Hai Trẻ Dại Khờ

12/04/202510:36(Xem: 4753)
Hai Trẻ Dại Khờ

HAI TRẺ DẠI KHỜ

Hai Tre Dai Kho 

 

Đã lâu từ thuở xa xưa

Có ông thợ mộc già nua, hói đầu

Bao nhiêu tóc rụng từ lâu

Đầu ông nhẵn bóng phô mầu chói chang,

Gặp ông nói chuyện giữa làng

Mọi người đều phải vội vàng đưa tay

Che luôn cặp mắt lại ngay

Nếu là ngày nắng gắt gay sáng loà.

Một hôm nắng rọi hiên nhà

Cái đầu hói của ông già bóng lên

Một con muỗi đói gần bên

Thấy đầu hấp dẫn muỗi liền đậu đây

Thò vòi ra chích mừng thay

Tưởng rằng được bữa ăn này ngon sao.

Ông già thợ mộc đang bào

Còn đang bận rộn lẽ nào ngừng tay

Cho nên ông cứ loay hoay

Lắc đầu xua đuổi muỗi bay cho rồi

Muỗi thời đang đói mềm người

Cho nên cứ bám có đời nào tha,

Ông già lớn tiếng kêu la

Gọi con trong bếp chạy ra giúp mình

Đầu cha chói sáng thật tình

Con thời đầu óc lại thành tối đen

Dại khờ, u ám, lành hiền

Nhưng thường chăm chỉ và quen vâng lời

Nghe kêu, con chạy tới nơi

La lên ầm ĩ: “Bố ơi lo gì

Để yên con giết muỗi kia

Chỉ cần một đập muỗi thì chết ngay!”

Nói xong con vội với tay

Lấy rìu sắc nhọn lòng đầy tự tin

Nhắm vào con muỗi chém liền

Muỗi kia xác chẻ hai bên, tàn đời

Xui thay rìu cũng chẻ đôi

Chiếc đầu ông bố tách rời làm hai.

*

Một đoàn người đi phía ngoài

Có ông cố vấn đại tài của vua

Bất ngờ thấy đứa con ngu

Vô tình giết bố rất ư hãi hùng

Ông quay qua đám tùy tùng

Nói rằng: “Cũng chẳng lạ lùng lắm đâu

Bao người khờ dại từ lâu

Coi như không có trong đầu trí khôn

Ta vừa nhớ chuyện hồi hôm

Xảy ra tương tự đáng buồn lắm thay!

Trong ngôi làng chẳng xa đây

Có bà mẹ nọ trong tay cầm chày

Giã vào gạo ở cối xay

Chăm làm công việc hàng ngày mãi thôi

Khiến đầu nóng chảy mồ hôi

Và rồi có một đám ruồi bu quanh

Vo ve vang tiếng ruồi xanh

Làm bà khó chịu xua nhanh đuổi ruồi

Nhưng ruồi nào có chịu rời

Bà lên tiếng gọi nhờ người kế bên

Cô con gái giúp mẹ liền

Cô tuy khờ khạo nhưng hiền lành thay

Thường vâng lời mẹ xưa nay

Cô bèn vội đứng lên ngay cối mình

Dơ chày lên rất nhiệt tình

Nhắm trên đầu mẹ đập nhanh một chày

Đám ruồi đang đậu nơi đây

Tất nhiên là chết lăn quay tức thì

Nhưng than ôi bà mẹ kia

Đầu thời cũng bể, dễ gì sống thêm!”

Vị quan cố vấn trang nghiêm

Dạy đoàn đệ tử: “Chớ nên quên rằng

Chọn người thân cận chung đường

Nếu mà khờ dại, tầm thường, ngu si

Thời ta chỉ chuốc hiểm nguy

Lắm phen mất mạng! Nhiều khi tàn đời!”

*

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(thi hóa phỏng dịch theo bản văn xuôi

TWO STUPID CHILDREN

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

*

Nhận Diện Tiền Thân Đức Phật

TRUYỆN HAI TRẺ DẠI KHỜ

Ông cố vấn đại tài của vua là tiền thân Đức Phật.

___________________________________________

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2010(Xem: 13571)
Quê tôi còn đó dòng sông Nước đi nước đến chờ con nước về Quê tôi còn đó sơn khê Sắt son tô thắm ước thề không phai Ơn sâu nghĩa nặng tình dài Đường quê lối nhỏ hoa cài thơm hương Tin yêu hòa ái mến thương Chia mưa sẻ nắng gió sương không màng Quê tôi còn đó đò ngang Chờ người lữ thứ miên man chưa về
04/08/2010(Xem: 15282)
Quê Cha ngàn dặm mù khơi Đất Mẹ vạn lý một đời chia xa Thương non, ôm ấp mái nhà Nhớ núi, sầu mộng sơn hà chờ ai Thương sông, con nước chảy dài Nhớ biển, sóng vỗ miệt mài trùng dương Ra đi, vạn lý mù sương Rong rêu in bóng dặm đường phân ly Nhớ xưa, mấy thuở kinh kỳ Mà nay cũng lắm tư nghì hồn đau “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều”
04/08/2010(Xem: 13832)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 13658)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 25212)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 52357)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
19/05/2010(Xem: 16554)
Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần Đừng tưởng cứ mới là tân
16/05/2010(Xem: 11951)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 19709)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 14212)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,