31_Tha Lực (Kính tặng Sư Cô Giảng Sư Thích Nữ Giác Anh)

23/08/202407:03(Xem: 7640)
31_Tha Lực (Kính tặng Sư Cô Giảng Sư Thích Nữ Giác Anh)


ht nhu dien-1su co giac anh-1su co giac anh-05
THA LỰC


Kính tặng Sư Cô Giảng Sư
Thích Nữ Giác Anh



Từ lúc sinh ra được kiếp người
Nghiệp duyên nhân quả trả vay thôi
Nương nhờ tinh huyết từ Cha Mẹ
Vay mượn năng sinh của Đất Trời


Năng lượng Từ Bi và Trí tuệ
Nối dòng tâm thức tự bao đời
Quy Y Tam Bảo tâm kiên định
Tín Hạnh Nguyện tu giới đức bồi


Lục Độ hành trì Bồ Tát Tát Đạo
Tinh cần, Bố Thí phải song đôi
Biển dâu thuyền đắm kêu cầu cứu
Quán thế âm thanh nguyện độ đời


Năng lực dẫn ta đến lậu phiền
Phàm tình thỏa mãn dục tâm riêng
Đều là Ma lực là ác hạnh
Là cõi vô minh chốn đảo điên


Năng lượng diệu tường Chân Thiện Mỹ
Soi đường quang tịch bước an nhiên
Tư lương phước đức và hồi hướng
Hóa thành Tha lực hội thắng duyên


Tự lực cũng la Tha lực nguyện
Từ bi trí tuệ mãi lưu truyền
Tri ân Thầy đã ban tha lực
Pháp thí chân như Đạo diệu huyền

22.8.2024
Minh Đạo


su co giac anh-03



DUYÊN NGƯỜI

Kính tặng Sư Cô Giảng Sư Thích Nữ Giác Anh
Cảm hoạ bài Tha Lực của cư sĩ Minh Đạo (Tampere) 


Vòng quay vạn kiếp được duyên người
Nguyện lực chuyên cần chớ để trôi
Nghĩa Mẹ sinh thành luôn khắc hiếu
Ơn Cha dạy dỗ mãi ghi lời
Kinh thâm Thầy giảng yên đường đạo
Kệ diệu Tổ trao sáng cảnh đời
Pháp chuyển tâm thuần nay rõ bước
Ân điền giáo hoá chẳng hề vơi.


SG, 23/08/2024
PT. Minh Đạo (Kính đề)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2010(Xem: 15222)
Quê Cha ngàn dặm mù khơi Đất Mẹ vạn lý một đời chia xa Thương non, ôm ấp mái nhà Nhớ núi, sầu mộng sơn hà chờ ai Thương sông, con nước chảy dài Nhớ biển, sóng vỗ miệt mài trùng dương Ra đi, vạn lý mù sương Rong rêu in bóng dặm đường phân ly Nhớ xưa, mấy thuở kinh kỳ Mà nay cũng lắm tư nghì hồn đau “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều”
04/08/2010(Xem: 13786)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 13350)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 25137)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 52179)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
19/05/2010(Xem: 16201)
Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần Đừng tưởng cứ mới là tân
16/05/2010(Xem: 11614)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 19289)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 13856)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,
10/03/2010(Xem: 18628)
Tên Phật, theo tiếng Phạn, Là A-mi-tab-ha, Tức Vô Lượng Ánh Sáng, Tức Phật A Di Đà. Đức A Di Đà Phật Là vị Phật đầu tiên Trong vô số Đức Phật Được tôn làm người hiền. Ngài được thờ nhiều nhất Trong Ma-hay-a-na, Tức Đại Thừa, nhánh Phật Thịnh hành ở nước ta.