Rượu Mặn

29/03/202515:09(Xem: 4400)
Rượu Mặn

RƯỢU MẶN

 Ruou Man

 

Một ông chủ quán rượu kia

Có chàng giúp việc rất chi nhiệt tình

Ông thường để hắn thay mình

Đứng ra rót rượu loanh quanh bên quầy

Anh chàng sốt sắng lắm thay

Có nhiều sáng kiến! Ra tay giúp người!

Một hôm nóng nực ngoài trời

Chủ nhân chợt muốn đi bơi ven làng

Ra sông tắm mát thênh thang

Nên ông giao quán cho chàng trông coi.

Anh chàng tiếp khách, tươi cười

Nhìn người uống rượu chàng thời suy tư:

“Tại sao khách lại cứ ưa

Nhâm nhi chút muối khi vừa uống xong?”

Chàng không muốn hỏi lòng vòng

Sợ người chê dốt, chê không sành đời,

Chàng đâu rõ uống rượu rồi

Rượu làm đắng lưỡi, đắng môi vô cùng

Khách hàng phải lấy muối dùng

Cho tan dư vị ở trong miệng mình.

Anh chàng tự nghĩ khôn lanh

Tưởng rằng thêm muối rượu thành ra ngon

Nên làm như vậy là khôn

Giúp cho công việc bán buôn thêm lời

Chẳng bao lâu sẽ phát tài

Chủ nhân quán rượu tất hài lòng đây

Thế là chàng vội loay hoay

Đem bao nhiêu rượu pha ngay muối vào

Nhưng chàng kinh ngạc biết bao

Thấy người uống rượu ai nào khen đâu

Khách hàng tới uống trước sau

Uống xong lập tức nhổ mau ra rồi

Hò la mắng mỏ nặng lời

Bỏ đi quán khác tức thời còn chi.

*

Tắm xong chủ quán trở về

Ngạc nhiên thấy quán chẳng hề có ai

Khách hàng không thấy một người

Rượu thời lại mặn có đời nào ngon

Thế là hỏng chuyện bán buôn

Vì chàng giúp việc tưởng khôn, rành đời.

Vài ngày lặng lẽ dần trôi

Ông đi kể chuyện cho người bạn xưa

Bạn là cố vấn của vua

Bạn bèn lên tiếng khi vừa nghe xong:

“Kẻ khờ dại muốn lập công

Muốn làm điều tốt nhưng không lợi gì

Chỉ gây hại! Chẳng ích chi!

Chớ nên cho kẻ ngu si gần mình!”

*

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(thi hóa phỏng dịch theo bản văn xuôi SALTY LIQUOR

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

Nhận diện Tiền Thân Đức Phật

TRUYỆN RƯỢU MẶN

Người bạn của chủ tiệm rượu là tiền thân Đức Phật.

 

_____________________________________________________

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2010(Xem: 15222)
Quê Cha ngàn dặm mù khơi Đất Mẹ vạn lý một đời chia xa Thương non, ôm ấp mái nhà Nhớ núi, sầu mộng sơn hà chờ ai Thương sông, con nước chảy dài Nhớ biển, sóng vỗ miệt mài trùng dương Ra đi, vạn lý mù sương Rong rêu in bóng dặm đường phân ly Nhớ xưa, mấy thuở kinh kỳ Mà nay cũng lắm tư nghì hồn đau “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều”
04/08/2010(Xem: 13787)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 13350)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 25137)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 52182)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
19/05/2010(Xem: 16204)
Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần Đừng tưởng cứ mới là tân
16/05/2010(Xem: 11614)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 19291)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 13856)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,
10/03/2010(Xem: 18629)
Tên Phật, theo tiếng Phạn, Là A-mi-tab-ha, Tức Vô Lượng Ánh Sáng, Tức Phật A Di Đà. Đức A Di Đà Phật Là vị Phật đầu tiên Trong vô số Đức Phật Được tôn làm người hiền. Ngài được thờ nhiều nhất Trong Ma-hay-a-na, Tức Đại Thừa, nhánh Phật Thịnh hành ở nước ta.