Cỏ Dại (Thơ của TK Thích Đồng Bổn, bút danh: Quê Chiều, Chiêu Đề, Thôi Kệ, Tát Bà Ha, Ta Bà Hát)

31/10/202219:55(Xem: 7470)
Cỏ Dại (Thơ của TK Thích Đồng Bổn, bút danh: Quê Chiều, Chiêu Đề, Thôi Kệ, Tát Bà Ha, Ta Bà Hát)

co dai


CỎ DẠI


Người nói vô lại như cây cỏ dại
Tôi nghĩ cỏ dại có sức sống dai
Cỏ tồn tại bởi không kẻ đoái hoài
Mặc thế sự, mọc lan tràn khắp ngỏ.

Người nghĩ cỏ là xấu nên nhổ bỏ
Đó là loài có sức mạnh cạnh tranh
Cỏ sống còn đem lại đất màu xanh
Giữ cho đất không xói mòn mưa lũ.

Cỏ không xấu ác như người bảo thủ
Biến thành phân rơm nuôi tốt lúa ngô
Làm tươi xốp lớp đất đá cằn khô
Và thích nghi mọi biến thiên thời tiết.

Người cũng vậy, đâu thiện lành xấu ác
Chỉ do ta không biến đổi tâm mình
Giống tốt xấu từ tâm địa phát sinh
Bởi vọng động nên vô minh hiển lộ.

Hiểu định luật tuần hoàn như thế đó
Thương ngu hèn để giúp họ tiến lên
Đem cỏ kia tạo phân bón làm nền
Đâu cần có niết bàn hay sinh tử.

Hiểu như thế để không phân lành dữ
Vạn vật như nhau sao vội khinh nhau
Tâm bình đẳng nào thấy có thấp cao
Khiến tánh Phật luôn đau vì tranh chấp.

Có đấu tranh là sanh tâm cao thấp
Có tranh giành là mạnh được yếu thua
Có người bán thì sẽ có kẻ mua
Nơi động khua thì có nơi tĩnh lặng.

Đời là bức tranh trước sau hai mặt
Cỏ và lúa hai giống ở ruộng tâm
Thiện và ác hai chiều kích sai lầm
Biết chuyển hóa sẽ về chung một hướng.

Bạn và tôi hãy ngược về thật tướng
Cùng nhau sánh bước vào cửa thiện lành
Phát tâm thành thệ nguyện độ chúng sanh
Cùng nhau đến cuối chân trời Bát nhã.

Quê Chiều 30/10/22
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/10/2016(Xem: 11706)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 11195)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 12746)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 10215)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14310)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17159)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 12383)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây
07/10/2016(Xem: 9946)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa- Có tài đô vật rất ư tuyệt vời- Lại thêm sức mạnh hơn người,- Khi trong nội bộ ngay nơi viện nhà
07/10/2016(Xem: 12447)
Mười tám năm - Hoa Vô Ưu - Vườn xưa lấp lánh cánh hoa tâm - Mười tám năm Kẻ còn người mất - Hương Vô Ưu - Thơm ngát cõi vô thường
06/10/2016(Xem: 11102)
Cái chết từ từ sẽ đến Lo chi cho lắm cực thân Thảnh thơi nhẫn tu mà sống Có gì ta phải rối răm .