Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Giác Tâm Trầm Tịch Cõi Thi Ca

22/12/202020:09(Xem: 824)
Giác Tâm Trầm Tịch Cõi Thi Ca


Giác Tâm Tâm Nhiên

GIÁC TÂM TRẦM TỊCH CÕI THI CA

 

 

Từ thuở nọ, Giác Tâm mới vừa mở mắt chào đời, đã nằm võng đong đưa giữa trùng điệp phù vân lãng đãng, ngút ngàn sương khói vờn quanh. Được hun đúc, tiếp cận với hồn thiêng sông núi uy linh, hùng vĩ nên tâm hồn thi sỹ, tự nhiên hàm dưỡng trong bầu khí chất rất mực thuần khiết, nguyên sơ.

 

Thơ phát ra từ đó, nhẹ nhàng như hơi thở, vừa lâng lâng bay bổng vừa bồng bềnh, thênh thang. Tiếng thơ ngân dài, đồng vọng lên từ phương lòng trong trẻo, đầy chim ca lảnh lót hòa lẫn suối khe róc rách, reo vang. Ngàn hoa nắng trổ, ngát hương trời vạn cổ, dưới những thung lũng mù xa, chập chùng bóng rừng sâu hun hút, hoang lạnh buốt mưa chiều.

 

Thơ bay phiêu phất hồn trăng vạn đại, vụt hiện lóe ngời thời nguyên thủy, sơ khai…Thần thái mang mang, thi sỹ đi về ngơ ngác, ngạc nhiên trước sự huyền bí của cuộc sống muôn loài, vạn vật trên mặt đất, trần gian, rồi hoát nhiên, bừng thấy ra đóa Hoa Tâm giữa trời thơ đất mộng bồi hồi:

 

Từng viên đá thấm mồ hôi

Đóa hoa tâm nở trên đồi mù sương

Đầu nguồn cuối bến sông Tương

Bàn tay của mẹ thơm hương xứ trầm

Vẫn còn đây đóa hoa tâm

Nghìn thu rụng tiếng nguyệt cầm đầu non

 

Đầu non cuối biển vọng tiếng nguyệt cầm, rung ngân bất tận một tiếng đàn trăng giữa thiên thu vời vợi. Khiến cho bất ngờ, mồ hôi thấm từng viên đá sỏi ven đồi, thấm qua bàn tay gầy guộc của mẹ hiền vun xới, chở che,đùm bọc, để rồi mọc lên tinh khôi một đóa hoa lòng trong trắng, một đóa hoa tâm thầm lặng, tỏa ngát hương trời giữa hoang vắng, tịch liêu, trên xứ miên cao nguyên, phiêu phưỡng khói sương mù. Đóa hoa từ tâm, đóa hoa tuệ tâm ấy, một ngày kia đã hóa thân thành Giác Tâm, một thi sỹ bình dị, đơn sơ nhưng rực ngời Nở Tỏa Trăng Sao trên cuộc lữ dặm dài:

 

Ai đem chút nắng lên đồi

Cho quỳ hoa nở tặng đời mai sau

Chỉ là chút sắc chút màu

Chân tâm ngưỡng vọng niềm đau phai nhòa

Đất trời dù biết không hoa

Con tim rung động nở tòa trăng sao

 

 

 

Vằng vặc trăng sao giữa đất trời Chân Như lồng lộng. Không biết tự bao giờ, dường như là năm 1956, chàng thi sỹ ra đời, đi về xuất hiện nơi sơn thôn Cỏ May, chốn Trại Mộ, Biển Hồ Trà, thuộc tỉnh Gia Lai này. Lớn lên trên thượng nguồn, núi đèo heo hút, rừng rú man dại, hoang vu, sớm chiều thấp thoáng mờ sương khói phủ. Ru hồn thơ vi vu, vi vút theo suối thác, truông ghềnh…Chạy nhảy, nô đùa với cỏ nội hoa ngàn, thở cùng gió núi, mưa rừng, nắng rậm giữa trời đất man thiên.

 

Đến năm 1969, mới 14 tuổi, chàng có duyên vào chùa xuất gia, học đạo và dần dần trải qua năm tháng tu hành, thấy hiện bừng ra cảnh giới tự tâm thanh tịnh từ thuở ban sơ. Sở dĩ, mình không sống được cái bản tâm vi diệu này là vì mình tự đánh mất nó đi, tự mình lơ đễnh, tự mình giam nhốt chính mình trong những cặn bã danh lợi, những ngục tù bản ngã ấu trĩ, những đố kỵ, nhỏ nhen, bần tiện, tự mình buông lung, buông thả, chìm đắm trong bóng tối vô minh, hụp lặn giữa đục ngầu tham sân si, trong mộng mị, chiêm bao, ảo dị sa đà…Cho nên, mạch nguồn thi ca trong lòng chợt bùng vỡ, dâng trào lời Nguyện Ước, rạt rào nguồn cảm hứng sâu xa:

 

Ta đánh mất bởi vì ta lơ đễnh

Mắt xa xôi say mộng ảo phương nào

Cỏ hoa ấy xiết bao lòng trìu mến

Lắng lòng nghe hoa cỏ sẽ thì thào

 

Ta đánh mất bởi trầm tư thái quá

Lối đi về quên bẵng ánh trăng sao

Ồ mộng mị triền miên vàng hoa lá

Sông thương đây tơ tưởng núi non nào?

 

Lời bộc bạch lòng ta em đã tỏ

Nối bàn tay hàn gắn những nhịp cầu

Dòng sông xưa đôi bờ hoa nở đỏ

Tặng cho nhau quên hết tháng năm sầu

 

Lời bộc bạch hay lời Nguyện Ước khơi vơi nọ, thi sỹ muốn nhắn gởi cho chư huynh đệ mười phương, đang sống lưu linh lạc địa, trên khắp quả địa cầu, đang quay lông lốc giữa hư không này. Hãy tự mình tỉnh thức. Hãy tự thắp đuốc lên mà đi hỡi khách lữ phong trần. Hãy quay về quê quán ban sơ, ngồi lại bên hồ xanh thanh thản, trút đi hết mọi sầu đau, áo não từ vô lượng kiếp. Khi đứa con hoang biết quy hồi cố xứ Pleiku Và Lữ Khách ngồi lại bên mẹ hiền, lắng nghe lời ru ca dao sưởi ấm tâm hồn:

 

Con lưu lạc từ ngàn xưa lưu lạc

Bỏ quê hương quên cả lối đi về

Đồi lộng gió tóc mẹ bay tóc bạc

Ngóng đợi con trăng khuyết đến trăng tròn

 

Con nhớ mẹ tà áo bay áo trắng

Đưa con qua suốt cuộc tử sinh này

Cưỡng lời mẹ con uống nhiều giọt đắng

Chợt tỉnh say mộng mị vơi đầy

 

Rồi một ngày khi đi qua chùa cổ

Bỗng reo vui khi thấy dáng người

Mẹ hiện hữu cho trần gian vơi khổ

Cõi người ta nay đã có tiếng cười

 

Chiều cao nguyên bay qua ngàn mây trắng

Chim thiên di về với cội nguồn

Hành lý đời từ nay không còn nặng

Gởi hồn mình theo từng tiếng chuông buông

 

Khi nghe từng tiếng chuông từ ngôi chùa trên núi cao vọng xuống, bỗng nhiên nhà thơ sực thấy ra bà mẹ trần gian, ruột thịt của mình cũng chính là bà mẹ hiền Quán Thế Âm đang nhìn mình bằng Mắt Thương Nhìn Đời đầy từ bi vô lượng:

 

Mẹ về trên đỉnh mù sương

Tinh khôi áo trắng mắt thương nhìn đời

Nước Biển Hồ có đầy vơi

Hải triều âm vẫn vọng lời đại bi

 

An nhiên trước cuộc thịnh suy

Vẫn vô úy sống giữa nguy hiểm này

Vô vi nguồn suối lành thay

Cành dương giọt nước thấm đầy lòng con

 

Nguyện tha thiết dạ sắt son

Dấn thân phiền não vẫn tròn yêu thương

Kính dâng một nén tâm hương

Quan Âm Bồ tát đưa đường thăng hoa…

 

“Mắt thương nhìn đời” hay“từ nhãn thị chúng sinh” là cái nhìn dịu dàng, trìu mến, chan chứa đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả và hạnh nguyện thiết tha, vô cùng, vô tận, vô biên, vô lượng thương yêu thập loại chúng sinh của mẹ hiền Quán Thế Âm. Hạnh nguyện yêu thương vô điều kiện đó, nhà thơ Giác Tâm cũng thường xuyên nhắc nhở, khuyên bảo đàn em của mình tinh tấn thực hiện, hành trì, áp dụng vào thực tế cuộc đời Thương Mẹ Giùm Tôi:

 

Em còn hiện hữu trong tôi

Trong từng phiến đá bên đồi mù sương

Đi qua cuộc thế vô thường

Trong em còn có mắt thương nhìn đời

 

Giọt mồ hôi với nụ cười

Hoa trên đá nở bồi hồi ngày qua

Mai này tôi có đi xa

Trái tim xẻ nửa Hồ Trà em ơi!

 

Mong em hành đạo yêu đời

Đắp xây chùa cổ tuyệt vời nên thơ

Thay tôi em gắng phụng thờ

Nén hương tưởng Mẹ từng giờ nghe em

 

Lời dặn dò chân thành đó, khiến cho các em cảm động, nhớ ghi. Vì thế, bây giờ khi đã lớn khôn như bầy chim tung cánh bốn phương trời, các em vẫn thường nhớ về chùa cũ, thầy xưa:

 

Con nguyền làm hạt nước mưa

Tưới lên quê mẹ sớm trưa khô cằn

Cho con được là ánh trăng

Đêm rằm về lại tung tăng quây quần

 

Cho con sống không vong thân

Biết mình hiện hữu hồng trần làm chi

Đường con đi đường Từ Bi

Trọn đời vẫn nhớ khắc ghi trong lòng

 

Lấy Từ Bi làm con đường để bước đi là một thái độ vô cùng bao dung, dũng cảm. Chỉ có những trái tim hồng, được un đúc trong lò lửa nhiệt huyết giữa cuộc sinh tồn đầy bức bách, đầy thống khổ, điêu linh này, đã từng chứng kiến bao cảnh đời tuyệt lộ, tàn xiêu, thì mới đủ sức mạnh thần diệu mà phát tâm nguyện đại từ, đại bi như vậy được. “Đường con đi đường Từ Bi” tuy là một câu thơ dễ hiểu thôi, nhưng khó thực hiện, đủ gây chấn động khôn dò, bởi nói ra từ giới trẻ hôm nay. Thật vô cùng hy hữu, ít có làm sao!

 

Trào dâng lên làn thanh khí thi vị, thi nhiên, tiếng thơ Giác Tâm có cảnh có tình, có nhạc, có họa “thi trung hữu họa.” Trong thơ ngân lên những cung bậc thiền, những bức tranh bình dị, mộc mạc, phản ánh nhiều cảnh đời thường nhật, nhiều trạng thái tâm thức hân hoan, hoài niệm, tưởng nhớ…Lời thơ tha thiết, chân tình, biểu lộ thế giới nội tâm thâm cảm bao la như Ngắm Hoa Ven Đồi:

 

Hiên đời nắng táp mưa sa

Về non Ngọc Lĩnh ngắm hoa ven đồi

Am mây ngả bóng mây trôi

Dòng sông mộng vẫn muôn đời mênh mang

 

Ngỡ cùng tử mãi đi hoang

Hốt nhiên một đóa mai vàng nở tung

Thõng tay vào chốn bụi hồng

Đường xưa mây trắng phiêu bồng tiêu dao

 

Thõng tay vào chốn bụi hồng, thi sỹ mặc sức phiêu bồng, rong chơi tận góc bể chân trời khắp đồng bằng, châu thổ, cao nguyên. Ngao du từ phố núi Pleiku xuống phố biển Nha Trang, rồi lang thang qua các dòng sông Hương, sông Hồng, sông Cửu…Có lần lặn lội qua tận bến cát sông Hằng, Ấn Độ, theo đường xưa mây trắng, dừng gót lại bên Dòng Sông Ni Liên Thiền trong một chiều vạn đại quá hân hoan:

 

Ngàn năm vẫn con sông này

Ngàn năm vẫn cứ mây bay chập chùng

Thế Tôn vẫn là Cha chung

Dung nhan hiền thiện đại hùng đại bi

Như Lai không đến không đi

Tìm trong Phật tích thấy gì ngày qua?

 

Thấy gì, thi nhân không cần nói rõ mà lặng lẽ, nhẹ nhàng, bồng tênh trên ngõ về thông lộ Vô Ngôn. Tịnh khẩu như Bồ Đề Đat Ma leo lên tuyệt đỉnh núi Tung Sơn, chín năm ngồi trầm hùng, tịnh hạnh:

 

Học Đạt Ma nhìn vách

Nói nhiều có ra chi

Lặng im là thử thách

Vô ngôn cõi từ bi

 

Nói tuyên dương diệu pháp

Không bản ngã khoe bày

Không chánh niệm…bão táp

Loạn ngôn thành cuồng say

 

Bốn chín năm nói pháp

Thế Tôn nói chưa nhiều

Học hạnh Bụt…đền đáp

Đó mới là Tỳ kheo

 

Tỳ kheo là những bậc xuất sỹ, những tâm hồn dị thường, dám buông bỏ hết để lên đường làm một con người hoàn toàn vô sự. Trên con đường thênh thang đó, một chiều nọ, thi nhân lắng nghe Tâm Sự Hàn Sơn Tử:

 

Giã từ thôi chữ nghĩa

Về xem mây trắng bay

Cõi đời không dấu tích

Khắc chạm nào ai hay

 

Ba trăm bài vách núi

Có còn trong thiên thu?

Ta về nơi chốn ấy

Huyền nghĩa có phù du?

 

Thập Đắc ơi theo mình

Trụ vào nơi vô trụ

Thi phú để cho đời

Chừng bấy nhiêu tạm đủ

 

Sương mù len vách núi

Mờ yếu tính thiền thơ

Ta trôi dòng thi khắc

Rỡ ràng bài thơ Vô

 

Bài thơ Vô ấy, suốt kim cổ xưa nay, rất nhiều đạo sỹ, thiền sư đã sáng tạo và thi nhân cũng tiếp tục viết suốt bình sinh, lịch nghiệm của đời mình, trên dặm dài cô lữ theo nước chảy mây trôi. Rồi cuối cùng, làm cuộc quy hồi cố xứ, trở về ngọn đồi cao heo hút, trong ngôi chùa cổ rêu phong trầm tịch mịch.

 

Sau một thời gian dài hơn 15 năm tầm cầu học đạo với những bậc tôn túc, thầy Giác Tâm trở về an trú, trụ trì chùa Bửu Minh. Với tâm hồn thi sỹ tài hoa, thầy dốc hết năng lực, trí tuệ ra trùng tu toàn bộ cảnh thiền môn xuống cấp thành một ngôi đại tự nguy nga, tráng lệ. Chùa có vị trí biệt lập, cách xa làng xóm, nằm trên ngọn đồi giữa những nương rẫy chè xanh quang đãng, rộng dài. Trải qua bao mùa cuồng phong, bão tố, Ngôi Chùa Yêu Dấu ấy vẫn đứng trầm mặc, tịch nhiên, lặng lẽ:

 

Bửu Minh chốn cũ lại về

Ngàn sương gió lộng bốn bề trà xanh

Cây đa rợp bóng thiên thanh

Cho hồn tịnh lạc an lành đi lên

 

Con về lội khắp sơn xuyên

Trồng hoa trên đá an nhiên ngắm nhìn

Con về còn trọn niềm tin

Câu kinh Không Sắc xóa nghìn thương đau

 

Về đây sương trắng mái đầu

Chợt nghe chim hót nhiệm mầu tử sinh

 

“Con về còn trọn niềm tin” một câu thơ mà thi sỹ đã lấy làm đầu đề cho tác phẩm của mình (dài 364 trang, Phương Đông xuất bản, 2012) Con Về Còn Trọn Niềm Tin, tập tản văn, khẳng định tấm lòng son sắt với Đạo, với Thiền, với quê xứ Tự Tâm, Tự Tánh thanh tịnh. Thật tuyệt diệu “Câu kinh Không Sắc xóa nghìn thương đau” nói lên yếu chỉ, tinh túy của Bát Nhã Tâm Kinh mầu nhiệm, có khả năng đưa ta vượt thoát khỏi sinh tử luân hồi.

 

Trên con đường phong quang sáng tạo, thi nhân cảm nhận ngay trong sinh tử vốn hiện hữu Niết bàn, mặc dù còn thấp thoáng nhưng cũng thấy ra một cõi đi về. Thành thử, Con Về Nương Tựa Cửa Thiền Từ Đây, cứ như vậy, như thế, tùy duyên bất biến trên nhịp bước thanh thản, lạc an:

 

Đi về một cõi thênh thang

Suối thương yêu chảy mênh mang đất trời

Còn đây áo trắng tinh khôi

Vờn bay thấp thoáng núi đồi mù sương

 

Con về đốt nén tâm hương

Lòng thành tưởng niệm vấn vương mẹ hiền

Cõi người ta cõi oan khiên

Con vể nương tựa cửa thiền từ nay

 

Một đời mê mải sống say

Quay về ngồi ngắm mây bay đỉnh tùng

Chim nào rớt xuống lòng thung

Xé toang lưới mộng trùng trùng bay lên

 

Bay lên đỉnh núi không tên

Cất cao tiếng hót mông mênh lưng trời

 

Nhà thơ mỉm nụ cười trầm tịch, lắng nghe “suối thương yêu chảy mênh mang đất trời” chảy tràn qua khắp rừng truông, núi đồi, rồi chảy về dưới mái chùa thanh vắng giữa bạt ngàn nương rẫy quanh đây. Thuận pháp, tùy duyên, thầy hướng dẫn, chuyển hóa, giúp đỡ đồng bào phật tử miền cao nguyên biết nhân quả, nghiệp báo, biết bố thí, làm việc phước thiện, biết buông bỏ tham lam, sân hận, si mê, để vơi đi bớt phần nào những phiền não, khổ đau, mệt mỏi, chán chường…

 

Phương trời viễn xứ, ngút ngàn giữa muôn trùng cuộc lữ, du sỹ này làm chuyến đi xuyên Việt, khởi từ bờ biển Kiên Giang, đến nay cũng hơn 6 tháng rồi mới tới vùng cao phố núi Pleiku, lãng đãng khói sương mù. Một nếp duyên lành hạnh ngộ, du sỹ dừng gót giang hồ, lưu trú lại chùa cổ gần nửa tháng nay. Sớm chiều vào ra nhàn nhã, ngắm xanh biếc Biển Hồ, trông mây ngàn bàng bạc trên dãy núi Tiên Sơn, chập chờn bao hoa nắng phiêu bay rờn lạnh bóng sơn khê…

 

Gặp du sỹ như gặp người đồng điệu, thầy trải lòng ra hòa khúc tâm giao. Rót cạn mấy bình trà bên thềm trăng khuya vẫn chưa hết ý, chưa cạn lời hàn huyên, tâm sự.

 

Một chiều, thầy đưa xem bản thảo tập thơ Nghìn Thu Rụng Tiếng Nguyệt Cầm Đầu Non, gần cả trăm bài thơ, vừa ngậm ngùi vừa tiêu sái, vừa nỗi niềm vừa xuất cốt, phiêu diêu. Tôi liền đọc một mạch như đọc lại chính mình và cảm hứng mần bài thơ Bửu Minh Trầm Tịch Nhiên này, riêng tặng vị thầy có tâm hồn thi sỹ, trước khi chia tay, tạm biệt, tiếp tục viễn phương hành:

 

Rừng nhạt nắng dừng chân Chư Păh

Đồi cao nguyên xanh biếc Biển Hồ Trà

Trại Mộ nao nao hồn cố quận

Bóng thông già vi vút gió chiều qua

 

Thương từng vệt rêu phong trên cổ tháp

Từng nét mờ ẩn hiện dấu thời gian

Con về còn trọn niềm tin* tưởng

Vẫn ngân rung bất tuyệt tiếng kinh vàng

 

Là tiếng lòng sâu xa hòa tâm cảm

Quyện chân thành thanh thản bước an nhiên

Bửu Minh trăng sáng thềm tịch chiếu

Diệu kỳ tan vô lượng kiếp ưu phiền

 

Tâm Nhiên

 

Thơ Thích Giác Tâm. Trích trong tập Nghìn Thu Rụng Tiếng Nguyệt Cầm Đầu Non (bản thảo)

* Con Về Còn Trọn Niềm Tin. Tản văn Giác Tâm. Phương Đông xuất bản, Sài Gòn 2012








***

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/202109:18(Xem: 89297)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
30/03/201706:52(Xem: 7755)
Một thời máu lửa đạn bom Quê hương tang tóc, hồn hoang tru gào Từng trang sử đẫm lệ trào Ngày im tiếng súng nghẹn ngào gọi nhau!
05/02/202008:52(Xem: 3554)
Nhị thập song đôi (2020) Canh Tý Niên Mừng Xuân, Quảng Đức ngát thiền "Tâm an" thủ bút Thầy ghi tặng Chúc nguyện nhà nhà hưởng phước thiên.
11/10/201807:17(Xem: 6748)
Mưa da diết, thời gian như dừng chậm Chút vấn vương thương nhớ chị nơi xa Cô đơn héo hon khi tuổi chớm già Nhiều lần điện , chị đáp lời " Bận lắm " .
05/04/201322:25(Xem: 9850)
Lịch sử luôn trao tận tay từng số phận thuận nghịch của duyên trần (biệt nghiệp) để từ đó hòa mình vào vận mạng chung của cộng nghiệp.
20/08/201419:28(Xem: 13803)
“Trang hỡi Trang, em là vì sao sáng Giữa khung trời mây trắng với trăng thanh” Một công trường lưu dấu tích tên em Nay bị di dời, Trang ơi em có biết Năm mươi năm giữa Sài Gòn náo nhiệt Chợ Bến Thành nhộn nhịp khách lại qua Mỗi một khi nhìn bức tượng kiêu sa
07/07/201107:27(Xem: 23723)
“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”
13/06/201421:21(Xem: 13631)
Hãy là “ong”(1) chiêu cảm nhiều nét đẹp Góp nhụy hoa tạo mật ngọt cho đời An nhiên bay thong thả khắp muôn nơi Đem ích lợi ít khi nào tác hại Đừng là “ruồi” thấy phân là bu lại Mang hôi dơ truyền nhiễm đến cho người Chỉ thấy xấu việc dơ bẩn thì bươi Gây thiệt hại hơn là điều lợi ích
02/01/201622:32(Xem: 7665)
Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗; 7 tháng 12 năm 1258 – 16 tháng 12 năm 1308,) là vị vua thứ 3 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Trần Nhân Tông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông có vai trò lãnh đạo quan trọng trong Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2 và lần 3. Trần Nhân Tông cũng là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu ĐàHoàng Giác Điều Ngự. (Tham khảo từ trang Web. Vikipedia.org VN.)
12/04/201407:44(Xem: 27898)
Một là tội tạo từ xưa Nặng thì thành nhẹ, nhẹ trừ tiêu luôn Hai là được các thiện thần Dẹp tan hoạn nạn tai ương ngục tù Ba là tránh mọi hận thù Giải oan đời trước cũng như đời này Bốn là hùm rắn có vây