự các ngoại đạo.

Nếu có người nơi núi hoang rừng vắng tụng Kinh, tọa thiền mà bị các sơn tinh, tạp mị, võng lưỡng, quỷ thần, ngang ngược não loạn, tâm không an định, tụng thần chú này một biến thì các quỷ thần đều bị trói lại. Nếu ai có thể trì tụng đúng pháp, khởi tâm từ bi với chúng sanh, bấy giờ ta sẽ sai tất cả thiện thần, Long Vương, Kim Cang Mật Tích thường theo hộ vệ, không rời người đó, như giữ đôi mắt, như gìn mạng sống vậy.

Đà-la-ni này đã được chín mươi chín ức hằng hà sa số chư Phật thời quá khứ nói ra. Nó giống như chư Phật, vì những người tu hành tu lục độ mà chưa viên mãn khiến cho mau viên mãn vậy; người chưa phát tâm bồ-đề khiến cho phát tâm bồ-đề; hoặc là hàng Thanh văn chưa chứng quả thì khiến cho mau chứng quả.

Nếu trong tam thiên đại thiên thế giới, các vị thần tiên nào mà chưa phát tâm bồ-đề, thì khiến cho mau phát tâm bồ-đề; nếu chúng sanh nào mà chưa đắc đại thừa tín căn thì nhờ vào sức oai thần của Đà-la-ni này, khiến cho hạt giống đại thừa nẩy mầm tăng trưởng. Nhờ sức từ bi phương tiện của ta mà khiến cho những pháp tu đều được thành tựu.

Lại nữa, những chúng sanh trong ba đường ác, nơi tăm tối âm u mà nghe được thần chú của ta đây thì sẽ đều được thoát khổ. Nếu có các Bồ-tát nào chưa chứng vào ngôi sơ trụ, ta sẽ khiến cho mau chứng; cho đến khiến cho chứng đắc Địa thập trụ, lại còn khiến cho chứng đến Địa Phật, tự nhiên thành tựu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẽ đẹp nơi thân. Nếu có hàng Thanh văn nào vừa nghe thần chú Đà-la-ni này nơi tai, người tu hành theo kinh sách nói về thần Chú Đà-la-ni này, dùng tâm chất trực như pháp mà trụ thì bốn quả sa-môn không cầu mà được.

Như tất cả núi sông, vách đá trong tam thiên đại thiên thế giới này, nước trong bốn biển lớn có thể khiến cho trào dâng, núi Tu-di và núi Thiết vi có thể làm cho lay động và làm cho vỡ ra như bụi nhỏ, tất cả chúng sanh trong đó đều khiến cho phát tâm vô thượng bồ-đề.

Nếu có chúng sanh nào, hiện đời muốn cầu nguyện điều gì thì trong hai mươi mốt ngày, hãy giữ trai giới cho thanh tịnh, tụng Đà-la-ni này sẽ được như ý nguyện, tất cả ác nghiệp từ kiếp vô thỉ đến nay thảy đều tiêu trừ, tất cả chư Phật Bồ-tát, Phạm vương, Đế thích, bốn vị Thiên vương, Thần tiên, Long vương trong ba ngàn đại thiên thế giới, thảy đều chứng biết.

Nếu có trời người nào trì tụng Đà-la-ni này, như người đó tắm rửa trong biển cả, sông ngòi, ai mà có được nước của người đó tắm, thấm lên trên người thì tất cả ác nghiệp trọng tội thảy đều tiêu diệt, liền được chuyển sanh sang cõi tịnh khác, hóa sanh từ hoa sen, không thọ thân thai, thấp, noản, huống hồ chi người thọ trì đọc tụng.

Như người trì tụng mà đi trên đường, gặp phải gió lớn thổi lên lông tóc, y phục của của họ, rồi gió đó tạt qua chúng sanh khác, nếu ai mà nhận được luồng gió thổi đó thì tất cả ác nghiệp, trọng tội thảy đều diệt hết, lại thêm không phải chịu quả báo đọa vào ba đường ác, thường sanh trước Phật. Nên biết người thọ trì phước đức, quả báo không thể nghĩ bàn.

Người trì tụng Đà-la-ni này, dù trong miệng nói ra lời tốt hoặc xấu thì tất cả thiên ma, ngoại đạo, thiên long, quỷ thần khi nghe thấy cũng đều thành pháp âm thanh tịnh, đều sanh tâm cung kính, tôn trọng họ như Phật.

Người trì tụng thần chú Đà-la-ni này, phải biết người đó chính là Tạng Thân Phật vì được chín mươi chín ức hằng hà sa chư Phật yêu quý. Nên biết người đó chính là Tạng Quang Minh vì được ánh sáng của tất cả Như Lai chiếu soi. Nên biết người đó là Tạng Từ Bi, vì thường dùng Đà-la-ni để cứu chúng sanh. Nên biết người đó là Tạng Diệu Pháp vì nhiếp khắp tất cả các môn Đà-la-ni. Nên biết người đó là Tạng Thiền Định vì chứng được trăm ngàn tam muội. Nên biết người đó là Tạng Hư Không vì thường dùng không tuệ quán chúng sanh. Nên biết người đó là Tạng Vô Úy vì được Trời, Rồng, thiện Thần thường theo hộ trì. Nên biết người đó là Tạng Diệu Ngữ vì trong miệng thường diễn nói âm Đà-la-ni. Nên biết người đó là Tạng Thường Trụ vì tam tai kiếp ác không thể phá hoại. Nên biết người đó là Tạng Giải Thoát vì thiên ma ngoại đạo không thể lôi kéo. Nên biết người đó là Tạng Dược Vương vì thường dùng Đà-la-ni để chữa bệnh chúng sanh. Nên biết người đó là Tạng Thần Thông vì được tự tại dạo chơi các cõi Phật. Công Đức của người đó khen mãi không hết.

Này thiện nam tử! Nếu lại có người nào nhàm chán cái khổ của thế gian  muốn được sống lâu vui vẻ thì tìm chỗ thanh vắng, kết giới thanh tịnh, chú vào áo mặc, hoặc là nước, hoặc là thức ăn, hoặc là hương, hoặc là thuốc uống, đủ một trăm lẻ tám biến thì sẽ được sống thọ. Nếu như kết giới đúng pháp, thọ trì đúng pháp thì tất cả điều mong cầu sẽ được thành tựu.

Cách kết giới đó là lấy một con dao, trì chú vào đó hai mươi mốt biến, vẽ lên đất làm ranh. Hoặc lấy nước sạch, trì chú vào đó hai mươi mốt biến, rưới vào bốn hướng làm ranh. Hoặc là lấy hạt cải trắng, trì chú vào đó hai mươi mốt biến, gieo vào bốn hướng làm ranh. Hoặc là nghĩ tưởng đến chỗ đó làm ranh. Hoặc là lấy tro sạch, trì chú vào đó hai mươi mốt biến làm ranh. Hoặc trì chú vào chỉ ngũ sắc hai mươi mốt biến, giăng vòng bốn bên làm ranh, đều có thể được. Nếu có thể thọ trì đúng pháp thì tự nhiên sẽ đạt kết quả.

Như người nghe được danh tự Đà-la-ni này còn diệt được vô lượng trọng tội trong kiếp sanh tử thì huống hồ gì người trì tụng? Nếu ai được trì tụng thần chú này phải biết là người đó đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, trồng khắp căn lành. Nếu ai có thể trì tụng đúng như pháp, cứu hết thảy khổ nạn cho  tất cả chúng sanh thì phải biết đó chính là người có đủ đại bi, không lâu sau sẽ thành Phật. Người mà gặp bất cứ chúng sanh nào cũng đều tụng chú này cho họ, khiến cho tai họ nghe và làm hạt giống Bồ-đề thì công đức của người đó vô lượng vô biên, khen mãi không cùng tận.

Nếu người nào có thể tinh chuyên, thành tín, cố gìn trai giới, vì tất cả chúng sanh mà sám hối tội xưa, và cũng tự sám hối vô số nghiệp ác từ vô lượng kiếp của mình đến nay, miệng tụng thần chú Đà-la-ni này thao thao bất tuyệt thì bốn quả của Sa-môn, ngay trong đời này liền được. Người căn tánh lanh lợi, có trí tuệ quán phương tiện thì quả vị thập địa, sẽ không khó mà được, hà huống gì chút xíu phước báo của thế gian, tất cả những điều mong cầu thảy đều được như ý vậy.

Nếu có người muốn sai khiến quỷ thì lấy đầu lâu hoang rửa sạch, rồi thiết lập đàn tràng trước tượng Thiên Nhãn, dùng vô số hương hoa đồ ăn thức uống để cúng tế, ngày nào cũng như vậy, qua bảy ngày quỷ sẽ hiện thân đến tùy người sai khiến. Nếu muốn sai khiến tứ thiên vương thì chú vào hương chiên đàn đốt lên. Ấy là do nguyện lực đại bi của Bồ-tát này sâu nặng và cũng là do oai thần của Đà-la-ni này rộng lớn.

Phật bảo A-nan: Như có quốc độ nào xảy ra nạn tai, vua nước đó nếu dùng chánh pháp để trị nước, không giam dân chúng, không nhốt súc sanh, không để dân chúng bị oan, ân xá tội phạm, trong bảy ngày bảy đêm thân tâm tinh tấn trì tụng thần chú tâm Đà-la-ni đúng như pháp, khiến cho tất cả nạn tai ở nước đó thảy điều trừ diệt, lúa thóc được mùa, muôn dân an lạc.

Lại nữa nếu bị nước khác thù ghét, nhiều lần sang xâm lấn, bá tánh không an, đại thần mưu phản, bệnh dịch phát tán, hạn hán không đều, ngày đêm vô chừng, khi có vô số nạn tai như vậy khởi lên, vị vua đó nên tạo tượng Đại Bi Tâm ngàn mắt, mặt hướng về phía tây, dùng các thứ hương, hoa, cờ, phướng, lộng báu, hoặc là đồ ăn thức uống trăm vị, chí tâm cúng dường, trong suốt bảy ngày bảy đêm, nếu vị vua đó thân tâm tinh tấn, trì tụng chương cú thần diệu Đà-la-ni này thì nước thù địch sẽ tự quy hàng ngay, mỗi bên tự lo trị nước, không có quấy rối nhau nữa, hai bên giao thương, giao tế từ tâm, vương tử bá quan đều giữ lòng trung, hoàng hậu, cung phi, thể nữ đều hiếu kính với vua, các rồng, quỷ thần ủng hộ nước đó, mưa gió đúng mùa, hoa trái sum xuê, dân chúng vui mừng.

Lại nữa, nếu nhà nào gặp phải những bệnh hiểm nghèo, muôn điềm quái dị đua nhau xuất hiện, tà ma quỷ thần nhiễu loạn cả nhà, kẻ ác ngang ngược tạo khẩu nghiệp để mưu hại mình, trong nhà già trẻ bé lớn bất hòa nhau thì nên đến trước tôn tượng Thiên Nhãn Đại Bi, chí tâm niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, tụng Đà-la-ni này đủ một ngàn biến, những điều dữ như đã nói ở trên thảy đều tiêu mất, người đó sẽ mãi mãi được an ổn.

          Phần giải thích:

          I. Quán Tưởng Đến Thánh Hiệu

1. Bổn Sư Thích-Ca Mâu-Ni Thế Tôn:

Bổn sư là vị thầy truyền trao giới pháp như: giới Sa-di, giới Cụ túc; hoặc là vị thầy thế phát. Trong đó, điểm quan trọng là nhờ ở vị thầy này dạy dỗ dẫn dắt, khiến cho mình phát khởi tâm vô thượng bồ-đề, hoặc nhờ sự dạy dỗ dẫn dắt đó, khiến cho mình tu tập chứng đắc được Vô sanh pháp nhẫn(12), đây mới chính là bổn sư. Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni là vị Bổn sư của tất cả tín đồ Phật giáo ở khắp cõi nước Ta-bà này, vì tất cả Phật pháp hiển hiện nơi đời, đều từ Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni mà có.

2. A-Di-Đà Thế Tôn:

Phát nguyện này rồi, chí tâm xưng niệm danh hiệu của con, và cũng nên chuyên niệm bổn sư con là A-Di-Đà Như Lai, rồi sau đó mới tụng thần chú Đà-la-ni này.

Đức Phật A-Di-Đà là thầy của Đức Quán Thế Âm Bồ-tát, là vị giáo chủ cõi nước phương tây có tên là Cực Lạc. Ngài có phát nguyện sẳn sàng tiếp độ bất cứ chúng sanh nào muốn sanh sang cõi nước của Ngài. Đức Phật A-Di-Đà không xa lạ gì với chúng ta nên ở đây không giải thích nhiều.

3. Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Thế Tôn:

Bạch Đức Thế Tôn! Con nhớ lại quá khứ vô lượng kiếp có Đức Phật ra đời hiệu là Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai. Đức Phật Thế Tôn đó vì thương nghĩ đến con và tất cả chúng sanh nên nói thần chú Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-la-ni này. Khi ấy Thế Tôn giơ cánh tay sắc vàng xoa đảnh con và nói như vầy: Thiện nam tử! ông nên trì tâm chú này, rồi khắp vì tất cả chúng sanh trong đời ác sau mà làm đại lợi lạc.

Thiên Quang chính là trí tuệ. Vương nghĩa là tự tại. Thiên Quang Vương là biểu thị ý thù thắng đại tự tại. Tĩnh Trụ nghĩa là trụ trong sự tịch tĩnh vắng lặng, đó cũng chính là đại định. Ánh sáng của Đức Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai phát ra cũng chính là ánh sáng trí tuệ vậy. Thiên Quang Vương là cảnh giới đại trí tuệ của Phật. Tĩnh Trụ là cảnh giới thiền định của Phật "Phật tự trụ đại thừa, như pháp của mình chứng, sức định huệ trang nghiêm, dùng đây độ chúng sanh - Kinh Pháp Hoa"

4. Quá Khứ Chín Mươi Chín Ức Hằng Hà Sa Chư Phật Thế Tôn:

...Đà-la-ni này đã được chín mươi chín ức hằng hà sa số chư Phật thời quá khứ nói ra, nó giống như chư Phật vì những người tu hành tu lục độ mà chưa viên mãn, khiến cho mau viên mãn vậy; vì người chưa phát tâm bồ-đề khiến cho phát tâm bồ-đề;hoặc là hàng Thanh văn chưa chứng quả thì khiến cho mau chứng quả.

Người trì tụng thần chú Đà-la-ni này, phải biết người đó chính là Tạng Thân Phật vì được chín mươi chín ức hằng hà sa chư Phật yêu quý.

Một ức là một trăm triệu. Chín mươi chín ức tức là chín tỷ chín trăm triệu. Hằng hà sa, là dụ cho số cát sông hằng. Sông Hằng nằm ở Ấn Độ, có chiều dài 2510 km. Hằng hà sa số còn được dụ cho số nhiều không thể đếm hết

5. Chánh Pháp Minh Như Lai:

...Đức Phật trả lời: Vị Bồ-tát này tên là Quán Thế Âm Tự Tại, cũng gọi là Nhiên Sách, cũng gọi là Thiên Quang Nhãn. Này Thiện nam tử! Quán Thế Âm Bồ-tát đây sức oai thần không thể nghĩ bàn, vào thời quá khứ vô lượng kiếp đã thành Phật hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, bằng tâm đại bi sức thệ nguyện rộng lớn, vì muốn phát khởi tất cả các Bồ-tát, an lạc thành thục các chúng sanh nên mới hiện làm thân Bồ-tát.

Cũng còn gọi là Nhiên Sách:Nhiên Sách nghĩa là sợi dây. Đây là công cụ mà người thợ săn trói thú mỗi khi săn bắt được, không để cho nó trốn thoát. Nhiên có nghĩa là tóm chặt không cho thoát. Sách nghĩa là trói.

Ở trong Kinh Phổ Môn có một đoạn nói về ý này "Nghe tên cùng thấy thân, tâm nghĩ không luống phí" câu này nói lên oai đức rộng lớn của Bồ-tát Quán Thế Âm, bất Luận là nhiều hay ít, nghe tên, thấy thân hoặc là tâm nghĩ nhớ đến đều không có luống phí, đều có công đức lớn, có thể diệt trừ tất cả sự đau khổ ở trong ba cõi sáu đường này. Do oai lực này, nếu câu niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát mà thấu xuống địa ngục, hễ tội nhân nào nghe thấy, trì niệm theo và xin cầu cứu thì tức thời sẽ nhờ oai lực của Bồ-tát mà thoát khỏi chốn địa ngục khổ đau. Trong Kinh Ngũ Bách Danh Quán Âm có câu danh hiệu khen ngợi oai lực này "Nam Mô Địa Ngục Môn Khai Tội Nhân Giải Thoát Quán Thế Âm Bồ-tát"  chỉ có nghe tên thấy thân, tâm nhớ nghĩ trong thoáng chốc thôi mà công đức còn lớn như vậy, hà huống gì xem Bồ-tát là chỗ cậy nương của mình suốt cuộc đời này hay mãi đến vô lượng kiếp về sau? "niệm" có nghĩa là quán tưởng, nhớ nghĩ đến. Nhớ nghĩ như thế nào? Nhớ đến đức đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn của Bồ-tát để cầu xin Ngài che chở, và nghĩ đến hạnh nguyện rộng lớn cứu khổ cứu nạn của Bồ-tát mà phát nguyện học theo hạnh nguyện của Ngài.

Thiên Quang Nhãn: nghĩa là đôi mắt sáng rực thấy xa vô cùng và thấy khắp hết thảy. Bồ-tát có đôi mắt sáng rực thấy khắp tất cả các cõi và thấy hết thảy sự khổ nạn, cầu cứu của chúng sanh trong khắp các cõi này.

Chánh Pháp Minh Như Lai:Chánh pháp nghĩa là Đệ nhất nghĩa đế, là lý như thật của các pháp. Minh nghĩa là đại trí tuệ. Có Đại trí tuệ mới có thể hiểu rõ chánh pháp, đệ nhất nghĩa đế. Ở địa vị Phật - Như Lai mới đạt được năng lực này. Hàng Bồ-tát trở xuống thì không được.

 Hỏi: Quán Thế Âm Bồ-tát đã thành Phật rồi, vậy tại sao không trụ ngôi Phật để hóa độ chúng sanh, vì quả vị Phật là thù thắng hơn hết, mà lại hiện làm thân Bồ-tát để hóa độ?

Đáp: Vì quả vị Phật là sự thành tựu ba đức tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Trong đó có phần tự giác, nghĩa là giác ngộ các pháp thế gian như ngũ dục lạc tài, sắc, danh, thực, thùy là tạm bợ, là pháp không thật, là nhân chiêu lấy quả khổ muôn kiếp nên đã đoạn hẳn. Chúng sanh phần nhiều yêu thích dục lạc của thế gian, nên rất khó buông xả mà học theo Phật. Còn Bồ-tát thành tựu hai hạnh là tự giác và giác tha. Trong đó giác tha, tức là cứu độ và dẫn dắt, dạy dỗ chúng sanh ra khỏi bể khổ sông mê, đến bờ giải thoát. Bồ-tát phần nhiều lấy bi nguyện cứu khổ cứu nạn làm đầu, mà chúng sanh ở thế gian này đa số là thọ khổ. Cho nên hai ý niệm này rất dễ hòa hợp gặp nhau. Tóm lại, chúng sanh vì chịu quả khổ không nổi nên cầu xin Bồ-tát cứu giúp, còn Bồ-tát vì hành sáu độ mà đắc quả, nên thấy chúng sanh khổ cầu cứu liền tìm đến cứu, mối tương quan giữa hai bên giống như là mẹ và con vậy, rất là dễ gần gũi.

Ngàn Phật Ở Hiền Kiếp:Hiền nghĩa là thiện. Kiếp nghĩa là thời phân, là khoảng thời gian đã được phân định. Hiền kiếp là kiếp Trụ. Theo "Quán Di-Lặc Bồ-tát Thượng Sinh Đâu Suất Thiên quyển thượng" và "Tam Di-Lặc Kinh Sớ" "Du-dà Luận Kiếp Chương Tụng" thì 1 trung kiếp của kiếp trụ là khoảng thời gian của Hiền kiếp. Hiền kiếp hợp chung với "Quá Khứ Trang Nghiêm Kiếp" và "Vị Lai Tinh Tú Kiếp" gọi là ba kiếp. Có nhiều thuyết Luận về kiếp có sự sai biệt. Chung quy lại kiếp nghĩa là khoảng thời gian hình thành và tan biến của cõi nước, được ước chừng khoảng thời gian rất lâu xa, khó có thể tính đếm được. Trong Hiền kiếp này có một ngàn Đức Phật lần lượt ra đời, bắt đầu tính từ quá khứ Câu-Lưu-Tôn Phật, Câu-Na-Hàm-Mâu-Ni Phật, Ca-Diếp Phật, Thích-Ca Mâu-Ni Phật cho đến đương lai hạ sanh Từ Thị Phật (Di-Lặc Phật) Sư-Tử Diệm Phật cho đến Lâu-Chí-Phật v.v...một ngàn Đức Phật, gọi là một ngàn đức Phật ở Hiền kiếp. Về bổn duyên có liên quan đến sự xuất hiện của một ngàn Đức Phật nơi đời, có thuyết cho một ngàn Đức Phật đây là một ngàn người con trai của vua Chuyển luân thánh vương, hoặc là hóa thân của Thiên Thủ Quán Âm (Thiên Thủ Thiên Tý Quán Thế Âm Bồ-tát Đà-la-ni Kinh quyển thượng) hoặc có thuyết cho rằng một ngàn Đức Phật mỗi vị xuất hiện nơi đời riêng biệt với nhau v.v...Luận giải thích mỗi nơi có khác.

          Các Vị Bồ-tát Được Nêu Trong Đại Bi Sám:

Đức Phật Thế Tôn đó vì thương nghĩ đến con và tất cả chúng sanh nên nói thần chú Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-la-ni này.

Bấy giờ, Đức Như Lai từ nơi tòa ngồi, sắp tuyên nói Đà-la-ni Tổng trì, khi ấy có vô số Bồ-tát ma-ha-tát đồng câu hội, tên của các vị Bồ-tát ấy là: Tổng Trì Vương Bồ-tát, Bảo Vương Bồ-tát, Dược Vương Bồ-tát, Dược Thượng Bồ-tát, Quán Thế Âm Bồ-tát, Đại Thế Chí Bồ-tát, Hoa Nghiêm Bồ-tát, Đại Trang Nghiêm Bồ-tát, Bảo Tạng Bồ-tát, Đức Tạng Bồ-tát, Kim Cang Tạng Bồ-tát, Hư Không Tạng Bồ-tát, Di Lặc Bồ-tát, Phổ Hiền Bồ-tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát, các vị Bồ-tát ma-ha-tát như vậy đều là những bậc Pháp vương tử đã được quán đảnh.

Tổng Trì Vương Bồ-tát:Tổng trì nghĩa là "tổng nhất thiết pháp, trì nhất thiết nghĩa" nghĩa là vô lượng Phật pháp, vô lượng nghĩa thú đều nằm trong đó. Tổng trì còn gọi là Đà-la-ni. Vương có nghĩa là tự tại, nghĩa là trên hết, là quyền hành tuyệt đối. Có rất nhiều Đà-la-ni, trong Kinh Pháp Hoa có nói "Trăm ngàn muôn ức Triền Đà-la-ni" Nghĩa là vị Bồ-tát này đã tu tập chứng được hết thảy các Đà-la-ni, thông đạt hết tất cả các Đà-la-ni! Vô lượng Phật pháp, vô lượng pháp môn tu, vị Bồ-tát này thảy đều biết hết.

Bảo Vương Bồ Tát:Hết thảy bảy báu nơi thế gian vị Bồ-tát này thảy đều coi nắm hết. Của báu là để trang nghiêm đạo tràng, trang sức tự thân và để ban phát cho người nghèo thiếu. Lại nữa, bảo đây còn hàm nghĩa là pháp bảo, tức là những lời dạy của Đức Phật, vì vậy Bảo Vương Bồ-tát còn có nghĩa là vị Bồ-tát nắm giữ tất cả Phật pháp.

Dược Vương Bồ-tát, Dược Thượng Bồ-tát:Dược Vương và Dược Thượng Bồ-tát là hai vị Bồ-tát đã được nêu lên trong Kinh Pháp Hoa. Trong Kinh Quán Dược Vương Bồ-tát, Dược Thượng Bồ-tát có nói rõ nhân duyên vì sao các Ngài có được danh xưng này. Vào vô lượng kiếp về trước có hai anh em nọ tín Phật, đem thuốc dâng cúng cho đại chúng Tăng. Chúng Tăng sau khi uống hết số thuốc này rồi thì khỏi hẳn các chứng bệnh về thân và các bệnh tham sân si, vì vậy lúc nào thân tâm cũng đại chúng cũng khinh an. Sau khi đã trị khỏi các chứng bịnh về thân và tâm rồi thì Ngài lại phát tâm bồ-đề, thệ nguyện sau này nhất định sẽ chứng đắc được vô thượng bồ-đề, làm bậc Pháp vương trong ba cõi. Do nhân duyên đó mà chúng Tăng đây đặt tên cho Ngài là Dược Vương Bồ-tát. Người em thấy anh mình đem thuốc cúng dường cho chúng Tăng cũng bắt chước làm theo, đồng thời cũng đem bố thí cho tất cả mọi người. Đại chúng Tăng đây sau khi uống thuốc của người em rồi thì được tăng cường khí lực, thân thể khỏe mạnh lên, tinh thần rất là phấn chấn, sau khi nghe lời Phật dạy rồi cũng đạt được pháp lạc thượng diệu, vì vậy Ngài được đại chúng Tăng đặt tên là Dược Thượng Bồ-tát. Đức Diệu Âm Bồ-tát trong Phẩm Diệu Âm của Kinh Pháp Hoa chính là Dược Vương Bồ-tát.

Đại Thế Chí Bồ-tát:là vị Bồ-tát dùng ánh sáng chiếu khắp tất cả, khiến cho chúng sanh lìa ba đường khổ, đạt đến quả vô thượng bồ-đề. Mỗi khi Ngài cất bước chân đi thì mười phương điều chấn động mạnh. Đại Thế Chí Bồ-tát là trợ thủ thứ hai của Đức Phật A-Di-Đà sau Đức Quán Thế Âm ở thế giới Cực Lạc. Theo "Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông chương thứ năm" có thuật lại chuyện Ngài lúc còn ở địa vị phàm phu (nhân địa) do chí tâm niệm Phật mà đạt được Vô sanh nhẫn, vì vậy hiện ở địa vị Bồ-tát đây, Ngài hướng dẫn chúng sanh ở thế giới ta-bà đây niệm Phật cầu sanh Tịnh độ.

Hoa Nghiêm Bồ-tát, Đại Trang Nghiêm Bồ-tát: Hoa Nghiêm Bồ-tát là vị Bồ-tát phát tâm bồ-đề cùng tột, tâm tu đắc hoa lục độ ba-la-mật, lục ba-la-mật chính là hoa. Lục ba-la-mật về mặt quả chứng có công đức trang nghiêm vô thượng bồ-đề, vì hoa trang nghiêm quả đức. Chữ đại của Đại Trang Nghiêm Bồ-tát là biểu thị sau khi đã được vô sanh pháp nhẫn rồi, dùng ba-la-mật để thành tựu sáu độ muôn hạnh, rồi lấy đó mà trang nghiêm vô thượng bồ-đề. Riêng hàng phàm phu mới phát tâm bồ-đề, vì vẫn còn tâm chấp trước mà tu sáu ba-la-mật, mà hễ tâm còn chấp trước thì công đức bị hạn cuộc không lớn được. Vì vậy, Hoa Nghiêm Bồ-tát là vị Bồ-tát tu sáu Ba-la-mật, vị Bồ-tát này ở trong pháp hội Hoa Nghiêm thọ trì Kinh Hoa Nghiêm.

Đại Trang Nghiêm Bồ-tát là vị Bồ-tát lấy quả tu sáu Ba-la-mật để trang nghiêm vô thượng Bồ-đề.

Bảo Tạng Bồ-tát: Trong kho tàng của vị Bồ-tát này có rất nhiều của báu, cũng dụ cho có rất nhiều vô lượng vô biên Phật pháp. Vì hễ được công đức của bố thí ba-la-mật, công đức của giới ba-la-mật, tinh tấn ba-la-mật, nhẫn ba-la-mật, thiền ba-la-mật, bát-nhã ba-la-mật, 37 phẩm trợ đạo, công đức bảo của vô lượng vô biên pháp môn, các công đức này đã được rồi mà không mất đi thì gọi là tạng. Có được mà mất đi thì không được gọi là tạng.

Đức Tạng Bồ-tát: Chữ bảo trong Bảo Tạng Bồ-tát là nói về mặt thí dụ. Còn Đức Tạng là nói trực tiếp, nghĩa là công đức thành tựu về mặt Phật pháp không mất đi. Tạng có ý nghĩa là sự tích chứa không mất đi. Món đồ mà đem cất trong kho thì không dễ gì mất, nếu như bỏ bừa bãi bên ngoài thì không bảo đảm. Bồ-tát mà đắc được vô sanh pháp nhẫn rồi, tốt nhất là Bồ-tát pháp thân từ bát địa trở lên, công đức mà các Ngài thành tựu không bị mất đi! Hàng Bồ-tát mà đắc được vô sanh pháp nhẫn không phải là dễ, huống hồ gì hàng phàm phu lại càng không được, công đức có được bằng sự miễn cưỡng cũng sẽ rất dễ vì giãi đãi mà mất đi!

Kim Cang Tạng Bồ-tát: Kim Cang có nghĩa là kiên cố không có gì phá vỡ nổi. Bồ-tát có được công đức này thì không gì có thể phá nổi. Để được công đức này, phải là pháp thân Bồ-tát mới có.

Hư Không Tạng Bồ-tát:Tạng nghĩa là kho chứa, chỗ cất giấu. Hư không tạng là chỗ cất giấu rộng lớn như là hư không vậy. Tuy Ngài đã thành tựu công đức rồi, nhưng từ chân tâm thanh tịnh, Ngài không có trụ vào nơi tướng của công đức đạt được đó, vì vậy gọi là Hư Không Tạng Bồ-tát. Còn hàng phàm phu, nếu có được chút công đức nào thì liền đem khoe với người khác, còn thấy là mình có công đức, còn chấp trước vào công đức. Đại Bồ-tát thành tựu công đức không thể nghĩ bàn, dù là vậy, nhưng trong lòng Ngài rỗng rang như là hư không, không có một chút khái niệm gì gọi là công đức cả.

Di-Lặc Bồ-tát:Di-Lặc phiên âm là Từ Thị, nghĩa là bậc có tâm từ bi. Từ Thị Bồ-tát ngay từ lúc sơ phát tâm bồ-đề đã phát nguyện không ăn thịt. Hễ ai quy hướng về Phật thì không ăn thịt. Thông thường người ta không ăn thịt là vì sức khỏe, động cơ là cho bản thân chớ không phải vì từ bi thương tưởng hết thảy chúng sanh. Còn Di-lặc Bồ-tát khi phát nguyện không ăn thịt không phải là vì giữ gìn sức khỏe cho bản thân mà là vị thương xót hết thảy chúng sanh. Mọi người đều là hữu tình như nhau, việc giết hại kẻ khác là không hợp đạo lý, không nên gây ra bất cứ sự đau khổ nào cho hữu tình. Do tâm từ bi đó mà Ngài có tên là Từ Thị Bồ-tát. Đức Phật đã thọ ký cho Di-Lặc Bồ-tát sau khi mạng chung sẽ sanh về nhân gian, tuổi thọ của con người khi ấy là tám muôn tuổi, quốc độ thanh bình, con người chỉ nói chuyện về nhân nghĩa đạo Đức, sống vui khỏe trường thọ. Lúc bấy giờ Di-Lặc Bồ-tát sẽ thành Phật, sau khi thành Phật, Ngài thuyết ba pháp hội, độ những người đã quy y Tam bảo thọ 5 giới trong các thời giáo hóa, chánh pháp, tượng pháp, mạc pháp của Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, trong pháp hội này được chứng đắc quả A-la-hán, được giải thoát. Sau ba hội, những người mà Đức Phật Di-Lặc thuyết pháp hóa độ là những đệ tử đã được chính thân Ngài giáo hóa từ kiếp lâu xa. Những người được thuyết pháp hóa độ trong ba hội đầu đó là đệ tử của Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Sau ba hội đó mới là những đệ tử đã được kết duyên với Di-Lặc Phật từ kiếp lâu xa. Không phải Đức Phật Di-Lặc chỉ nói pháp trong ba hội, mà sau đó còn nhiều hội khác.

Phổ Hiền Bồ-tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát:là hai vị Bồ-tát thượng thủ của Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Hai Ngài thường giúp Phật tuyên dương giáo pháp, hóa độ chúng sanh.

Phổ Hiền Bồ-tát:Phổ nghĩa là thân tướng và công đức của Bồ-tát cùng khắp. Hiền nghĩa là thuần nhất một vị diệu thiện. Ngài có phát mười đại nguyện. Mười đại nguyện này tiêu biểu cho tất cả hạnh nguyện của Bồ-tát nên còn được gọi là biển nguyện Phổ Hiền. Hình tướng của Ngài là cỡi trên voi trắng sáu ngà.

Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát:Còn gọi là Mạn-Thù-Sư-Lợi, Trung Hoa dịch là Diệu Cát Tường, Diệu Đức, là một vị Bồ-tát tiêu biểu cho trí tuệ. Đạo lực, thần thông, từ bi, biện tài của Ngài đều không thể nghĩ bàn cho nên gọi là Diệu Cát Tường. Trong Kinh Pháp Hoa có nói bảy Đức Phật thời quá khứ đều là đệ tử của Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát. Bảy Phật đó là: Tỳ-bà-thi Phật, Thi-khí Phật, Tỳ-xá-phù Phật, Câu-lưu-tôn Phật, Câu-na-hàm-Mâu-Ni Phật, Ca-diếp Phật, Thích-Ca Mâu-Ni Phật. Ngài Văn-thù-sư-lợi quá khứ đã thành Phật hiệu là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật, hiện tại ở thế giới phương bắc thành Phật hiệu là Hoan Hỷ Tạng Ma-ni Bảo Tích Phật, tương lai thành Phật hiệu là Phổ Kiến Như Lai. Bậc đã thành Phật, hiện tại lại làm Bồ-tát, đến thế giới ta-bà làm đệ tử cho Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Trước đây Đức Phật Thích-Ca là đệ tử của Ngài, mà nay Đức Phật Thích-Ca thành Phật thì Ngài làm đệ tử lại, cảnh giới của thánh nhân, quả thật trí phàm chúng ta không thể hiểu nổi, thật không dám khinh thường! người đời thì có các thứ phân biệt. Chư Phật Bồ-tát thì không như vậy. Như Quán Thế Âm Bồ-tát trước đây đã thành Phật, Đức Phật Thích-Ca cũng đã từng làm đệ tử lúc Đức Quán Thế Âm Bồ-tát thành Phật. Rồi bây giờ Đức Thích-Ca thành Phật, Quán Thế Âm Bồ-tát lại làm đệ tử của Ngài. Cảnh giới của chư Phật Bồ-tát là như vậy đó. Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát ở trong Phật pháp thật không thể nghĩ bàn. Như trong Kinh Hoa Nghiêm, Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát và Phổ Hiền Bồ-tát có địa vị rất cao. Ở trong Kinh Pháp Hoa cũng vậy, ngay nơi Phẩm Tựa đầu tiên của Kinh, Di-lặc Bồ-tát có điều nghi ngờ hỏi qua, Văn Thù sư lợi vì Di-lặc Bồ-tát mà trả lời. Và đến phẩm cuối chính là Phổ Hiền Bồ-tát. Qua đó có thể biết, hai vị Bồ-tát này rất là quan trọng đối với Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni.

Mười lăm vị đại Bồ-tát trên đều là bậc pháp vương tử đã được quán đảnh. Việc quán đảnh được thí dụ như sau: Một vị thái tử trước khi lên ngôi, được vua cha lấy nước ở bốn biển rót trên đỉnh đầu. Bậc Đẳng giác Bồ-tát cũng đến địa vị sắp làm Phật nên được gọi là Đại pháp vương tử, tức là bậc đệ tử đã đạt đến địa vị sắp thành Phật, cho nên được gọi là con của bậc Đại Pháp Vương. Pháp vương nghĩa là được tự tại trước các pháp, sai sử các pháp. Tử nghĩa là đệ tử, là con nối dõi. Các vị Bồ-tát này đều là đệ tử của Phật. Các vị Bồ-tát được đề cập trong đây đều đã đạt đến địa vị Đẳng giác, sắp thành Phật, địa vị rất cao.

          Kế Đến Là Chúng Phàm Phu:

Lại còn có vô lượng vô số bậc đại Thanh văn Tăng đều là hàng A-la-hán thập địa, do ngài ma-ha Ca-diếp làm thượng thủ. Lại còn có vô lượng Phạm-ma-la thiên, do Trời Thiện-tra-phạm-ma làm thượng thủ. Lại còn có vô lượng các vị thiên tử cõi Dục, do Thiên tử Đề-đầu-lại-tra làm thượng thủ. Lại có vô lượng Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, nhân, phi nhân v.v…do Thiên Đức đại Long Vương làm thượng thủ. Lại có vô lượng chư thiên nữ cõi Dục tham dự, do Thiên nữ Đồng Mục làm thượng thủ.

Đại A-la-hán:A-la-hán Trung Hoa dịch là Ứng cúng, Sát tặc, Vô sanh. Ứng cúng nghĩa là đủ đức độ đáng để Trời, Người cúng dường. Sát Tặc nghĩa là đã đoạn trừ hết tất cả giặc phiền não như tham, sân si; hay nói cách khác là đoạn hết hai phần kiết sử đó là Kiến, Tư hoặc. Vô sanh nghĩa là Vô sanh pháp nhẫn, không còn phải thọ sanh trong các đường luân hồi chịu quả khổ nữa. Đại A-la-hán tức là các bậc A-la-hán đứng đầu trong hàng A-la-hán. Các vị A-la-hán này đã chứng đến quả vị Bồ-tát thập địa, đã xả bỏ pháp tiểu thừa, có thể kham nhận pháp đại thừa.

Đại Ca-diếp: Là vị đại đệ tử đứng đầu của Đức Phật Thích-Ca, Ngài tu hạnh đầu đà với mười pháp khổ hạnh, Ngài là người nước Ma-kiệt-đà sanh cùng thời với Đức Phật. Ca-diếp là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Ẩm Quang, nghĩa là khi sanh ra, toàn thân Ngài phát ra một nguồn ánh sáng, hơn hẳn cả ánh sáng của mặt trời mặt trăng vì vậy có tên là Ẩm Quang. Ẩm là uống, quang là ánh sáng, uống, lấn át cả ánh sáng mặt trời mặt trăng. Ngài dẫn đầu vô lượng vô số hàng đại Thanh văn Tăng đến dự pháp hội Đại Bi.

Phạm thiên Thiện-tra-phạm-ma:nói cho đủ là Phạm Ma-la Thiên, là vị thần sáng tạo ra muôn loài trên vũ trụ trong tư tưởng của bà-la-môn giáo của Ấn Độ cổ. Phạm Thiên trú ở cõi sơ thiền, được phân bổ trong ba tầng Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại phạm thiên. Đại phạm thiên là chủ tể cai quản hai cõi kia. Cõi trời này không có dâm dục nên còn gọi là Phạm thiên, phạm nghĩa là thanh tịnh. Theo Phật giáo, Phạm thiên, Đế thích là những vị thần ủng hộ Phật pháp.

Nói vô lượng vô số, theo Kinh Pháp Hoa, Phẩm Hóa Thành Dụ có thuật: "Các vị Phạm Thiên ở mười phương thế giới, mỗi vị đều đem theo cung điện của mình từ trên hư không bay xuống" ở đây là nói số Phạm thiên vô lượng này là ở khắp mười phương thế giới đến để nghe pháp, để ủng hộ đạo tràng. Số Phạm Thiên này do Thiện-tra-phạm-ma dẫn đầu.

Dục giới Cù-bà-già Thiên tử: Dục giới còn gọi là Dục giới thiên. Đây là chỗ ở của loài hữu tình còn nặng về dục, dục về ăn uống, dục về ngũ nghỉ, dục về nam nữ. Dục nghĩa là tham muốn. Dục giới có sáu cõi trời (cũng có cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la và cõi người nữa) đó là Tứ thiên vương, Đao lợi thiên, Dạ-ma thiên, Đâu suất thiên, Hóa lạc thiên, Ma-la-thiên. Vô lượng vô số các vị thiên tử ở cõi dục trong mười phương cũng đến để nghe pháp và ủng hộ đạo tràng.

Vô Lượng Hộ Thế Tứ Thiên Vương: Là bốn vị trời ở lưng chừng bốn phương núi Tu-di, chuyên giữ gìn Phật pháp, che chở cho chúng sanh trong bốn đại châu. Bốn vị thiên vương đó là Trì Quốc Thiên Vương (phương đông) Tăng Trưởng Thiên Vương (phương nam) Quảng Mục Thiên Vương (phương tây) Đa Văn Thiên Vương (phương bắc). Cõi này cũng thuộc về cõi Dục giới, nhưng ở tầng thấp nhất trong sáu tầng. Có vô lượng các vị hộ thế Tứ Thiên Vương ở khắp mười phương đến nghe pháp và ủng hộ đạo tràng, nhóm này do Đề-đầu-lại-tra dẫn đầu.

Vô Lượng Trời, Rồng, Dạ-xoa...: tám bộ chúng quỷ thần Thiên (thiên nhân, tức là người trời, không phải vua trời), Long (có nhiều loài như loại làm mưa, loài giữ cung điện trời, loài ở thủy cung v.v...), Dạ-xoa (còn gọi là Quỷ thiệp tật, loài quỷ thần bay trên không trung nhanh như chớp, có thể gây tổn hại cho người), Càn-thát-bà (là thần nhạc trời, chuyên tấu nhạc mua vui cho trời Đế Thích, còn gọi là Hương Thần, vị thần có mùi thơm quyến rũ mạnh), A-tu-la (dịch nghĩa là Vô đoan chánh, hình thể vị thần nam rất xấu xí, bởi do tu nhân sân hận mà ra. Còn Nữ A-tu-la thì rất xinh đẹp, hơn cả tiên nữ. A-tu-la vương thường đánh với Trời Đế Thích vì tranh giành A-tu-la nữ xinh đẹp), Ca-lầu-la (là một loài chim đại bàng cánh vàng), Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già là các vị thần bảo vệ Phật pháp.

Có vô lượng bát bộ chúng ở khắp mười phương đến nghe pháp và bảo vệ đạo tràng, do vị Thiên Đức Long vương dẫn đầu.

Nhân và phi nhân V.v...: nhân là người ở thế gian, phi nhân là các loài quỷ thần khác. V.v... là còn nhiều chúng khác nữa.

Đồng Mục Thiên nữ:Như trên đã giảng, cõi trời dục giới do còn ái nam ái nữ cho nên có đủ thiên nam và thiên nữ. Vô lượng vô số thiên nữ này ở trong cõi dục của khắp mười phương do thiên nữ Đồng Mục dẫn đầu đến để nghe pháp. Trước đã thuần nói về nam tánh, giờ là nói về nữ.

          Các Vị Thần Chốn Nhân Gian:

Lại có vô lượng Thần hư không, Thần sông biển, Thần suối nguồn, Thần sông ngòi, Thần cỏ thuốc, Thần cây cối, Thần nhà cửa, Thần nước, Thần lửa, Thần đất, Thần gió, Thổ thần, Thần núi, Thần đá, Thần cung điện v.v…

Trong luật của Tỳ-kheo có ghi: Cây cỏ là nơi cư ngụ của loài quỷ thần. Lùm rừng cỏ cây là nơi họ cư ngụ. Thần Hư Không là vị thần ở trên không trung, có thể là các vị thần Nhật, Nguyệt, Tinh tú v.v...Thần Sông Biển, là vị thần cư ngụ ở sông ngòi biển cả. Thần Suối Nguồn v.v...đều lấy chỗ cư ngụ của mình mà đặt tên. Thần Nhà Cửa là vị thần ở chung với con người. Thần Nước, Lửa lấy nước lửa làm chỗ ở, cũng có thể nói là trên người của loài thần này có lửa. Nghiệp báo của thế gian rất là khó nói, có loài quỷ thần chịu khổ bị lửa thiêu đốt giống như là ở trong địa ngục vậy, có loài chúng sanh chịu quả báo, ở trong lửa cũng giống như là ở trong nhà vậy. Thần Đất, thần gió v.v... cũng đều đến đây để nghe Đức Phật nói pháp vậy.

          Mười Sáu Lời Nguyện Theo Đức Quán Thế Âm:

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau biết tất cả pháp

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm được mắt trí tuệ

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau độ tất cả chúng

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm được phương tiện khéo

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau ngồi thuyền Bát-nhã

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm vượt khỏi biển khổ

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau được giới, định, đạo

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm lên núi Niết-bàn

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con mau vào nhà vô vi

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm

Nguyện con sớm đồng thân pháp tánh

Nếu con hướng núi đao

Núi đao tự gãy rời

Nếu con hướng hầm lửa

Hầm lửa tự giập tắt

Nếu con hướng địa ngục

Địa ngục tự tiêu diệt

Nếu con hướng ngạ quỷ

Ngạ quỷ tự no đủ

Nếu con hướng Tu-la

Ác tâm tự điều phục

Nếu con hướng súc sanh

Tự đắc đại trí tuệ.

Hết thảy mười sáu lời nguyện này đều quy nạp về Nguyện, Hạnh, Qủa. Hai nguyện đầu là cầu cho được đại trí tuệ. Đại trí tuệ là sự biết "mau biết tất cả pháp" Mắt trí tuệ là chủ thể biết. Lại nữa, đại trí tuệ tức là nhất thiết trí, nhất thiết chủng trí, là trí biết hết thảy. Trí này là trí của Phật. Trong Kinh Pháp Hoa có nói: "Chỉ có Như Lai mới biết chủng tướng và thể tánh của những chúng sanh này, Họ nhớ niệm đến cái gì? suy nghĩ điều gì? tu hành như thế nào? nhớ niệm thế nào? suy nghĩ thế nào? tu hành thế nào? dùng Pháp gì để nhớ niệm? dùng Pháp gì để suy nghĩ? dùng Pháp gì để tu hành? dùng Pháp gì để chứng đắc?" "Tất cả pháp" là đối tượng nhận biết "Trí tuệ nhãn" là chủ thể nhận biết.

"Nguyện con mau độ tất cả chúng" "Nguyện con sớm được phương tiện khéo" hai câu này là nguyện thành tựu tâm đại bi. Đại trí tuệ, đại bi tâm được viên mãn thì là thành Phật, là đạt A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề, là vô thượng bồ-đề. Vì thế bốn lời nguyện đầu cũng đồng với phát tâm A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề. Đầu tiên hết là phát nguyện A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề rồi sau đó mới tu học giới định tuệ

"Nguyện ngã tốc thừa bát-nhã Thuyền" "Nguyện ngã tốc đắc giới định đạo" hay còn gọi là giới định tuệ. Có nguyện, có hành thì sẽ đắc quả. Quả chứng được đó là "Vượt khỏi biển khổ" biển khổ là nói cái khổ nhiều, mênh mông như là biển vậy. "lên núi niết-bàn" niết-bàn là ra khỏi rừng mê, không còn mê muội bất cứ thứ gì nữa. "vào nhà vô vi" vô vi đây là cảnh giới của chư Phật. Vào nhà vô vi tức là vào nhà Như Lai. Trong Kinh Pháp Hoa có nói: "Nhà Như Lai chính là Tâm từ bi, y Như Lai chính là lòng nhu hòa nhẫn nhục..." Nhà Như Lai chính là bản tánh đại từ đại bi vậy. "Thân pháp tánh"là sanh thân của Phật và đại Bồ-tát thị hiện, một trong năm thứ pháp thân của Như lai, một trong hai thứ thân của Bồ-tát. Qủa đạt được đó là vậy.

Mười đại nguyện này là chánh nhân tối thượng để người hành trì chú Đại Bi hướng tới, và nó cũng nói lên sức oai thần rộng lớn của Bồ-tát là có thể khiến cho một phàm phu phát khởi tâm bồ-đề, tu viên mãn sáu pháp ba-la-mật, thẳng tiến đến ngôi quả Phật, đây là sự khẳng định Đức Quán Thế Âm Bồ-tát đã đạt đến địa vị Phật quả tối thượng. Hơn thế nữa, Mười nguyện này góp phần làm tăng hiệu lực không thể nghĩ bàn của thần chú Đại Bi, vì nguyện có lớn thì đức mới lớn, đức có lớn thì mới có thể cứu độ hết thảy chúng sanh.

Sáu lời nguyện sau là sự phát khởi đại bi tâm nghĩ đến những chúng sanh đang bị đọa đày nơi ba đường ác mà muốn cứu khổ. Núi đao, rừng kiếm, hầm lửa...là những hình phạt thọ khổ chốn địa ngục. Ngạ quỷ là loài quỷ đói. Loài quỷ này vì sanh tiền tham lam bỏn sẻn quá mức nên chết đi do nghiệp lực nên không ăn được thức ăn, có loài nghiệp lực nặng thì ngay cả tên thức ăn cũng không được nghe hà huống gì được ăn. A-tu-la, súc sanh đều cùng một loài như nhau, do trồng nghiệp si mê nên thọ quả báo này. Si nghĩa là theo đuổi một thứ gì đó không dứt ra được. Mê là vì đắm say theo đó đến nổi không còn phân biệt phải trái, đúng sai...

Trước khi trì chú Đại Bi, người trì phải theo Bồ-tát mà phát mười sáu lời đại nguyện này cùng với niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát và Phật A-Di-Đà. Ý chỉ này quả thật là cao lớn. Trong Kinh này có nói : "Nếu người trì tụng thần chú Đại Bi này mà ngay nơi đời hiện tại, tất cả những điều mong cầu không được toại ý thì thần chú này không đáng gọi là Đại Bi Tâm Đà-la-ni, chỉ trừ những kẻ bất thiện và thiếu lòng chí thành". Thế nên phải phát mười sáu nguyện này trước khi trì tụng, ngụ ý là muốn người trì tụng thần chú Đại Bi có cầu điều chi đi nữa cũng không được làm tổn hại đến lợi ích của người khác và làm hư mất hạt giống tâm bồ-đề của mình.

Niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ-tát là khởi tâm cung kính Ngài, tin tưởng những gì Bồ-tát nói và cung kính vâng và làm theo lời dạy đó. Niệm danh hiệu Đức Phật A-Di-Đà, bậc thầy của Đức Quán Thế Âm Bồ-tát là muốn mọi người quy hướng về Tịnh độ, kết duyên với Đức Phật A-Di-Đà, rồi nhờ sức trì niệm thần chú Đại Bi này mà khi xả bỏ báo thân, nếu ước nguyện muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì thần lực của chú Đại Bi này sẽ giúp chúng ta toại nguyện.

Đại Địa Sáu Hình Thức Chấn Động: Đại địa là khắp mặt đất, cả cõi ta-bà bao gồm có địa cầu của chúng ta đây. Chấn động nghĩa là rung mạnh, cường độ rất mạnh. Sáu thứ chấn động đó là: chấn (tiếng rung mạnh) hống (tiếng gầm rú) kích (tiếng dội ầm ầm) động (lay động không yên) dũng (bỗng nhiên vọt lên) khởi (dâng lên). Sáu loại chấn động này biểu thị cho sức mạnh của chú Đại Bi nhằm hàng phục thiên ma, chế ngự các ngoại đạo, phá trừ tà kiến...khiến cho tất cả thiên ma, ngoại đạo nghe thấy sợ hãi rùng mình, dựng tóc gáy.

          Thế Nào Là Sám Hối?

Sám là nói tắt của từ sám-ma, ksama, nghĩa là hối hận tội lỗi mong được tha thứ.Hối là dịch ý của từ tiếng phạn Đề-xá-na, nguyên nghĩa là thuyết. Trong Phật pháp, nếu người nào phạm lỗi (trừ trường hợp cực nặng mà có tâm tự hỗi lỗi thì có thể được) mà không chịu phơi bày lỗi lầm của mình thì không được thanh tịnh trở lại. Phải nên đối trước chư Phật, Bồ-tát, sư trưởng, đại chúng mà thưa bạch phát lồ nguyên do và quá trình tạo tội của mình, mục đích là để mong được diệt tội.

Sám là trọn đời không phạm. Hối là biết được lỗi trước. Kinh Phổ Hiền Bồ-tát nói: "Những điều nên hối cải thì phải hối cãi, những sai phạm nên thừa nhận thì phải thừa nhận"

Đứng về mặt phàm phu, ai nấy cũng đều có tạo nghiệp. Như bài sám hối trong Đại Bi Sám Pháp đây có ghi: "Đệ tử và tất cả chúng sanh, hiện tiền ngay nơi đây đều có thần thông và trí tuệ, trên sánh tâm Phật, dưới đồng muôn loài. Nhưng bởi từ vô thỉ đến nay, do vô minh điên đảo che mất chân tánh nên xúc cảnh hôn mê, hễ vừa khởi tâm liền bị dính mắc, nên trong pháp bình đẳng, khởi nghĩ mình người. Do ái kiến làm gốc, thêm thân khẩu làm duyên trong cõi luân hồi, tạo hết thảy tội..."

Bởi do tạo nghiệp nên hình thành ba chướng. Ba chướng đó là nghiệp chướng, phiền não chướng và báo chướng. Ba thứ chướng này khiến cho người ta không thể dấy khởi các pháp thiện trong lòng. Không thể khởi thiện, không thể nghĩ thiện, không thể làm thiện, là pháp ngăn thánh đạo. Người học Phật, nếu không dẹp ba thứ chướng này thì không thể phát tâm bồ-đề, không thể hành pháp giải thoát. Đã vậy, nếu không sớm đoạn trừ thì trái lại, lần lần sẽ bị ba thứ chướng này làm mất đi chút thiện căn của mình trước kia. Lúc bấy giờ dù có học Phật hay là xuất gia hành theo Phật đi nữa cũng không có tiến triển đắc quả lợi ích. Tại sao. Vì "Pháp ta thậm thâm diệu, hay trừ các kết sử, kẻ mê đắm ba cõi, không thể nào hiểu được - Luận Đại Trí Độ" Do các căn không thanh tịnh, dính mắc các pháp thế gian, mê đắm tài sắc dục lạc, nên đối với diệu lý giải thoát của chư Phật không làm sao hiểu được. Thế nên tuy hình thức là Phật tử nhưng tâm không tương ưng với Phật, cũng giống như người nghèo đi vào kho báu mà trở ra tay không vậy. Pháp của Phật được dụ cho trân bảo. Thế nên, những ai theo Phật, muốn học pháp thượng diệu của Phật, muốn hiểu rõ lời Phật dạy, muốn sâu vào tạng pháp của Phật, muốn ra khỏi ba cõi, muốn phát tâm bồ-đề hành hạnh Bồ-tát, muốn chứng được quả vô thượng bồ-đề thì phải hành pháp sám hối.

Xin nói rõ thêm, hối nghĩa là hối lỗi, khác với truy hối, điệu hối, ác tác. Nó là một trong ngũ cái. Ác tác nghĩa là đối với những hành vi tạo tác mà mình đã tạo, cảm thấy không đúng mà khởi ngược lại hối hận sẽ chướng ngại cho tu định. Về mặt sám hối, có hai cách sám hối của đại thừa và tiểu thừa.

Tiểu thừa sám hối: Đức Phật chế Tỳ-kheo có tội không được che giấu (che giấu sẽ xử phạt nặng thêm) mà phải nên đến trước một thầy Tỳ-kheo khác phơi bày tội lỗi. Phơi bày tội lỗi chính là sám hối. Tùy theo phạm tội nặng hay nhẹ mà y theo luật Phật chế định để sám hối cho đúng pháp, đó chính là nói ra cho người khác biết tội lỗi của mình, nói đây thuộc tội gì, phải chịu xử phạt như thế nào, tất cả được tiến hành y theo luật Tăng.

Tội lỗi vừa sám hối hoặc nhận chịu hình thức xử phạt cũng giống như đổ vật dơ bẩn trong bình ra ngoài nắng rồi rửa sạch vậy, giới thể được thanh tịnh trở lại, không còn có những triền cái nghi hối nữa, sẽ không còn chướng ngại thánh đạo, tiến tu trong Tăng đoàn như buổi ban đầu. Khi có tỳ-kheo phạm giới, Đức Phật dạy người đó hành pháp sám hối và hối lỗi, định kỳ nửa tháng bố-tát một lần, đồng thời chế định ngày sau cùng của mùa an cư là ngày tự tứ.

Pháp sám hối của hàng Tiểu thừa cần có đủ 5 pháp: Thứ nhất là Trịch áo bày vai phải, có nghĩa là để tiện cho việc thưa thỉnh. Thứ hai là gối phải chấm đất, biểu thị cho sự hăng hái khẩn thiết. Thứ ba là chắp tay, biểu thị thành tâm, không tán loạn. Thứ tư là thuật lại tội danh, nói đó là tội Ba-la-di hay là Tăng tàn v.v...phơi bày ra hết không được che giấu. Thứ năm là lễ chân, là biểu thị sự khiêm hạ chí kính.

Đại thừa sám hối: Theo tổ Trí Giả, người đã chứng đắc được Pháp Hoa tam-muội và cũng là người chuyên soạn pháp sám hối dựa vào "Kinh Quán Phổ Hiền Hành Pháp" và các Kinh điển phương đẳng đại thừa khác, sám hối đại thừa phải có đủ mười pháp: Một là tin rõ nhân quả. Hai là sanh cực sợ hãi. Ba là khởi lòng hổ thẹn vô cùng. Bốn là phơi bày các tội đã tạo trước đây. Năm là tìm cầu phương pháp diệt tội (Hành theo cách sám hối của các Kinh phương đẳng) Sáu là đoạn cái tâm cứ mãi tạo tội. Bảy là khởi tâm hộ trì Phật pháp. Tám là phát tâm bồ-đề thề nguyện độ tất cả chúng sanh. Chín là thường nhớ nghĩ đến mười phương chư Phật. Mười là quán tội tánh vốn không.

          Lợi Ích và thời điểm sám hối:

1.Sám hối trước khi quy y: Vì Tam bảo Phật Pháp Tăng thanh tịnh, nhóm chứa vô lượng công đức. Người phát tâm quy y, vì niệm thế tục còn uế trược nên cần phải sám hối cho thanh tịnh để chung dòng thanh tịnh với Tam bảo. Lại nữa, có sám hối rồi các căn mới thanh tịnh, như vậy mới lãnh thọ được lời Phật dạy.

2. Sám hối trước khi thọ giới:Theo Kinh Tăng Nhất A-hàm thì trước hết dạy cho giới tử pháp sám hối, kế đến mới dạy về thọ giới, sau cùng mới nói về phát nguyện. Trong Đại Trí Độ Luận cũng nói giống như vậy. Việc sám hối trước khi thọ giới được thực hiện trước bốn chúng.

Hai chúng xuất gia và tại gia đây, vì thấy thế gian còn phiền não đau khổ, hết thảy đều là vô thường, con người phần đông sống trong khổ não và tạo nghiệp, ngày qua tháng lại, suốt cả cuộc đời chỉ đắm say nô lệ cho tiền tài sắc dục, vì nó mà gây biết bao nhiêu tội lỗi, hoặc nhẹ hoặc nặng; cứ theo vòng tuần hoàn nhận tạo, tạo nghiệp lãnh quả, rồi trong lãnh quả tạo nghiệp cứ như vậy mãi lần hồi phước mỏng nghiệp dày, phải đọa xuống địa ngục chịu khổ, đến đây thì coi như không có ngày ra. Rồi nghĩ đến thân phận mình hiện tại, may nhờ có chút phước duyên, được sanh làm người, được gần gũi chùa chiền, được nghe Phật pháp, nhận ra con đường theo Phật là con đường đưa đến giải thoát, chấm dứt không còn sự khổ đau, con đường đưa đến hạnh phúc miên viễn không cùng tận; và cũng hiểu được chỉ có Tam bảo là chỗ an ổn vững chắc nhất cho mình về nương tựa, vì vậy khởi tâm quý tiếc ân cần tha thiết sám hối, để mong được sống chung trong ngôi nhà Phật pháp.

3. Sám hối để cho các căn được thanh tịnh:có thanh tịnh mới có thể nghe nhận lời Phật dạy. Sau khi phát nguyện thọ giới rồi, việc cho rằng không nhất định phải nghiêm trì giới thanh tịnh là hiện tượng khó tránh của đại đa số người thọ giới đời nay. Ngay như người chân chánh phát tâm xuất gia đi nữa, cũng có đôi khi sanh khởi phiền não, không thể kiềm chế bản thân mà phạm giới. Ngay như thời Phật còn tại thế, cũng còn có khi có bật thánh còn chưa thể giữ giới trọn vẹn hà huống gì hàng phàm phu phiền não sâu dày? Đây là điều chướng ngại cực lớn đối với người tu học Phật pháp. Do đó trong Phật pháp có pháp môn sám hối. Chỉ cần sám hối đúng pháp thì sẽ khiến cho người đó được thanh tịnh trở lại. Trong Kinh thường nói: "Có tội nên sám hối, sám hối sẽ thanh tịnh" Vì những phiền não dấy khởi trước kia tạo thành lỗi lớn, đã khắc in thành vết thương sâu dày, tạo thành sự chướng ngại lớn cho việc tiến tu đạo nghiệp, không đạt được định, không sanh trí tuệ. Nếu có định tuệ đi nữa thì chắc chắn đó là tà định, ác tuệ. Pháp chế định sám hối trong nhà Phật đó là ra trước đại chúng phơi bày hết tất cả lỗi lầm của mình, chấp nhận mọi xử phạt của Tăng đoàn. Trãi qua một cuộc sám hối khẩn thiết chân thành, thì người phạm lỗi sẽ được thanh tịnh ngay. Giống như trong bình có độc, trước hết phải đổ thứ độc đó đi, rồi rửa cho sạch sẽ, sau đó mới yên tâm bỏ vật ngon vào. Cũng như một tấm vải dơ, trước hết lấy xà-phòng giặt sạch, rồi sau đó mới có thể nhuộm màu. Cho nên chỉ có sám hối đúng pháp mới có thể trì luật thanh tịnh, mới có thể khiến cho động cơ bất thuần dần dần hợp luật. Sám hối đúng pháp sẽ tránh đọa ba đường ác. Đây là phương tiện và lòng từ bi của Đức Phật cho sám hối nghiệp chướng, khiến cho các căn của chúng ta được thanh tịnh trở lại, từ đó mới có thể đón nhận dòng sữa pháp. Sám hối và trì giới có mối quan hệ mật thiết với nhau. Cho nên quy tắc của giới luật không phải ở một người mà là ở đại chúng; không phải ở chỗ không phạm - trên thực tế trường hợp đưa ra không thể là không phạm, mà ở chỗ người phạm có thể sám hối thanh tịnh. Trong nhà Phật có hai hạng người mạnh nhất. Thứ nhất là hạng người không tạo ác, thứ hai là tạo ác mà biết sám hối.

4. Vì để giữ thanh tịnh cho Tăng đoàn:Như người nào phạm lỗi trái ngược với việc tịnh hóa thân tâm và hòa hợp đại chúng thì đều phải nên sám hối, ra trước đại chúng thừa nhận lỗi của mình. Nếu như phạm lỗi nặng thì phải chấp nhận sự trừng phạt của đại chúng, bắt người đó làm việc nặng thay cho đại chúng, hoặc là hết thảy mọi người không chuyện trò với người đó, không qua lại với họ, khiến cho họ bị cô độc. Còn nếu như phạm trọng tội không thể sám hối, thì phải tẫn xuất ra khỏi Tăng đoàn, làm vậy mới có thể giữ cho Tăng đoàn được thanh tịnh.

5. Trong khổ nạn của thời đại cộng nghiệp này phải nên sám hối:Đây là do những hành nghiệp của mình đời này hay đời trước tạo tác mà hiện tại gặp dịp phải lãnh chịu quả ác. Việc này phải nên sớm đến trước tượng chư Phật, Bồ-tát (Nếu không có tượng thì nghĩ đến chư Phật Bồ-tát ở bên cạnh cũng được) thống thiết sám hối. Một cách sám hối tha thiết, thành khẩn đầy đủ niềm tin và thệ nguyện là nguồn sức mạnh vô song để hướng tới cuộc sống mới. Lại thêm khởi tâm cầu cho quốc thái dân an, mưa hòa gió thuận.

6. Còn vì cứu những kẻ hủy phạm giới cấm:Đối với những người phạm giới, mình còn cần phải cứu giúp cho họ sám hối, khuyến bảo họ nên sám hối. Dù người đó có phạm trọng giới không cho sám hối đi nữa, mình cũng nên làm sao để cho họ sanh tâm hổ thẹn, hướng dẫn họ nên tu tạo nhiều công đức để hồi hướng chuộc tội. Làm vậy mới phù hợp với tinh thần giới của Đại thừa.

7. Sám hối là mong mõi trừ sạch nghiệp chướng:Nguyện nhờ công đức như pháp sám hối đây, khiến cho các chướng nghiệp chướng, phiền não chướng, báo chướng đây được diệt trừ, đời đời kiếp kiếp sanh ra nơi nào cũng được gặp Phật nghe pháp quy kính Tăng, không còn bị đọa lạc nơi ba đường ác địa ngục ngạ quỷ súc sanh, sớm ngày xuất gia theo phật, ra khỏi ba cõi, khoái lạc mãi mãi.

          Cách thức và tánh chất sám hối:Có nhiều cách phân loại.

          I. Sám hối chế giáo: Phân làm ba

  1. Chúng pháp sám: Nghĩa là đến trước bốn vị Tăng trở lên để sám hối.

  2. Đối thủ sám: Đến trước một vị Tăng luật sư sám hối.

  3.Tâm niệm sám: Đến trước Bổn tôn (tượng Phật) sám hối.

          II. Sám hối phân ra làm sự sám và lý sám.

  1. Lý sám:nghĩa là quán lý thật tướng của các pháp là đều rỗng rang như hư không. Tội lỗi đây là do vọng tâm gây tạo, mà vọng tâm thì không có thể, nên tội lỗi cũng "không", nhân đó mà diệt trừ các tội. Đây còn gọi là thật tướng sám hối. "Tất cả biển nghiệp chướng, đều từ vọng tưởng sanh, nếu người muốn sám hối, ngồi ngay quán thật tướng" đây gọi là lý "Vô sanh sám hối." Cái lý của quán thật tướng là nghĩ đến sám hối thể của tội vô sanh.

   2. Sự sám:nghĩa là hành trên sự tướng lạy Phật tụng Kinh v.v...Phát lồ sám hối tội lỗi. Đây còn gọi là "tùy sự phân biệt sám hối". Sám hối thông thường thì đa phần là thuộc về loại này. Phần này lại chia làm hai:

   2.a. Tác pháp sám hối:lược xưng là Tác pháp sám. Người xuất gia có chế định tác pháp phải đúng như luật là hành sám hối. Đây gọi là "tác pháp sám". Các Kinh Luận còn lại hiện nay cũng không có nói đến người cư sĩ phạm giới phải sám hối như thế nào. Ngày thọ bát quan trai, nam hoặc nữ cư sĩ phạm giới, nếu đến trước bốn chúng mà nói tội thì e là không tiện. "Tứ Bối Kinh" có nói:  "Sớm chiều thắp hương đốt đèn, đảnh lễ tam Tôn (Tam bảo) hối lỗi mười phương cung kính Tứ bối (bốn chúng xuất gia)" trong Pháp Kính Kinh có nói: "Người cư sĩ tu đạo........gặp đời không có Phật, không có Kinh, lại không được gặp bậc hiền thánh, vì vậy nên đảnh lễ mười phương chư Phật. ........tụng ba phẩm Kinh, tất cả những điều ác đã làm từ đời trước, tự sám hối lấy, cải lỗi tu thiện." Việc hướng Phật (tháp hoặc tượng Phật) sám hối có thể là được hình thành từ việc sám hối của hàng cư sĩ tại gia thọ giới.

   2.b. Thủ tướng sám hối:gọi tắc là Thủ tướng sám hay còn gọi là Quán tướng sám hối, tức là quán tưởng tướng hảo của Phật để sám hối diệt tội.

          III. Năm loại sám hối:theo Kinh Quán Phổ Hiền Bồ-tát ghi: pháp sám hối của hàng cư sĩ tại gia gồm có:

  1. Không phỉ báng Tam bảo và phải tu lục niệm (Niệm Phật, Pháp, Tăng, giới, thí, thiên).

  2. Hiếu dưỡng cha mẹ, cung kính sư trưởng.

  3. Dùng chánh pháp trị nước, khiến lòng người thẳng ngay.

  4. Sáu ngày trai giới không sát sanh.

  5.  Tin sâu nhân quả, tin rằng Phật pháp trường tồn.

          IV. Sám hối sáu căn:  tức là sám hối tội chướng của sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sám pháp là nghi thức hành trì quan trọng của tông Thiên Thai.

          V.Sám hối yếu, lược, quảng: Ngoài các hình thức sám hối này ra, trong sách Vãng sanh lễ tán cũng có nêu cách sám hối Yếu, Lược, Quảng.

  1. Yếu sám hối: tức là xướng tụng, mười câu kệ như Nam mô sám hối mười phương Phật, nguyện con diệt trừ hết thảy các tội lỗi cho đến ngưỡng nguyện Phật quang che chở, trao tay tiếp dẫn, nương nhờ bổn nguyện chư Phật đó mà được vãng sanh sanh cõi Phật v.v...

  2. Lược sám hối:Năm pháp sám hối như tu hành sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỷ, hồi hướng, phát nguyện. "Con xưa đã tạo các nghiệp ác, đều do vô thỉ tham sân si, từ thân miệng ý phát sanh ra, hết thảy con nay xin sám hối" đây gọi là lược sám hối.

  3. Quảng sám hối:nghĩa là rộng khắp trước Tam bảo Phật Pháp Tăng và huynh đệ đồng tu mà sám hối hết thảy các tội của quá khứ hoặc hiện tại; đồng thời nêu ra văn quảng sám hối.

          VI.Tướng sám hối:phân làm ba phẩm.

  1. sám hối đến nổi từ lỗ chân lông và đôi mắt tuôn máu thì gọi là thượng phẩm sám hối.

  2. Từ lỗ chân lông tuôn ra chất nước ấm, đôi mắt chảy máu, đây gọi là trung phẩm sám hối.

  3. Toàn thân hơi sốt, con mắt thì chảy nước, đây gọi là hạ phẩm sám hối.

Lại nữa, nếu tâm sám hối vừa dấy khởi mà liền đó không giữ ý niệm tạo tội thì gọi là thượng phẩm sám hối; cách thời (2 tiếng đồng hồ) không giữ ý niệm tạo tội thì gọi là trung phẩm sám hối; cách ngày không giữ ý niệm tạo tội thì gọi là hạ phẩm sám hối.

          VII. Khi sám hối nên phát bảy thứ tâm:

  1. Sanh tâm đại hổ thẹn:Hổ thẹn vì mình với Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni xưa kia đồng là phàm phu, mà nay Đức Phật đã thành Phật từ nhiều kiếp, còn mình vẫn còn lưu chuyển trong sanh tử, không có hạn kỳ ra khỏi.

  2. sanh tâm sợ hãi:hàng phàm phu chúng ta, những hành nghiệp đã gây từ thân miệng ý thường tương ưng với tội, do nhân duyên đó mà sau khi mạng chung phải đọa vào các đường như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chịu vô lượng khổ, do đó mà sanh tâm sợ hãi.

  3. Sanh tâm chán lìa:chúng ta lưu chuyển trong sanh tử, hư giả không thật, cũng như bọt nước, mau nổi mau diệt, lưu chuyển qua lại, đồng thời thân này là sự kết tập của các khổ, hết thảy đều bất tịnh, do đó mà sanh tâm chán xa.

  4. Phát tâm bồ-đề:Muốn thành tựu thân Như Lai thì nên phát tâm bồ-đề để cứu độ chúng sanh, không có lẫn tiếc gì thân mạng của cải.

  5. Tâm oán thân bình đẳng:nghĩa là đối với tất cả chúng sanh đều khởi tâm từ bi không có tướng ngã tướng nhân, bình đẳng cứu độ, dùng tâm này thay sám hối.

  6. Tâm nghĩ báo ân Phật:Đức Như Lai đã vì chúng ta mà từ vô lượng kiếp về trước tu hành khổ hạnh, ân đức như vậy thật khó báo đền, vậy chúng ta phải ngay nơi đời này, dõng mãnh tinh tấn, không kể gì đến thân mạng, độ khắp chúng sanh đồng thành chánh giác. Phải nên có ý niệm này.

  7. Quán tánh của tội vốn không:tánh của tội vốn không, không có thật thể, chỉ do nhân duyên điên đảo mà sanh. Có thể biết tánh của tội xưa nay vốn không cho nên tội cũng không. Phải quán tưởng như vậy.

* Bổ sung thêm phần "Nhập Bồ-tát hạnh"

* Cách tốt nhất để diệt trừ tội chướng đó là tu "quán vô ngã"

          Hoàn Tịnh:

Thế nào là từ Ngũ chủng tướng mà diệt trừ ngũ chủng ác tác đã tạo?

 1. Hết thảy chánh pháp mà Đức Phật đã nói đều có nhân duyên (hợp) và cũng có xuất li (tan). cho nên tội đã phạm, được tha thứ có thể trở lại thanh tịnh. do đó trừ bỏ được điều ác đã tạo. (quán tánh tội vốn không)

 2. Do người phạm tội vô tri, phóng dật, phiền não bừng cháy cho đến kiêu mạn nên phạm cái tội đã gây tạo, tức là sự vô tri cho đến khinh mạn phiền não đây, ta đã đoạn diệt; chánh trí có được cho đến lòng tôn kính, ta đã sanh khởi, do đó trừ khiển được ác tác đã sanh.

3. Đương lai không phạm, ý nhạo ta đã sanh khởi, do đó trừ khiển ác tác đã sanh.

4. Mình đã đến trước các vị đồng phạm hạnh có trí, phát lồ sám hối, do đó trừ khiển ác tác đã sanh.

5. Ta đã xuất gia trong pháp Tỳ-nại-da(13) mà Đức Phật đã khéo nói, tuy đã qua các học xứ (giới điều) mà có thể sám hối diệt trừ (ác tác) cực thiện, nhưng Đức Bạc-già-phạm(14) dùng vô lượng pháp môn để quở trách ác tác tương tục khởi là cái(15) là chướng(16). Ta nay đối với ác tác(17) tương tục kia chấp chặt không thể trừ khiển, chẳng phải là cực thiện. Biết như vậy rồi, nhờ đó mà trừ khiển ác tác đã sanh, như vậy gọi là các lỗi đã phạm hoàn tịnh.

          Công Hiệu Sám Hối:

Một khi đã sám hối rồi thì sẽ có tâm trạng "không gì mà không thể giãi bày" Tất nhiên tâm địa thẳng thắn không tạo ác nữa để mà lo sám hối thì đương nhiên là tâm cũng sẽ an lạc rồi. Nhà nho có câu "Quân tử có lỗi, mọi người đều thấy" Lại nữa "Quân tử lòng rộng rãi bao dung" đây là nói đến tâm thái không chứa tội lỗi lòng yên dạ ổn, như thế mới có sức dõng mãnh mà tạo thiện.

Việc phát lồ sám hối sẽ giúp tiêu trừ nghiệp tội. Đối với xã hội ngày nay có thể nói, giống như là chết đi sống lại vậy. Nhờ đó mà tội lỗi của quá khứ không gây chướng ngại cho việc hành thiện của chúng ta nữa. Không gây chướng ngại cho việc huân tu định huệ thì có thể chứng ngộ giải thoát. Việc này cũng gống như là sự sống mới vậy. Cho nên gọi là thanh tịnh, khôi phục lại tư cách thanh tịnh của một vị Tăng.

Việc này cũng giống như "Kinh Thí Dụ Hạt Muối" trong Kinh A-hàm có nói: Cho dù là ác nghiệp lớn nặng đi nữa, như tạo nghiệp ngũ vô gián: giết cha, giết mẹ, giết a-la-hán, làm thân Phật ra máu, phá hòa hợp Tăng, đời sau nhất định phải bị đọa vào địa ngục, nhưng nếu có đủ thời gian sám hối - thời gian dài, chịu tu thân, tu tâm, tu giới, tu huệ thì nghiệp nặng liền chuyển thành nhẹ và tội này được xếp vào bất định nghiệp. Việc này cũng giống như lấy nhiều muối bỏ vào một con sông dài lớn, không thấy mặn tí nào. Hay nói cách khác, tất cả nghiệp đều có tánh khả năng cải thiện, cho nên chỉ cần chịu hạ quyết tâm thì ác nghiệp nào cũng đều có thể hy vọng chuyển nặng thành nhẹ, hoặc bất định. Còn ngược lại nếu cố ý làm ác, không có đủ thời gian để sám hối, lại không chịu tu thân, tu giới, tu tâm, tu huệ thì nhất định sẽ thọ quả báo. Việc này cũng giống như tuy muối không nhiều, nhưng nếu bỏ vào trong ly nước thì kết quả nước sẽ có vị rất mặn. ( như già chết bức bách gần kề thì khó rồi, nhưng nếu y vào Kinh Quán Vô Lượng Thọ thì chỉ còn một cách là niệm danh hiệu Đức Phật A-Di-Đà) cho nên đừng vì ác nghiệp đã thành mà lo lắng, chỉ nên lo đối trị ác nghiệp qua hành động tu tập thiện nghiệp. Chỉ có không biết sám hối, không biết tạo nghiệp thiện, thì ác nghiệp mới thật sự quyết định, trở thành định nghiệp khó trốn thoát.

Trong pháp Đại thừa, quán tánh của nghiệp vốn không nên có thể chuyển đổi sám trừ trọng tội, đây cũng có nghĩa là tu huệ vậy. Cho nên, nếu ai lỡ phạm ác nghiệm nặng, cũng đừng quá hoảng sợ mà chỉ nên thống thiết sám hối, tu học Phật pháp.

Tội ngũ nghịch cũng gọi là nghiệp vô gián, nhất định phải bị đọa vào địa ngục vô gián. Quả báo của địa ngục thật là đáng sợ. Nhưng trong Phật pháp có pháp giải tội. Những tội lỗi đã tạo có thể nương vào pháp sám hối để giảm nhẹ hoặc làm mất đi tác dụng. Vì vậy nên nói có tội phải sám hối. Sám hối rồi thì sẽ được thanh tịnh.

A-xà-thế vì tiếm ngôi vua mà giết cha phạm nghịch tội. Sau này ông theo Phật nghe pháp mà tỏ ngộ (Kinh Sa Môn Qủa - Trường A-hàm). Trong "Pháp Môn Văn Thù" nghịch tội của A-xà-thế, nhờ sự dạy răn của Ngài Văn Thù mà được giảm nhẹ tội, là chủ đề của "A-xà Vương Kinh". Vua A-xà Thế sám hối từ nơi ngài Văn Thù. "Kinh Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ", "Kinh Phật Thuyết Độn Chân Đà-la Sở Vấn Như Lai", "Kinh A-xà-thế Vương Nữ A-Thuật-đạt Bồ-tát" đều có nói đến việc này. Việc này lúc bấy giờ, quả thật là một sự tích giáo hóa quan trọng của truyền thuyết. Nghịch tội do tâm tạo, cho nên ngài Văn Thù giáo hóa A-xà-thế chủ yếu là lý "tâm tánh vốn thanh tịnh" "các pháp thảy đều không". Nói theo Phật pháp thì sám hối không phải là diệt nghiệp mà là làm yếu đi tác dụng của nghiệp, để cho ác nghiệp không gây chướng ngại trên bước đường tu đạo. Tội ngũ nghịch còn gọi là nghiệp chướng. Phạm tội rồi thì dẫu có tu hành như thế nào đi nữa cũng không thể chứng quả.

Kinh Sa-môn Qủa có dạy: "Nếu vua A-xà-thế không giết vua cha thì (nghe Phật thuyết pháp) sẽ chứng được pháp nhãn tịnh ngay nơi tòa này (chứng đắc sơ quả). Nhưng A-xà-thế hôm nay sám hối nên chỉ có thể giảm bớt tội lỗi, rút đi tội nặng". Kinh Tăng Nhất A-hàm và Luật tạng cũng đều có nói vua A-xà-thế được Vô căn tín hoặc Bất hoại tín. Nghịch tội do sám hối mà được giảm nhẹ, nhưng vẫn không thể chứng quả. Trong Kinh Vua A-xà-thế có nói: Vua A-xà-thế sau khi nghe pháp chứng được tín nhẫn còn gọi là thuận nhẫn, tương đương với Vô căn Tín và Bất hoại tín. Vua A-xà-thế tuy có chỗ ngộ nhập, nhưng vẫn phải đọa vào địa ngục Tân đầu, nhưng không có thọ khổ, có thể nhanh chóng sanh lên cõi trời.

Kinh Sa-môn Qủa ghi: "Vua A-xà-thế đã phạm nghịch tội giết cha đoạt ngôi, trong lòng lo lắng hối hận bất an, chiều đến gặp Phật. Phật thuyết pháp cho vua nghe. Vua hối lỗi xin quy y. Phật nói với vua A-xà-thế: Ông mê đắm năm dục mà hại phụ vương. Nay trong pháp hiền thánh mà biết tự sám hối thì liền được lợi ích. Ta vì thương ông mà nhận lời sám hối" Sau khi vua A-xà-thế trở về, Đức Phật nói với các vị Tỳ-kheo: "Nếu vua A-xà-thế mà không giết cha, thì sẽ chứng được pháp nhãn tịnh(18) ngay nơi tòa này. Nhưng vua A-xà-thế nay tự biết hối lỗi, giảm đi tội lỗi, rút đi tội nặng" Vua A-xà-thế không thể ngộ nhập chánh pháp là bởi vì do bị chướng ngại trọng tội giết cha. Cái nghĩa chính của từ chướng trong nghiệp chướng là như vậy. Nhưng có nghiệp chướng mà chịu hối cải thì chung quy cũng là việc tốt. Vua A-xà-thế nghe Phật thuyết pháp vẫn còn có sở đắc. Luật Ma-ha-tăng-kỳ của Đại chúng bộ có ghi: "Thế Tôn thọ ký cho vua A-xà-thế con của bà Vi-đề-hy ở thành Vương Xá là người được Vô căn tín bậc nhất trong hàng Thanh Văn, Ưu-bà-tắc" "Kinh Tăng Nhất A-hàm" có liên quan đến Đại chúng bộ và "Tỳ-nại-da" của Thuyết nhất thiết hữu bộ đều có nói đến việc vua A-xà-thế nhờ nghe pháp mà được Vô căn tín. Vô căn tín nghĩa là người không có thiện căn nhưng nhưng nhờ nghe pháp mà sanh khởi tín tâm. Người không có thiện căn (vô căn) ban đầu không có tin Tam bảo Phật, Pháp, Tăng, sau nhờ Phật lực mà sanh khởi tín tâm, gọi là Vô căn tín. Người tạo ác nghiệp cực nặng, nghe pháp biết sám hối vẫn có được lợi ích. Nghiệp tội vô gián giảm bớt, đời sau có còn bị đọa vào địa ngục không? "Kinh Vua A-xà-thế Hỏi Về Tội Ngũ Nghịch" có ghi: "Vua nước Ma-kiệt tuy giết phụ vương, Ông ấy tạo ác sau khi mạng chung sẽ bị đọa vào địa ngục như đánh cầu;nhưng khi mãn kiếp địa ngục rồi thì liền được sanh lên vương cung trời Tứ Thiên" Đây là nói tuy đã hối lỗi rồi cũng vẫn phải chịu cảnh bị đọa địa ngục. Nhưng vừa đọa xuống địa ngục thì liền mau chóng ra khỏi cũng giống như là đánh cầu vậy, rơi địa ngục liền nhảy ra khỏi. Kinh Vua A-xà-thế của Đại thừa có ghi: "Tội của vua A-xà-thế đã tạo được giảm thành nhẹ. Vua A-xà-thế tuy bị đọa địa ngục nhưng vẫn được sanh thiên" Qua đây có thể thấy, đọa địa ngục vì nghiệp chướng vô gián là hẳn nhiên, nhưng sau khi sám hối nghiệp lực giảm nhẹ, sẽ rất mau ra khỏi địa ngục. Việc sám hối nghiệp chướng trong Phật pháp khởi đầu là nói như vậy. Kinh Vua A-xà-thế có ghi: Tội tánh vốn không nhưng nhân quả không mất. Hối hận tỉnh ngộ cũng chỉ có thể giảm tội nặng thành nhẹ một chút. Điều này sơ với Phật giáo nguyên thỉ vẫn còn có sự khác biệt rất lớn. Lại Kinh Vua A-xà-thế có ghi: "Có tội nhân giết mẹ, nhờ Ngài Văn Thù dạy khuyên, gặp Phật nghe pháp mà chứng được quả A-la-hán" Điều này trái với Phật pháp, trái với thuyết sám hối tội lỗi của vua A-xà-thế. Có thể đây là phần thêm vào sau ít lâu.

Nghiệp tội tức là nghiệp bất thiện có thật là dựa vào pháp sám hối mà diệt trừ không? Ngài Long Thọ có xác định rõ vấn đề này. Như Luận Thập Trụ Tỳ-bà-sa quyển thứ sáu có nói: "Tôi không có nói sám hối thì sẽ không còn tội lỗi, không có quả báo (dị thục) mà Tôi nói sám hối thì tội sẽ giảm nhẹ, thọ trong thời gian ngắn" Cho nên trong bài kệ sám hối có câu: " Nếu phải đọa ba đường ác, nguyện thọ nơi thân người....Còn như A-xà-thế hại cha mà đắc đạo là nhờ Đức Phật và Văn-thù-sư-lợi nên tội nặng mà lãnh nhẹ"

          Tội Nặng Lãnh Nhẹ, Báo Gần Lãnh Xa (Nhân báo Qủa lãnh)

Theo Luận Thập Trụ Tỳ-bà-sa thì sám hối nghiệp chướng không thể khiến cho tội tiêu diệt mà chỉ có thể làm giảm nhẹ tội (Tội nặng lãnh nhẹ). Bổn lai phải là ở đời sau, hoặc là trong nhiều đời sau nữa mà thọ báo nặng. Do nơi sám hối thiện mà trong đời hiện tại chỉ lãnh nhẹ, nghiệp tội nặng thì qua rồi. Kinh Kim Cang Bát-nhã có ghi "Thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ trì đọc tụng Kinh này, nếu bị người khinh khi là do nghiệp đời trước đáng đọa vào đường ác nên đời nay người ta khinh khi. Đời nay bị người coi thường là tội lỗi đời trước được tiêu diệt" Đọc tung Kinh điển mà có thể tiêu trừ (trọng) tội thì giống với ý của Luận Tỳ-bà-sa. Nhưng các Kinh điển về sau rất nhiều, lấy ý khác nhau, có một số Kinh điển giải nói không được như vậy.

Trong Luận Thập Trụ Tỳ-bà-sa có dẫn Kinh "Như Lai Trí Ấn" rằng: ác mộng chính là ác báo. Lại nữa, trong Kinh Như Lai Trí Ấn có nói: "Phật nói với Di-lặc, các Bồ-tát thâm tâm ưa thích A-nậu-đa-la-tam-miêu-tam-bồ-đề, mắc tội phải thọ báo nơi đường ác là tội nhỏ nhẹ, đời sau thọ hình ác (thân xấu) hoặc nhiều bệnh tật, không có oai đức, sanh nhà hạ tiện, nhà nghèo khổ, nhà tà kiến, nhà tà nghiệp, nhà tự sống; sanh nơi trái ý, nơi nhiều sầu lo, cõi nước hư nát, xóm làng hư nát, nhà cửa hư nát, sở ái hư nát; không gặp bậc thiện tri thức, thường không được nghe pháp, không được phần lợi dưỡng; như có được thì những thứ thô tệ, thường không đủ dùng cho bản thân, có thể khiến cho những điều kính tín của kẻ hạ tiện, đối với bậc đại nhân không được kính tín, khi tu tập các phước có nhiều chướng ngại, không được thành tựu, các căn ám độn, tập thiền loạn tưởng, không được công đức giác ý vô lậu, không biết cái nẻo hướng tùy nghi của các pháp cho đến nằm mộng thấy thọ quả báo đường ác"

Lại nữa Đức Phật dạy, người có tội nhỏ, đời nay có thể chịu quả báo, tội này nhiều lần chuyển thì đọa địa ngục. Tại sao người này tội nhỏ nhiều lần chuyển mà bị đọa địa ngục? có người không tu thân, không tu giới, không tu tâm, không tu huệ, không có chí hướng rộng lớn nên người này tội nhỏ mà bị đọa địa ngục. Tại sao người có tội đây đời này phải chịu quả báo? Tội không có thêm lớn thì không vào địa ngục. Có người tu thân, tu giới, tu tâm, tu huệ, có ý chí lớn, tâm không trói buộc, ngăn ngại, như người này có tội mà không thêm lớn nên đời này hiện chịu. Thí như có người dùng bình nhỏ đựng nước rồi bỏ vào đó một lít muối thì nước không thể uống được. Nếu lại có người lấy một lít muối bỏ vào ao lớn vẫn còn không nghe vị mặn huống gì là uống. Tại sao vậy? Vì nước nhiều muối ít. Tội cũng như vậy.

Lít muối ném vào biển

vị mặn không có khác

Nếu bỏ vào bình nhỏ

Mặn chát không thể uống

Như người tích phước lớn

Mà có chút tội ác

Không đọa nơi đường ác

Nhờ duyên khác chịu nhẹ.

Lại người phước đức mỏng

Mà có chút tội ác

Vì tâm chí nhỏ hẹp

Tội khiến đọa đường ác

Như người hỏa đại yếu

Ăn ít cũng khó tiêu

Người này tuy không chết

Nhưng thân thọ đại khổ.

Như người sức khỏe mạnh

Ăn ít khó tiêu hóa

Người này trọn không chết

Chỉ thọ khổ nhẹ nhỏ

Hỏa thiện phước huệ yếu

Mà có chút tội ác

Tội này không người cứu

Có thể đọa địa ngục

Người có đại phước đức

Tuy có tạo tội ác

Không khiến đọa địa ngục

Hiện thân mà chịu nhẹ.

          Các Nghiệp Ác Cực Nặng Đọa Vào Địa Ngục Vô Gián: trong Kinh có nói đến hai loại.

           1. Mười Một Loại Ác Nghiệp: Theo Thập Luận Kinh Quyển Thứ Ba mười một loại ác nghiệp gồm: "Tạo năm tội vô gián (giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, phá hòa hợp Tăng, làm thân Phật chảy máu) bốn trọng tội gần với Ngũ vô gián (sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ) và hai hàng người hủy báng chánh pháp, hoài nghi Tam bảo. ......Trong mười một ác nghiệp đây, tùy theo loại nghiệp ác gây tạo, sau khi thân hoại mạng chung, chắn chắn lập tức sẽ bị đọa ngay vào trong đại địa ngục vô gián" Mười một loại trọng tội này phân làm ba loại: năm tội vô gián, bốn giới trọng, hủy báng chánh pháp và hoài nghi Tam bảo.

          Năm Tội Vô Gián:

Một là giết cha, hai là giết mẹ. Cha mẹ là người sanh thành, nuôi nấng, dạy dỗ chúng ta từ thuở mới lọt lòng cho đến lúc trưởng thành, ân đức sâu như biển cao như núi. Theo thế gian, hành động giết cha mẹ, chỉ có loài súc sanh mới làm việc này, và trong luật hình sự, tội ngỗ nghịch giết cha mẹ cũng rất là nặng.

Ba là giết A-la-hán. A-la-hán là quả vị cao nhất trong bốn quả Thanh Văn. Có câu chuyện giết A-la-hán bị đọa ngay vào địa ngục như sau: Một hôm tôn giả Xá-lợi-phất nhập định Kim Cang ở núi Kỳ-xà-quật. Bấy giờ trong núi này có hai con quỷ một ác một thiện. Con ác tên là Già-la, con thiện tên là Ưu-bà-ca-la. Ác quỷ già-la vì ỷ có sức mạnh vô song, dùng tay không có thể đập nát núi kim cang nên cất tiếng đòi đánh vào đầu tôn giả Xá-lợi-phất. Quỷ thiện cố cản ngăn nhưng quỷ ác vẫn không nghe liền tung chưởng đánh ngay vào đầu tôn giả Xá-lợi-phất. Bấy giờ tôn giả Xá-lợi-phất cảm giác dường như có chiếc lá rơi trên đầu nên mở mắt ra nhìn, chỉ kịp thấy một con quỷ thất khiếu (mắt,mũi,tai,miệng) chảy máu và rớt ngay xuống địa ngục.

Bốn là làm thân Phật chảy máu: Lúc Đức Phật còn tại thế, Đề-bà-đạt-đa định hại Phật, nên trèo lên núi cao đón đường Đức Phật, chờ lăn đá đè cho Phật chết. Nhưng đã bị thần Hộ pháp đánh vỡ đá, một mảnh đá vỡ văng trúng chân Phật chảy máu. Vì vậy mà thành tội làm thân Phật ra máu.

Năm là Phá hòa hợp Tăng. Tăng đoàn gồm bốn chúng Tỳ-kheo trở lên sống hòa hợp thanh tịnh, làm giềng mối cho Phật pháp, nếu người nào ác ý phá hoại, gây chia rẽ mất đoàn kết gây ảnh hưởng nghiêm trọng, làm tan rã tăng đoàn, khiến cho chánh pháp suy vi thì sẽ bị tội đọa vào địa ngục vô gián.

          Bốn trọng tội gần với ngũ vô gián:

Một là sát sanh, bao gồm cả giết người. Hai là trộm cướp, với mức độ nhiều, có tính chất hung bạo, gây ảnh hướng lớn cho người bị hại. Ba là tà dâm, nghĩa là quan hệ bất chính với người không phải là chồng, vợ của mình, khiến cho chồng, vợ của mình vì hờn ghen giận tức, mất lý trí trả thù cay độc hoặc là quyên sinh. Bốn là khẩu nghiệp, là mắng nhiếc, đặt điều, thiêu dệt, nói đôi chiều, khiến cho người bị hại cảm thấy uất ức, bị xỉ nhục mà tự vẫn hoặc có hành động trả thù.

Trong hàng xuất gia, đây là bốn tội cực nặng. Khi phạm phải sẽ mất đi bản thể thanh tịnh của tỳ-kheo. Thứ nhất sát sanh: Trên từ chư Phật thánh nhân, dưới cho đến những loài bò, bay, máy, cựa nhỏ nhít. Thứ hai là trộm cấp, lấy của thường trụ (Tam bảo) như đồ vật thức ăn...Thứ ba là dâm dục, làm ô uế phạm hạnh của Tăng hoặc Ni. Thứ tư là vọng ngữ, chưa chứng thánh mà vọng ngôn là chứng thánh, để khoe khoang gạt người thiện tín.

Tất cả công Đức, thanh tịnh giải thoát, liễu sanh thoát tử, tu Bồ-tát hạnh, thành Phật v.v...nơi thế gian này đều từ Tam bảo mà ra. Người tu hành mà phạm bốn trọng tội này, tức là phá hoại Tam bảo, làm cho Tam bảo không được thanh tịnh, tổn hại rất lớn.

          Hủy Báng Chánh Pháp và Hoài Nghi Tam Bảo:

          Hủy báng chánh pháp:

Hàng ngoại đạo như có hủy báng chánh pháp là vì họ không hiểu Phật pháp, nên nói càng bừa, như rắn nuốt ếch, như mèo ăn chuột, dẫu có tội nhưng không có nặng. Còn người đệ tử xuất gia, quy y Tam bảo, nếu như hủy báng chánh pháp thì cũng giống như là giòi bọ trong thân sư tử ăn thịt sư tử, tội lỗi rất lớn. Là người học Phật, tin Phật, chúng ta không nên hủy báng chánh pháp. Thường thì những hàng cư sĩ, xuất gia, không ai có ý nghĩ là mình hủy báng Tam bảo, nhưng có khi phạm tội hủy báng mà mình không tự biết.

Việc không giữ gìn tịnh giới, phạm hạnh của Tăng Ni, hoặc giãi đãi trong tu tập, hưởng thụ xa hoa v.v...đó cũng là một cách gián tiếp hủy báng Tam bảo rồi. Hoặc hàng cư sĩ, tuy đã quy y Tam bảo, thệ nguyện giữ gìn năm giới, và nghiêm túc tham dự các khóa tu, tụng Kinh, nhưng trong đời sống không giữ gìn năm giới, mưu tính lợi mình hại người, nói lời chua ngoa đanh đá, thân làm những chuyện sai quấy...tệ hơn nữa là khi có những hành động không chánh hạnh của người con Phật, những Phật tử này lại có những biểu hiện chứng tỏ mình là người Phật tử, khiến cho thiên hạ nhìn vào cười chê. Như vậy cũng là gián tiếp hủy báng chánh pháp.

Hoặc Phật có tám muôn bốn ngàn pháp môn, người học Phật tu học môn này lại chê bai môn kia, tu giáo lý này chê bai giáo lý kia v.v...hoặc tự thân chỉ thiên tu về pháp này, không thích pháp khác, chỉ thích tu giới mà bài xích tu định tuệ và ngược lại, hoặc cực đoan cho pháp tu của mình là đúng, là hợp với lời Phật dạy, còn những pháp khác không hợp với lời Phật dạy, không phải lời Phật dạy rồi khuyến hóa người thân, huynh đệ chỉ được theo pháp mình đang tu đây chớ không được theo pháp nào khác. V.v... Đây chính là hủy báng chánh pháp. Vì tất cả pháp đều là Phật pháp, chê bai pháp tu khác tức là hủy báng chánh pháp rồi.

          Hoài nghi Tam bảo:

Tam bảo là Phật Pháp Tăng, là nơi quy y của hàng đệ tử Phật. Người Phật tử trước khi quy y Tam bảo đã tìm hiểu kỹ, biết được Tam bảo là pháp chơn chánh, là nơi cứu độ mình ra khỏi chốn khổ não sanh tử luân hồi, lên bờ giải thoát và nếu thực hành đúng như lời Tam bảo dạy thì nhất định sẽ được thoát khổ và hưởng vui vĩnh viễn. Nếu đã quy y với Tam bảo rồi mà còn đi xem bói, theo tà đạo mê tín, không trọng nhân quả, cầu cúng quỷ thần phò hộ giàu sang, có nghiệp có tội không lo trai giới sám hối để tự răn mình, ngược lại bói toán vu vơ, mổ heo cúng tế, không chịu tin theo nhân quả Phật dạy,không biết phân biệt tà chánh, chân ngụy, thiện ác, không tu nhân thiện mà chỉ muốn được quả lành...nghe theo bói toán tà sư ngoại đạo không chánh lý v.v...làm ngược lại với nhân quả Đức Phật dạy, gieo trồng nhân xấu, phủ nhận lời Phật dạy tức là phủ nhận nhân quả nghiệp báo, không sợ tội lỗi, không sợ bị trừng phạt, lâu dần sẽ dẫn đến tạo nghiệp cực ác bị đọa vào địa ngục vô gián.

Người nào phạm trong mười một tội kể trên sẽ bị đọa vào địa ngục vô gián.

          Che Giấu:

Người phạm giới tạo tội, nhất định không được che giấu. Sám hối là để nhìn nhận thấy cái sai của mình, kể hết ra để cầu mong sự thương xót vì một phút lầm lỡ mà tạo tội lỗi. Vì vậy nếu đã phạm giới mà sợ người khác biết, cố ý che giấu trong lòng thì có sám hối thế nào đi nữa cũng không hết tội. Theo Phật pháp, ai mà không có lỗi lầm? chỉ có nặng hay nhẹ mà thôi, không ai mà tránh khỏi, chỉ cần chúng ta biết hổ thẹn, chịu sám hối là được rồi. Nhà Nho có câu: "nếu có lỗi thì chớ ngại sửa sai" Nếu đã phạm giới mà lại che giấu thì tội lỗi càng nặng thêm. Phàm người bình thường, nếu vừa phạm lỗi nhỏ mà che giấu không chịu sám hối ngay thì sẽ liên tục sai phạm, lâu ngày chày tháng sẽ phạm giới cực nặng mà không biết hổ thẹn.

Ví dụ như: có một cái lọ đựng đồ hôi thúi, nếu như chúng ta đổ nó ra phơi nắng thì không lâu sau nó sẽ sạch lại. Còn nếu như cố tình đậy chặt lại, vì sợ mùi hôi thúi xông ra ngoài thì không chỉ không chỉ nó không sạch mà lại còn hôi thúi hơn. Cho nên Phật chế giới luật, đối với những người đã phạm trọng tội mà lại che giấu thì sẽ xét xử tội nặng hơn. Đồng thời, vị Tỳ-kheo nào có tâm hổ thẹn, có lòng từ bi khi thấy huynh đệ, sư trưởng hay đệ tử của mình phạm lỗi thì hãy cố khuyên họ sám hối, nếu như họ không chịu sám hối thì nên nêu ra lỗi của họ trước đại chúng (phải nên chọn thời điểm thích hợp), như vậy mới gọi là giúp người hành thiện, mới có thể giữ gìn sự thanh tịnh của Tăng đoàn. Sống chung Tăng đoàn, nhất định không được che giấu tội lỗi cho nhau mà ngộ nhận cho rằng đây hành động tốt cho việc giữ gìn đoàn kết. Cho nên Đức Phật chế giới, tỳ-kheo khi phạm tội không được che giấu (hễ che giấu thì sẽ bị xử phạt nặng thêm) đối với những người có lòng tin Tam bảo sâu sắc như chúng ta đây, khi phạm tội lỗi, dù nặng hay nhẹ, cũng không được che giấu bất cứ tội lỗi nào, vì nếu che giấu chỉ làm cho tội ác nặng thêm, phải nên khởi tâm sám hối cho thật nhiều. Nếu như cứ gói kín vật hôi thúi lại thì sẽ càng làm cho nó hôi thúi hơn. Nếu như không biết sám hối thì sự ảnh hưởng của ác nghiệp mình tạo kia cũng giống như vết thương trong tâm của mình vậy, khi đêm về suy nghĩ, lúc lương tâm mình chợt nhận ra, cảm thấy rất đau khổ, nhiệt não giày vò (trong cảnh cực khổ bức bách làm cho thân nóng tâm não gọi là nhiệt não) hối hận thì đã muộn. Sự đau khổ dày vò chỉ làm tăng thêm sự đau đớn trong lòng, tạo thành chướng ngại cho đường tu.

Quỷ thần còn không được xem thường hà huống gì đối với chư Phật Bồ-tát, như câu chuyện tứ tri của Dương Chấn (thiên tri, thần tri, ta biết, ông biết) và câu chuyện ma hiện hồn báo oán của Lưu Lão Đạo, nhân quả không sai chạy, hãy nhớ cho kỹ!

 

Chú Thích
 
1.                 Phương Đẳng: Tiếng phạn là Vaipulya, tiếng Pali là vedalla, âm hán là Tỳ-phật-lược, Tỳ-phú-la, Bi-phật-lược, Phi-phi-la, Vi-đầu-li. Dịch hán là Phương Quảng, Quảng Bác, Quảng Phá, Quảng Đại, Quảng Giải, Vô Tỉ, là từ gọi chung các kinh điển Đại thừa, là các kinh nói về nghĩa rộng lớn sâu xa bình đẳng, là một trong 9 thể loại kinh, 12 thể loại kinh.
2.                 Bố thí ba-la-mật: Ba-la-mật là âm phạn, hán dịch là phàm sự cứu cánh giai thị ba la mật, nghĩa tiếng Việt là, hễ làm việc gì rốt ráo trọn vẹn thì gọi là ba-la-mật. Bố thí có ba loại: thí tiền của, thí pháp, thí sự bình an (không sợ hãi) Bố thí là pháp đầu tiên trong sáu pháp tu của Bồ-tát: Bố thí, giữ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Bố thí ba-la-mật nghĩa là cho tiền của, cho pháp Phật, cho sự bình an một cách rốt ráo.
3.                 Tam hoặc: Kiến tư hoặc, vô minh hoặc, trần sa hoặc. Tam trí: Nhất thiết trí, đạo chủng trí, nhất thiết chủng trí.
4.                 Nhị biên: hai cực đoan có không, khổ vui, thường đoạn, tăng, giảm v.v...Trung đạo: Con đường trung chánh, lìa bỏ cực đoan, không thiên về bất cứ một bên nào hoặc một quan điểm, một phương thức nào.
5.                 Tịnh Danh: tên của ngài Duy-ma-cật, còn có nghĩa là tên của một bộ kinh. Chú sớ Tịnh Danh là chú sớ kinh Duy-ma-cật.
6.                 Không có nghĩa: Nghĩa là câu chú này không có nghĩa, chỉ có tên, nghĩa là Bồ-tát địa tiền, từ địa thứ 9 trở về trước, tụng trì câu chú vô nghĩa này đề phá trừ kế chấp. Chú này chỉ có tên, chỗ nào mà có nghĩa. Cho nên các pháp chỉ có cái tên vọng tính, vì nó không có cái nghĩa chấp như thật, nên không thể y tên mà sanh chấp, do đó tư duy nên có thể nhập chân quán, chứng Bồ-tát nhẫn.
7.                 Viên thành thật: còn gọi là viên thành thật tánh. Là một trong ba tánh do tông Duy Thức lập nên, chỉ cho chân như (thể tánh mà các pháp nương tựa) có 3 tánh chất: 1. Viên mãn. 2. Thành tựu. 3. Chân thật.
8.                 Địa Tịnh Thắng Ý Lạc: địa thứ ba trong bảy địa
9.                 Đại thắng giải hành: địa thứ hai trong bảy địa
10.            Bồ-tát tạng: Chỉ chung các kinh điển đại thừa thuyên thích nhân tu quả chứng của hàng Bồ-tát đại thừa, như kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm v.v...đều là pháp hàm tàng Bồ-tát tu học.
11.            Bồ-tát tạng ma-đát-lý-ca: Tên gọi khác của luận tạng.
12.            Vô sanh pháp nhẫn: còn gọi là vô sanh nhẫn, là lý thể thật tướng chân như xa lìa sanh diệt, chân trí an trụ nơi lý này bất động, gọi đó là vô sanh pháp nhẫn. Theo kinh Đại Bảo Tích, quyển thứ 26 thì: vô sanh pháp nhẫn là khởi nhẫn các pháp không sanh không diệt.
13.            Tỳ-nại-da: Nghĩa là giới luật
14.            Bạc-già-phạm: Hán dịch là Hữu đức, Năng phá, Thế tôn, Tôn quý, là một trong mười hiệu của đức Phật, là một hiệu chung của chư Phật.
15.            Cái: Phiền não ngăn che tâm thiện. Có năm thứ: tham dục, sân giận, hôn trầm, ngủ nghỉ, trạo cử ác tác và nghi.
16.            Chướng: Ngăn che, phiền não ngăn che niết-bàn, bồ-đề, làm tổn hại chí xuất ly.
17.            Ác tác: Những hành vi ác rất nhỏ của thân, đôi khi cũng bao gồm những hành vi ác rất nhỏ của miệng, thuộc tội đột-kiết-la trong giới luật.
18.            Pháp nhãn tịnh: chỉ cho mắt quán chiếu hết chân lý của tất cả pháp mà không có chướng ngại, nghi hoặc; đồng nghĩa với Pháp nhãn thanh tịnh, tịnh pháp nhãn.









Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn