Phẩm 26: Bà La Môn

23/08/202013:08(Xem: 12677)
Phẩm 26: Bà La Môn
 
buddha-526

KINH PHÁP CÚ 

Việt dịch: HT Thích Minh Châu
Thi Hóa: HT Thích Minh Hiếu

Lưu ý:
Kinh bên dưới bản gốc Việt dịch: HT Thích Minh Châu (câu đầu),
Câu theo sau là phần Thi Hóa của HT Thích Minh Hiếu (chữ nghiêng)

Phẩm Bà La Môn 26



383/ Hỡi này Bà la môn,

Hãy tinh tấn đoạn dòng,

Từ bỏ các dc lạc,

Biết được hành đoạn diệt,

Người là bậc vô vi.



283/ Như Lai khuyên Bà la môn

Phải tinh tấn đoạn dứt nguồn tái sanh,

Từ bỏ dục lạc các hành

Không còn tạo tác trở thành Thánh nhân.



384/ Nhờ thường trú hai pháp,

Đến được bờ bên kia;

Bà la môn có trí,

Mọi kiết sử dứt sạch.



384/ Chỉ, Quán hai pháp thường hành

Phá tan trói buộc tơ mành cũng tiêu,

Thuyn dong bến giác thun chiều

Có định có tuệ như diều đặng phong.



385/ Không bờ này, bờ kia,

Cả hai bờ không có,

Lìa khổ, không trói buộc,

Ta gọi Bà la môn.



385/ Một đường trung đạo dung thông

Hai bờ sinh tử đừng hòng vướng chân,

Khổ vui giờ cũng rng không

Như Lai gọi Bà la môn nghĩa này.



386/ Tu thiền trú ly trần,

Phận sự xong, vô lậu,

Đạt được đích ti thượng,

Ta gọi Bà la môn.



386/ Danh phận thực sự xứng thay

Lậu hoặc đã tận rời ngay thế trần,

Ở đời phận sự làm xong

Đặt gánh nng xung không còn chuyn lưu.



387/ Mặt trời sáng ban ngày,

Mặt trăng sáng ban đêm,

Khí giới sáng ban đêm,

Khí giới sáng Sát Lỵ,

Thiền định sáng Phm chí;

Còn hào quang Đức Phật,

Chói sáng cả ngày đêm.



387/ Mặt tri soi sáng thái hư

Trăng thanh tochiếu đêm thu thanh bình,

Áo giáp phòng vchiến binh

ng tướng rng rỡ điều binh đấu trường.

Người tu lòng chng tơ vương

Cõi thin thanh lọc mười phương trong lành.

Như Lai tuệ giác Đại nhân

Hào quang rng chiếu xa gn tam thiên.



388/ Dứt ác gọi Phạm chí,

Tịnh hnh gọi Sa Môn,

Tự mình xut cấu uế,

Nên gọi bậc xut gia.



388/ Không còn ác hnh truân chuyên

Ta gọi Phạm Chí tịnh huyn Sa môn,

Xa ri cấu uế tự thân

Xuất gia tht nghĩa, bỏ trần chân Sư.



389/ Chớ có đập Phạm Chí !

Phạm Chí chớ đập lại !

Xấu thay đập Phạm Chí

Đập trả lại xấu hơn.!



389/ Chớ nên đánh đập người tu

Sa môn không xng nếu như trả đòn,

Người sai mình chớ tệ hơn

Mang danh Phạm Chí oán hờn không nên.



390/ Đối vị Bà la môn,

Đây không lợi ích nhỏ;

Khi ý không ái luyến,

Tâm hại đã chận đứng,

Chỉ khi ấy khổ diệt.



390/ Oán thù không trả tự yên

Gió kia dng lại để thuyn thong dong,

Hại tâm khi được tịnh trong

Thì lòng luyến ái đã ngăn kiếm tầm.

Khổ đau giờ cũng bit tăm

Bà la môn hỡi ! Vic làm khắc ghi.



391/ Với người thân miệng ý,

Không làm các ác hnh,

Ba nghip được phòng hộ,

Ta gọi Bà la môn.



391/Với người thân miệng ý trì

Phòng hộ chặt chẽ có gì không qua,

Ác hành ba nghip tránh xa

Người được như thế mới là tu chơn.



392/ Từ ai, biết chánh pháp,

Bậc Chánh Giác thuyết giảng,

Hãy kính lễ vị ấy,

Như Phạm Chí thờ lửa.



392/ Nhớ công ghi dạ sắc son

Truyền trao chánh pháp thâm ân kính thờ,

Trọng người khai mở tâm cơ

Như vị Phạm Chí cúng thờ lửa thiêng.



393/ Được gọi Bà la môn,

Không vì đầu bện tóc,

Không chng tộc, thsanh,

Ai tht, chân, chánh, tịnh,

Mới gọi Bà la môn.



393/ Không từ đâu, được gi riêng

Bà la môn bởi gốc nền thsanh,

Hay vì đầu tóc bên quanh

Mà phải chân tht, chánh hành sạch trong.



394/ Kẻ ngu, có ích gì,

Bện tóc với da dê,

Nội tâm toàn phiền não,

Ngoài mặt đánh bóng suông.



394/ Kẻ ngu phiền não ngp lòng

Học theo hình thc chớ hòng nên thân,

Kéo lôi qun chúng xa gần

Da dê,bện tóc, lng chân ích gì.?



395/ Người mặc áo đống rác,

Gầy ốm, lộ mạch gân,

Độc thân thin trong rừng,

Ta gọi Bà la môn.



395/ Không bng lượm vải kết y

Khất thực khổ hạnh thân thì ốm o,

Độc thân khắc chế sợ lo

Giữa rừng thiền định gọi Bà la môn.



396/ Ta không gọi Phạm Chí,

Vì chỗ sanh, msanh,

Chỉ được gọi tên suông,

Nếu tâm còn phiền não;

Không phiền não. chp trước,

Ta gọi Bà la môn.



396/ Xuất thân hay chsinh tồn

Cao quý hạ liệt ngữ ngôn dối lừa,

Nếu tâm còn mãi tranh đua

Phạm Chí tên ấy chmua danh phàm,

Khi nào dứt sạch chấp tham

Danh xưng người đã diệt tan não phiền.



397/ Đoạn hết các kiết sử,

Không còn gì lo sợ,

Không đắm trước buộc ràng,

Ta gọi Bà la môn.



397/ Đoạn dây trói ct oan khiên

Không còn đắm trước tuỳ miên buộc ràng,

Gicho thân được khinh an

trong cõi Thánh dự hàng nhp lưu.



398/ Bỏ đai da, bỏ cương,

Bỏ dây, đồ sở thuộc,

Bỏ then cht, sáng suốt,

Ta gọi Bà la môn.



398/ Bỏ cương, buông ái, bỏ thù

Hận, sân, tà kiến, bỏ dù, bỏ dây,

Bỏ vô minh, then chốt nầy

Tịch nhiên sáng suốt xứng thy Sa môn.



399/ Không ác ý, nhn chịu,

Phỉ báng, đánh, phạt hình,

Lấy nhẫn làm quân lực,

Ta gọi Bà la môn.



399/ Lấy nhẫn làm gốc độc tôn

Là quân đội mạnh chu công phá thành,

Phỉ báng, đánh đập, phạt hình

Không khởi ác ý, thanh minh nữa lời.



400/ Không hn, hết bổn phận,

Trì giới không tham ái,

Nhiếp phục, thân cui cùng,

Ta gọi Bà la môn.



400/ Từ tâm rãi khắp mi nơi

Tròn xong phận sự sáng ngi gii nghi,

Thân sau cùng phải bỏ đi

Bà la môn ấy! danh ghi sử vàng.



401/ Như nước trên lá sen,

Như hột cải đầu kim;

Người không nhiễm ái dục,

Ta gọi Bà la môn.



401/ Giống như hạt nước lá sen

Long lanh ngn lệ bao phen chẳng nhằm,

Đầu kim hạt cải biệt tăm

Không nơi vướng nhiễm dục tầm về đâu.



402/ Ai tự trên đời này,

Giác khổ, dit trừ khổ,

Bỏ gánh nng, gii thoát,

Ta gọi Bà la môn.



402/ Những ai giác ngộ vô cầu

Đâu còn mang nng gánh sầu đa đoan,

Tuy là sống thế gian

Bà la môn cũng vô can dự phần.



403/ Người trí tuệ sâu xa,

Khéo biết đạo, phi đạo,

Chứng đạt đích vô thượng,

Ta gọi Bà la môn.



403/ Người trí biết đạo chng gần

Tìm đường gii thoát khéo phân chánh tà,

Để không sai lc li Ma

Mục đích ti thượng đến nhà Như Lai.



404/Không liên hệ cả hai,

Xuất gia và thế tục,

Sống độc thân, ít dục,

Ta gọi Bà la môn.



404/ Kẻ đang vướng bn tai gia

Hay đã từ bỏ cái nhà riêng tư,

Bà la môn quyết chuyên tu

Một mình ly dục viễn du an nhàn.



405/ Bỏ trượng, đối chúng sanh,

Yếu kém hay kiên cường,

Không giết, không bo giết,

Ta gọi Bà la môn.



405/ Đối xử với cthế gian

Kẻ mạnh người yếu lòng vàng mến thương,

Khuyên bảo xthế nhn nhường

Không đánh, không giết hai đường tránh xa.



406/ Thân thin gia thù địch,

Ôn hoà giữa hung hăng,

Không nhiễm, gia nhim trước,

Ta gọi Bà la môn.



406/ Hung hăng ta giữ ôn hoà

Ai kia thù địch, cho ra thân tình,

Bà la môn không nhiễm mình

ng không dính mc hữu tình trói trăn.



407/ Người bỏ rơi tham sân,

Không mạn, không ganh tị,

Như hột cải đầu kim,

Ta gọi Bà la môn.



407/ Một người bỏ rơi tham sân

Kiêu căng ganh tị bỏ lần sạch trơn,

Đầu kim chỗ ấy đâu còn

Không gian ht ci tranh hơn trốn vào.



408/ Nói lên lời ôn hoà,

Lợi ích và chân thật,

Không mt lòng một ai,

Ta gọi Bà la môn.



408/ Nói lời êm ái thanh tao

Chân thành như nắng xuân đào nở hoa,

Được lòng tín chủ gần xa

Ta gọi vị ấy, thật Bà la môn.



409/ Ở đời, vât dài, ngắn,

Nhỏ, lớn, đẹp hay xấu,

Phàm không cho không lấy,

Ta gọi Bà la môn.



409/ Sống cùng kẻ dại người khôn

Giữ sao ý đẹp tâm chơn mới là,

Cây kim, ngọn cỏ , ngọc ngà

Vật cht quý tiện không cho chớ sờ.



410/ Người không có hy cầu,

Đời này và đời sau,

Không hy cầu, giải thoát,

Ta gọi Bà la môn.



410/ Người sống không có mong ch

Hiền tại sung mãn, phòng hờ kiếp sau,

Bà la môn không hy cầu

Thnh thơi có cả trăng sao đầy tri.



412/ Người không còn tham ái,

Có trí không nghi hoặc,

Thnhp vào bt tử,

Ta gọi Bà la môn.



411/Người nào tham ái dứt rồi

Tín tâm vào pháp trí ngời minh quang,

Mặt tri chói sáng thế gian

ng lượng bt tử muôn ngàn sanh linh.



412/ Người sống ở đời này,

Không nhim cthiện ác,

Không sầu, sạch, không bụi,

Ta gọi Bà la môn.



412/ Bà la môn giữa hữu tình

Không nhim thiện ác, anh minh gia dòng,

Sạch nhơ, sầu hỷ đều không

t Nhã quán chiếu tinh thông cứu đời.



413/ Như trăng sch không uế,

ng trong và tịnh lặng,

Hữu ái, được đoạn tận,

Ta gọi Bà la môn.



413/ Trăng ngà treo giữa trùng khơi

ng trong tnh lng bu trời không mây,

Khổ vui giấc mộng đêm dài

Bừng con mt dy hình hài phù du.



414/ Vượt đường nguy hiểm này,

Nhiếp phc luân hồi, si,

Đến bờ kia thiền định,

Không dục ái, không nghi,

Không chp trước, tịch tnh,

Ta gọi Bà la môn.



414/ Con đường nhiếp phc hữu dư

minh che lp him nguy chp chùng,

Nếu không khi chí đại hùng

Thê thng tử phược phá tung dễ nào.,

Bà la môn chng hề nao

Vững toà thiền định sóng xao vỗ bờ.



415/ Ai ở đời ,đoạn dục,

Bỏ nhà, sống xut gia,

Dục hữu được đoạn tận,

Ta gọi Bà la môn.



415/ Một lòng dứt bỏ duyên tơ

Dục hữu khô cạn, bợn nhơ dứt lìa,

Xuất gia như thực ai kia

Không như thùng rng, mõ khua dối lừa.



416/ Ai ở đời đoạn ái,

Bỏ nhà, sống xut gia,

Ái hữu được đoạn tận

Ta gọi Bà la môn.



416/ Những ai ăn phi giấm chua

Ái hữu chng đoạn ở chùa ung công,

Ra đi thquyết một lòng

Sa môn đoạn ái nâu sòng khoác lên.



417/ Bỏ trói buộc loài ngườ,i

Vượt trói buộc cõi trời,

Gii thoát mọi buộc ràng,

Ta gọi Bà la môn.



417/ Không vì lạc thú cõi trên

Không vì hạnh phúc chng bn thế gian,

Còn chi cám dỗ buộc ràng

Xuất ly tam giới mây ngàn thong dong.



418/ Bỏ điều ưa, điều ghét,

t lnh, dit sanh y,

Bậc anh hùng chiến thắng,

Nhiếp phục mọi thế giới,

Ta gọi Bà la môn.



418/ Trời cao đất rộng mênh mông

Không còn yêu ghét tắm dòng thanh lương,

i sanh ơi! cuối con đường

Anh hùng ta gi chiến trường lp công.

Thế gian tuân phc hết lòng

Bà la môn đã tròn xong đạo đời.



419/ Ai hiểu rõ hoàn toàn,

Sanh tử các chúng sanh,

Không nhiễm, khéo vượt qua,

ng sut, chân giác ngộ,

Ta gọi Bà la môn.



419/ Người nào thông hiểu mọi nơi

Nguồn gốc sanh tử các loài chúng sinh,

Hữu tình cho đến vô tình

Vượt qua không vướng, bóng hình giả chân.



420/ Với ai, loài tri người,

Cùng vi Càn Thát bà,

Không biết chthsanh,

Lậu tận bậc La hán,

Ta gọi Bà la môn.



420/ Đã qua vc xoáy thế trần

Trời người không thể định phân chốn nào,

Chư thiên các gii thp cao

Ai mà thm thấu đạo mầu vô sinh.

La hán lậu tận trí minh

Cảnh giới vô ngại khó hình dung ra.



421/ Ai quá, hiện, vị lai,

Không một sở hữu gì,

Không sở hữu, không nắm,

Ta gọi Bà la môn.



421/ Người ấy tam giới đi qua

Ba thi chng vướng, ngang nhà không hay,

Không gì sỡ hữu trong tay

Bà la môn sạch chẳng lay tc lòng.



422/ Bậc trâu chúa, thù thắng,

Bậc anh hùng, đại sĩ,

Bậc chiến thng, không nhiễm,

Bậc tẩy sach, giác ngộ,

Ta gọi Bà la môn.



422/ Mạnh như trâu chúa anh hùng

Vững như đại sĩ bao dung vn loài,

nhiễm tẩy sch trong ngoài

Thanh tnh giác ngộ liên đài ngát hương.



423/ Ai biết được đời trước,

Thy thiên giới, đoạ xứ,

Đạt được sanh dit tận,

Thng trí, tự viên thành,

Bậc Mâu ni đạo sĩ,

Viên mãn mọi thành tựu,

Ta gọi Bà la môn.



423/ Ai người thy suốt mười phương

Kẻ sanh thiên gii, người vương tội đày,

Quá khứ, hiện tại xưa nay

Thng trí viên mãn rạng bày tánh Không.

u Ni quả chứng nhp dòng

Bà la môn phẩm, sau cùng thăng hoa.

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/02/2026(Xem: 2093)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 1969)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 1671)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 1619)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
24/01/2026(Xem: 2128)
Bính Ngọ Xuân về tỏa ngát hương Hoa ngàn cỏ nội đẹp muôn phương Yên bình vũ trụ qua tai chướng Tĩnh tại mây trời lắng họa vương Thế sự chan hòa xa ác tưởng Nhân dân vững mạnh hướng an tường Nghĩa ân mầu nhiệm lòng luôn dưỡng Phật pháp thâm huyền phát nguyện nương..!
23/01/2026(Xem: 1623)
Một lần tịch tĩnh rừng hoang Sao Mai huyền diệu óng vàng trời đêm Cỏ lau thức giấc êm đềm Khuya bên bếp lạnh khưi niềm ủ tro Tâm tư hạt thóc rợp cờ Viễn trình sinh tử phất phơ năm màu Nỗi hờn tủi nhục tan mau
22/01/2026(Xem: 1304)
Hai ngàn năm Thế Tôn khuất bóng Lời dạy xưa còn vọng đến nay Chỉ là nắm lá trong tay Vẫn tròn huệ mạng Như Lai ba đời Đúng diệu pháp, một lời cũng đủ Đủ bao hàm pháp nhũ Phật thân Một lời như thật, như chân Cho ra diệu dụng vạn lần hư ngôn Biển trầm luân sóng dồn gió dập
20/01/2026(Xem: 1555)
QUÁN Mắt trông năm cùng tháng tận Ngắm dòng sống hiểu thực hư Không gian không ngừng tĩnh động Sáu thời vẫn vậy phù hư. LẶNG Xập xình hòa vui tiếng nhạc Xóm quê thay sắc rộn ràng Hẻm cùng gió tung bụi rác Thi nhân ngưng nhịp gác đàn.
15/01/2026(Xem: 1831)
chén cơm tù cúng Phật xiềng xích hóa bụi tro hư không nhập lòng đất trăng trời trải ngàn hoa chén cơm chiều nguội ngắt tâm ý vẫn trắng trong khói nào cay đôi mắt khưi thơ chảy tuôn dòng
13/01/2026(Xem: 2427)
Tuệ Nhân vững chãi cuộc đăng trình Cùng với tăng đoàn trải nghiệm linh Tâm ước mong cho thế giới thịnh Ý nguyền muốn được quốc gia vinh Từ bi chẳng nản trong sương lạnh Hỷ xả không màng dưới nắng hanh Thẳng tiến đường xa ngàn bộ dặm Thong dong tự tại bước yên bình. .!