Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Giác Tâm Trầm Tịch Cõi Thi Ca

22/12/202020:09(Xem: 2590)
Giác Tâm Trầm Tịch Cõi Thi Ca


Giác Tâm Tâm Nhiên

GIÁC TÂM TRẦM TỊCH CÕI THI CA

 

 

Từ thuở nọ, Giác Tâm mới vừa mở mắt chào đời, đã nằm võng đong đưa giữa trùng điệp phù vân lãng đãng, ngút ngàn sương khói vờn quanh. Được hun đúc, tiếp cận với hồn thiêng sông núi uy linh, hùng vĩ nên tâm hồn thi sỹ, tự nhiên hàm dưỡng trong bầu khí chất rất mực thuần khiết, nguyên sơ.

 

Thơ phát ra từ đó, nhẹ nhàng như hơi thở, vừa lâng lâng bay bổng vừa bồng bềnh, thênh thang. Tiếng thơ ngân dài, đồng vọng lên từ phương lòng trong trẻo, đầy chim ca lảnh lót hòa lẫn suối khe róc rách, reo vang. Ngàn hoa nắng trổ, ngát hương trời vạn cổ, dưới những thung lũng mù xa, chập chùng bóng rừng sâu hun hút, hoang lạnh buốt mưa chiều.

 

Thơ bay phiêu phất hồn trăng vạn đại, vụt hiện lóe ngời thời nguyên thủy, sơ khai…Thần thái mang mang, thi sỹ đi về ngơ ngác, ngạc nhiên trước sự huyền bí của cuộc sống muôn loài, vạn vật trên mặt đất, trần gian, rồi hoát nhiên, bừng thấy ra đóa Hoa Tâm giữa trời thơ đất mộng bồi hồi:

 

Từng viên đá thấm mồ hôi

Đóa hoa tâm nở trên đồi mù sương

Đầu nguồn cuối bến sông Tương

Bàn tay của mẹ thơm hương xứ trầm

Vẫn còn đây đóa hoa tâm

Nghìn thu rụng tiếng nguyệt cầm đầu non

 

Đầu non cuối biển vọng tiếng nguyệt cầm, rung ngân bất tận một tiếng đàn trăng giữa thiên thu vời vợi. Khiến cho bất ngờ, mồ hôi thấm từng viên đá sỏi ven đồi, thấm qua bàn tay gầy guộc của mẹ hiền vun xới, chở che,đùm bọc, để rồi mọc lên tinh khôi một đóa hoa lòng trong trắng, một đóa hoa tâm thầm lặng, tỏa ngát hương trời giữa hoang vắng, tịch liêu, trên xứ miên cao nguyên, phiêu phưỡng khói sương mù. Đóa hoa từ tâm, đóa hoa tuệ tâm ấy, một ngày kia đã hóa thân thành Giác Tâm, một thi sỹ bình dị, đơn sơ nhưng rực ngời Nở Tỏa Trăng Sao trên cuộc lữ dặm dài:

 

Ai đem chút nắng lên đồi

Cho quỳ hoa nở tặng đời mai sau

Chỉ là chút sắc chút màu

Chân tâm ngưỡng vọng niềm đau phai nhòa

Đất trời dù biết không hoa

Con tim rung động nở tòa trăng sao

 

 

 

Vằng vặc trăng sao giữa đất trời Chân Như lồng lộng. Không biết tự bao giờ, dường như là năm 1956, chàng thi sỹ ra đời, đi về xuất hiện nơi sơn thôn Cỏ May, chốn Trại Mộ, Biển Hồ Trà, thuộc tỉnh Gia Lai này. Lớn lên trên thượng nguồn, núi đèo heo hút, rừng rú man dại, hoang vu, sớm chiều thấp thoáng mờ sương khói phủ. Ru hồn thơ vi vu, vi vút theo suối thác, truông ghềnh…Chạy nhảy, nô đùa với cỏ nội hoa ngàn, thở cùng gió núi, mưa rừng, nắng rậm giữa trời đất man thiên.

 

Đến năm 1969, mới 14 tuổi, chàng có duyên vào chùa xuất gia, học đạo và dần dần trải qua năm tháng tu hành, thấy hiện bừng ra cảnh giới tự tâm thanh tịnh từ thuở ban sơ. Sở dĩ, mình không sống được cái bản tâm vi diệu này là vì mình tự đánh mất nó đi, tự mình lơ đễnh, tự mình giam nhốt chính mình trong những cặn bã danh lợi, những ngục tù bản ngã ấu trĩ, những đố kỵ, nhỏ nhen, bần tiện, tự mình buông lung, buông thả, chìm đắm trong bóng tối vô minh, hụp lặn giữa đục ngầu tham sân si, trong mộng mị, chiêm bao, ảo dị sa đà…Cho nên, mạch nguồn thi ca trong lòng chợt bùng vỡ, dâng trào lời Nguyện Ước, rạt rào nguồn cảm hứng sâu xa:

 

Ta đánh mất bởi vì ta lơ đễnh

Mắt xa xôi say mộng ảo phương nào

Cỏ hoa ấy xiết bao lòng trìu mến

Lắng lòng nghe hoa cỏ sẽ thì thào

 

Ta đánh mất bởi trầm tư thái quá

Lối đi về quên bẵng ánh trăng sao

Ồ mộng mị triền miên vàng hoa lá

Sông thương đây tơ tưởng núi non nào?

 

Lời bộc bạch lòng ta em đã tỏ

Nối bàn tay hàn gắn những nhịp cầu

Dòng sông xưa đôi bờ hoa nở đỏ

Tặng cho nhau quên hết tháng năm sầu

 

Lời bộc bạch hay lời Nguyện Ước khơi vơi nọ, thi sỹ muốn nhắn gởi cho chư huynh đệ mười phương, đang sống lưu linh lạc địa, trên khắp quả địa cầu, đang quay lông lốc giữa hư không này. Hãy tự mình tỉnh thức. Hãy tự thắp đuốc lên mà đi hỡi khách lữ phong trần. Hãy quay về quê quán ban sơ, ngồi lại bên hồ xanh thanh thản, trút đi hết mọi sầu đau, áo não từ vô lượng kiếp. Khi đứa con hoang biết quy hồi cố xứ Pleiku Và Lữ Khách ngồi lại bên mẹ hiền, lắng nghe lời ru ca dao sưởi ấm tâm hồn:

 

Con lưu lạc từ ngàn xưa lưu lạc

Bỏ quê hương quên cả lối đi về

Đồi lộng gió tóc mẹ bay tóc bạc

Ngóng đợi con trăng khuyết đến trăng tròn

 

Con nhớ mẹ tà áo bay áo trắng

Đưa con qua suốt cuộc tử sinh này

Cưỡng lời mẹ con uống nhiều giọt đắng

Chợt tỉnh say mộng mị vơi đầy

 

Rồi một ngày khi đi qua chùa cổ

Bỗng reo vui khi thấy dáng người

Mẹ hiện hữu cho trần gian vơi khổ

Cõi người ta nay đã có tiếng cười

 

Chiều cao nguyên bay qua ngàn mây trắng

Chim thiên di về với cội nguồn

Hành lý đời từ nay không còn nặng

Gởi hồn mình theo từng tiếng chuông buông

 

Khi nghe từng tiếng chuông từ ngôi chùa trên núi cao vọng xuống, bỗng nhiên nhà thơ sực thấy ra bà mẹ trần gian, ruột thịt của mình cũng chính là bà mẹ hiền Quán Thế Âm đang nhìn mình bằng Mắt Thương Nhìn Đời đầy từ bi vô lượng:

 

Mẹ về trên đỉnh mù sương

Tinh khôi áo trắng mắt thương nhìn đời

Nước Biển Hồ có đầy vơi

Hải triều âm vẫn vọng lời đại bi

 

An nhiên trước cuộc thịnh suy

Vẫn vô úy sống giữa nguy hiểm này

Vô vi nguồn suối lành thay

Cành dương giọt nước thấm đầy lòng con

 

Nguyện tha thiết dạ sắt son

Dấn thân phiền não vẫn tròn yêu thương

Kính dâng một nén tâm hương

Quan Âm Bồ tát đưa đường thăng hoa…

 

“Mắt thương nhìn đời” hay“từ nhãn thị chúng sinh” là cái nhìn dịu dàng, trìu mến, chan chứa đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả và hạnh nguyện thiết tha, vô cùng, vô tận, vô biên, vô lượng thương yêu thập loại chúng sinh của mẹ hiền Quán Thế Âm. Hạnh nguyện yêu thương vô điều kiện đó, nhà thơ Giác Tâm cũng thường xuyên nhắc nhở, khuyên bảo đàn em của mình tinh tấn thực hiện, hành trì, áp dụng vào thực tế cuộc đời Thương Mẹ Giùm Tôi:

 

Em còn hiện hữu trong tôi

Trong từng phiến đá bên đồi mù sương

Đi qua cuộc thế vô thường

Trong em còn có mắt thương nhìn đời

 

Giọt mồ hôi với nụ cười

Hoa trên đá nở bồi hồi ngày qua

Mai này tôi có đi xa

Trái tim xẻ nửa Hồ Trà em ơi!

 

Mong em hành đạo yêu đời

Đắp xây chùa cổ tuyệt vời nên thơ

Thay tôi em gắng phụng thờ

Nén hương tưởng Mẹ từng giờ nghe em

 

Lời dặn dò chân thành đó, khiến cho các em cảm động, nhớ ghi. Vì thế, bây giờ khi đã lớn khôn như bầy chim tung cánh bốn phương trời, các em vẫn thường nhớ về chùa cũ, thầy xưa:

 

Con nguyền làm hạt nước mưa

Tưới lên quê mẹ sớm trưa khô cằn

Cho con được là ánh trăng

Đêm rằm về lại tung tăng quây quần

 

Cho con sống không vong thân

Biết mình hiện hữu hồng trần làm chi

Đường con đi đường Từ Bi

Trọn đời vẫn nhớ khắc ghi trong lòng

 

Lấy Từ Bi làm con đường để bước đi là một thái độ vô cùng bao dung, dũng cảm. Chỉ có những trái tim hồng, được un đúc trong lò lửa nhiệt huyết giữa cuộc sinh tồn đầy bức bách, đầy thống khổ, điêu linh này, đã từng chứng kiến bao cảnh đời tuyệt lộ, tàn xiêu, thì mới đủ sức mạnh thần diệu mà phát tâm nguyện đại từ, đại bi như vậy được. “Đường con đi đường Từ Bi” tuy là một câu thơ dễ hiểu thôi, nhưng khó thực hiện, đủ gây chấn động khôn dò, bởi nói ra từ giới trẻ hôm nay. Thật vô cùng hy hữu, ít có làm sao!

 

Trào dâng lên làn thanh khí thi vị, thi nhiên, tiếng thơ Giác Tâm có cảnh có tình, có nhạc, có họa “thi trung hữu họa.” Trong thơ ngân lên những cung bậc thiền, những bức tranh bình dị, mộc mạc, phản ánh nhiều cảnh đời thường nhật, nhiều trạng thái tâm thức hân hoan, hoài niệm, tưởng nhớ…Lời thơ tha thiết, chân tình, biểu lộ thế giới nội tâm thâm cảm bao la như Ngắm Hoa Ven Đồi:

 

Hiên đời nắng táp mưa sa

Về non Ngọc Lĩnh ngắm hoa ven đồi

Am mây ngả bóng mây trôi

Dòng sông mộng vẫn muôn đời mênh mang

 

Ngỡ cùng tử mãi đi hoang

Hốt nhiên một đóa mai vàng nở tung

Thõng tay vào chốn bụi hồng

Đường xưa mây trắng phiêu bồng tiêu dao

 

Thõng tay vào chốn bụi hồng, thi sỹ mặc sức phiêu bồng, rong chơi tận góc bể chân trời khắp đồng bằng, châu thổ, cao nguyên. Ngao du từ phố núi Pleiku xuống phố biển Nha Trang, rồi lang thang qua các dòng sông Hương, sông Hồng, sông Cửu…Có lần lặn lội qua tận bến cát sông Hằng, Ấn Độ, theo đường xưa mây trắng, dừng gót lại bên Dòng Sông Ni Liên Thiền trong một chiều vạn đại quá hân hoan:

 

Ngàn năm vẫn con sông này

Ngàn năm vẫn cứ mây bay chập chùng

Thế Tôn vẫn là Cha chung

Dung nhan hiền thiện đại hùng đại bi

Như Lai không đến không đi

Tìm trong Phật tích thấy gì ngày qua?

 

Thấy gì, thi nhân không cần nói rõ mà lặng lẽ, nhẹ nhàng, bồng tênh trên ngõ về thông lộ Vô Ngôn. Tịnh khẩu như Bồ Đề Đat Ma leo lên tuyệt đỉnh núi Tung Sơn, chín năm ngồi trầm hùng, tịnh hạnh:

 

Học Đạt Ma nhìn vách

Nói nhiều có ra chi

Lặng im là thử thách

Vô ngôn cõi từ bi

 

Nói tuyên dương diệu pháp

Không bản ngã khoe bày

Không chánh niệm…bão táp

Loạn ngôn thành cuồng say

 

Bốn chín năm nói pháp

Thế Tôn nói chưa nhiều

Học hạnh Bụt…đền đáp

Đó mới là Tỳ kheo

 

Tỳ kheo là những bậc xuất sỹ, những tâm hồn dị thường, dám buông bỏ hết để lên đường làm một con người hoàn toàn vô sự. Trên con đường thênh thang đó, một chiều nọ, thi nhân lắng nghe Tâm Sự Hàn Sơn Tử:

 

Giã từ thôi chữ nghĩa

Về xem mây trắng bay

Cõi đời không dấu tích

Khắc chạm nào ai hay

 

Ba trăm bài vách núi

Có còn trong thiên thu?

Ta về nơi chốn ấy

Huyền nghĩa có phù du?

 

Thập Đắc ơi theo mình

Trụ vào nơi vô trụ

Thi phú để cho đời

Chừng bấy nhiêu tạm đủ

 

Sương mù len vách núi

Mờ yếu tính thiền thơ

Ta trôi dòng thi khắc

Rỡ ràng bài thơ Vô

 

Bài thơ Vô ấy, suốt kim cổ xưa nay, rất nhiều đạo sỹ, thiền sư đã sáng tạo và thi nhân cũng tiếp tục viết suốt bình sinh, lịch nghiệm của đời mình, trên dặm dài cô lữ theo nước chảy mây trôi. Rồi cuối cùng, làm cuộc quy hồi cố xứ, trở về ngọn đồi cao heo hút, trong ngôi chùa cổ rêu phong trầm tịch mịch.

 

Sau một thời gian dài hơn 15 năm tầm cầu học đạo với những bậc tôn túc, thầy Giác Tâm trở về an trú, trụ trì chùa Bửu Minh. Với tâm hồn thi sỹ tài hoa, thầy dốc hết năng lực, trí tuệ ra trùng tu toàn bộ cảnh thiền môn xuống cấp thành một ngôi đại tự nguy nga, tráng lệ. Chùa có vị trí biệt lập, cách xa làng xóm, nằm trên ngọn đồi giữa những nương rẫy chè xanh quang đãng, rộng dài. Trải qua bao mùa cuồng phong, bão tố, Ngôi Chùa Yêu Dấu ấy vẫn đứng trầm mặc, tịch nhiên, lặng lẽ:

 

Bửu Minh chốn cũ lại về

Ngàn sương gió lộng bốn bề trà xanh

Cây đa rợp bóng thiên thanh

Cho hồn tịnh lạc an lành đi lên

 

Con về lội khắp sơn xuyên

Trồng hoa trên đá an nhiên ngắm nhìn

Con về còn trọn niềm tin

Câu kinh Không Sắc xóa nghìn thương đau

 

Về đây sương trắng mái đầu

Chợt nghe chim hót nhiệm mầu tử sinh

 

“Con về còn trọn niềm tin” một câu thơ mà thi sỹ đã lấy làm đầu đề cho tác phẩm của mình (dài 364 trang, Phương Đông xuất bản, 2012) Con Về Còn Trọn Niềm Tin, tập tản văn, khẳng định tấm lòng son sắt với Đạo, với Thiền, với quê xứ Tự Tâm, Tự Tánh thanh tịnh. Thật tuyệt diệu “Câu kinh Không Sắc xóa nghìn thương đau” nói lên yếu chỉ, tinh túy của Bát Nhã Tâm Kinh mầu nhiệm, có khả năng đưa ta vượt thoát khỏi sinh tử luân hồi.

 

Trên con đường phong quang sáng tạo, thi nhân cảm nhận ngay trong sinh tử vốn hiện hữu Niết bàn, mặc dù còn thấp thoáng nhưng cũng thấy ra một cõi đi về. Thành thử, Con Về Nương Tựa Cửa Thiền Từ Đây, cứ như vậy, như thế, tùy duyên bất biến trên nhịp bước thanh thản, lạc an:

 

Đi về một cõi thênh thang

Suối thương yêu chảy mênh mang đất trời

Còn đây áo trắng tinh khôi

Vờn bay thấp thoáng núi đồi mù sương

 

Con về đốt nén tâm hương

Lòng thành tưởng niệm vấn vương mẹ hiền

Cõi người ta cõi oan khiên

Con vể nương tựa cửa thiền từ nay

 

Một đời mê mải sống say

Quay về ngồi ngắm mây bay đỉnh tùng

Chim nào rớt xuống lòng thung

Xé toang lưới mộng trùng trùng bay lên

 

Bay lên đỉnh núi không tên

Cất cao tiếng hót mông mênh lưng trời

 

Nhà thơ mỉm nụ cười trầm tịch, lắng nghe “suối thương yêu chảy mênh mang đất trời” chảy tràn qua khắp rừng truông, núi đồi, rồi chảy về dưới mái chùa thanh vắng giữa bạt ngàn nương rẫy quanh đây. Thuận pháp, tùy duyên, thầy hướng dẫn, chuyển hóa, giúp đỡ đồng bào phật tử miền cao nguyên biết nhân quả, nghiệp báo, biết bố thí, làm việc phước thiện, biết buông bỏ tham lam, sân hận, si mê, để vơi đi bớt phần nào những phiền não, khổ đau, mệt mỏi, chán chường…

 

Phương trời viễn xứ, ngút ngàn giữa muôn trùng cuộc lữ, du sỹ này làm chuyến đi xuyên Việt, khởi từ bờ biển Kiên Giang, đến nay cũng hơn 6 tháng rồi mới tới vùng cao phố núi Pleiku, lãng đãng khói sương mù. Một nếp duyên lành hạnh ngộ, du sỹ dừng gót giang hồ, lưu trú lại chùa cổ gần nửa tháng nay. Sớm chiều vào ra nhàn nhã, ngắm xanh biếc Biển Hồ, trông mây ngàn bàng bạc trên dãy núi Tiên Sơn, chập chờn bao hoa nắng phiêu bay rờn lạnh bóng sơn khê…

 

Gặp du sỹ như gặp người đồng điệu, thầy trải lòng ra hòa khúc tâm giao. Rót cạn mấy bình trà bên thềm trăng khuya vẫn chưa hết ý, chưa cạn lời hàn huyên, tâm sự.

 

Một chiều, thầy đưa xem bản thảo tập thơ Nghìn Thu Rụng Tiếng Nguyệt Cầm Đầu Non, gần cả trăm bài thơ, vừa ngậm ngùi vừa tiêu sái, vừa nỗi niềm vừa xuất cốt, phiêu diêu. Tôi liền đọc một mạch như đọc lại chính mình và cảm hứng mần bài thơ Bửu Minh Trầm Tịch Nhiên này, riêng tặng vị thầy có tâm hồn thi sỹ, trước khi chia tay, tạm biệt, tiếp tục viễn phương hành:

 

Rừng nhạt nắng dừng chân Chư Păh

Đồi cao nguyên xanh biếc Biển Hồ Trà

Trại Mộ nao nao hồn cố quận

Bóng thông già vi vút gió chiều qua

 

Thương từng vệt rêu phong trên cổ tháp

Từng nét mờ ẩn hiện dấu thời gian

Con về còn trọn niềm tin* tưởng

Vẫn ngân rung bất tuyệt tiếng kinh vàng

 

Là tiếng lòng sâu xa hòa tâm cảm

Quyện chân thành thanh thản bước an nhiên

Bửu Minh trăng sáng thềm tịch chiếu

Diệu kỳ tan vô lượng kiếp ưu phiền

 

Tâm Nhiên

 

Thơ Thích Giác Tâm. Trích trong tập Nghìn Thu Rụng Tiếng Nguyệt Cầm Đầu Non (bản thảo)

* Con Về Còn Trọn Niềm Tin. Tản văn Giác Tâm. Phương Đông xuất bản, Sài Gòn 2012








***

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/09/2010(Xem: 40384)
Một cuộc đời một vầng nhật nguyệt (quyển 3) Vào thời không có đức Phật Chánh Đẳng Giác ra đời, tại vùng Allakappa bị dịch bệnh hoành hành, lây lan từ người này sang người khác, nhà này sang nhà khác làm cho rất nhiều người chết, đói kém xảy ra khắp nơi. Những người còn mạnh khỏe, chưa bị lây nhiễm
08/09/2010(Xem: 4309)
Mười con nhạn trắng về tha Như Lai thường trụ trên tà áo xuân Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm
08/09/2010(Xem: 5300)
Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng
06/09/2010(Xem: 4311)
Văn Tế Thiên Thái Trí Giả Tác giả Đại Sư Tuân Thức Việt dịch: Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm *** 1. Nhất tâm đảnh lễ Thiên Thai Trí Giả trong núi Đại Tô tu Tam Muội Pháp Hoa Tâm tâm tịnh thường lại qua pháp giới Như mặt nhật trên không chẳng trụ không Ba ngàn thật tướng tức khắc viên thông Tám vạn trần lao đều đồng chân tịnh. Xưa hội kiến Linh Sơn còn hoài niệm Nay toàn thân bảo tháp thấy rõ ràng Nếu chẳng cùng sư Nam Nhạc tương phùng Ai biết được tướng thâm sâu thiền định?
06/09/2010(Xem: 5910)
Trước khi viết loạt bài thơ trong phần 1 (Hương Đạo Pháp) của thi tập này, tôi đã có gần 900 bài thơ, xoay quanh các đề tài như quê hương đất nước, lịch sử, địa lý, giáo dục, cuộc sống hiện thực, triết lý sắc không, nhân sinh quan - vũ trụ quan Phật giáo, xưng tán Phật và Bồ-tát….. Tôi đang tạm thời dừng lại công việc sáng tác và chuẩn bị làm một số công việc chuyên và không chuyên khác. Nhưng chợt nhớ lại nhiều năm trước đây, thỉnh thoảng có trao đổi với vài vị thân, quen, những người đã đọc gần hết thơ tôi. Họ nói, trong số gần 900 bài thơ đã đọc qua, tuy cũng có nhiều bài khuyến tu, nhiều bài mang tính giáo lý sâu sắc, có khả năng tịnh hóa lòng người, tuy nhiên những bài đó nằm tản mạn chưa tập trung. Hơn nữa cũng cần một loạt bài có nội dung giáo lý căn bản với thuật ngữ, danh từ, pháp số thông dụng, nếu có thể cho thành một tập riêng biệt thì càng tốt.
06/09/2010(Xem: 5993)
Phù Sinh Nhiễm Thể Ca, TNT Mặc Giang
06/09/2010(Xem: 6018)
Mùa hạ mà hơi lạnh xông ướp cả gian phòng. Tắt điện, thắp lên ngọn bạch lạp cắm vào một quả thông, nhựa sống vẫn còn mơn man đâu đây, nồng nàn. Mấy mươi năm hiên ngang sừng sững, một cơn bão thổi qua, thông bật gốc ngã quỵ, vương vãi xác xơ. Có gì tồn tại mãi đâu! Rồi tất cả, cũng bị thiêu rụi như ngọn bạch lạp đang cháy dỡ…
06/09/2010(Xem: 7580)
Được sinh ra, lớn lên, đi vào trường học, đi vào trường đời, rồi dong ruổi muôn phương, và dù có ra sao, Quê Hương vẫn Còn Đó ! Từ thuở phôi sinh xuất hiện Lạc Hồng, Hùng Vương - Văn Lang, xuyên qua chiều dài lịch sử, cấu thành mảnh dư đồ Chữ S, với Bắc Nam Trung gấm vóc, với núi non hùng vĩ, biển rộng sông dài, với những tên gọi thân yêu Huế - Sài Gòn - Hà Nội, với từng thời kỳ dù có qua đi, không gian dù có biến đổi, và dù cho vật đổi sao dời, Quê Hương vẫn Còn Đó !
06/09/2010(Xem: 5854)
Người phương tây thường nói “trẻ ước mơ, già hoài niệm”, nhưng sau khi đọc xong tập thơ Hành Trình Quê Mẹ, tôi thấy tác giả, một nhà thơ ở tuổi tri thiên mạng, nhưng lại luôn ghi lòng tạc dạ, nâng niu trân trọng các giá trị được tài bồi bởi tiền nhân; tác giả còn hoài bảo, mơ vọng một hướng sống thiết thực cho người Việt Nam nói chung. Với Mặc Giang, hoài niệm và ước mơ nào có hạn cuộc bởi tuổi tác. Hoài niệm và ước mơ ấy đã trở thành chất liệu tài bồi cho dòng thơ với chủ đề Hành Trình Quê Mẹ tuôn chảy không mỏi mệt, để nguồn thơ của thi nhân vốn nhào nặn từ cuộc sống, trở lại phụng sự cuộc sống ấy, trở thành niềm tự hào kiêu hãnh của trào lưu thi ca hiện đại.
06/09/2010(Xem: 7544)
Qua năm mươi năm, tiếp bước tiền nhân tôi trót vào con đường khảo cứu lịch sử văn học dân tộc. Tôi đã đọc rất nhiều thơ và cũng làm được một số việc cho các thế hệ thơ ca. Nhưng khi may mắn được đọc tập thơ Quê Hương Nguồn Cội (và khoảng 650 bài khác nữa) của nhà thơ Mặc Giang, một tập thơ chan chứa tình quê hương dân tộc, với tâm hồn bao la, sâu rộng bằng trái tim và dòng máu của người Việt Nam, tập thơ đã làm cho tôi hòa đồng trong tác phẩm không còn phân biệt được tâm tư và cảm giác của mình và chỉ còn là một con tim, một dòng máu chung của dân tộc trộn lẫn vào sự cấu tạo chung trải qua mấy ngàn năm lịch sử của núi sông.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,483,926