Phẩm 18: Cấu Uế

16/08/202011:15(Xem: 12733)
Phẩm 18: Cấu Uế
 
buddha-516

KINH PHÁP CÚ 

Việt dịch: HT Thích Minh Châu
Thi Hóa: HT Thích Minh Hiếu

Lưu ý:
Kinh bên dưới bản gốc Việt dịch: HT Thích Minh Châu (câu đầu),
Câu theo sau là phần Thi Hóa của HT Thích Minh Hiếu (chữ nghiêng)

Phẩm Cấu Uế 18



235/ Ngươi nay giống lá héo,

Diêm sứ đang chờ ngươi,

Ngươi đứng trước cửa chết ,

Đường trường thiếu tư lương.



235/ Thân ngươi như chiếc lá vàng,

Thong cơn gió nhthu sang rng rời.

Tuyền đài chốn ấy xa chơi

Tư lương chng có, rả rời thân tâm.



236/ Hãy tự làm hòn đảo,

Tinh cần gấp, sáng suốt,

Trừ cấu uế, thanh tnh,

Đến Thánh địa chư thiên.



236/ Hãy mau tnh giấc mê lầm

Dựng xây hải đảo, loi phn nhiễm ô.

An nhiên gia chốn hải hồ

Chư thiên cnh giới bến bờ không xa.



237/ Đời ngươi nay sắp tàn,

Tiến đến gần Diêm Vương.

Giữa đường không nơi nghỉ,

Đường trường thiếu tư lương.



237/ Con đường đến chn tha ma

Diêm Vương định ước canh ba khó dời.

Đường dài không chn nghỉ ngơi

Trăng tay mình trng biết nơi đâu về?



238/ Hãy tự làm hòn đảo,

Tinh cần gấp, sáng suốt,

Trừ cấu uế, thanh tnh,

Chẳng trở lại sanh già.



238/ Đừng theo vng thức rủ rê

Tự mình nương ta cận kề chơn tâm.

Tinh cần đóng chặt sáu căn

Lậu hoc dứt sạch, tử sanh ngoài.



239/ Bậc trí theo tuần tự,

Từng sát na trừ dần,

Như thợ vàng lọc bụi,

Trừ cấu uế nơi mình.



238/Bước đầu từng chút đổi thay

Sát na chuyển hoá tháng ngày sch trong.

Lược bụi nhơ, lấy vàng ròng

Tịnh trừ cấu uế rỗng không Thánh hiền.



240/ Như sét từ sắt sinh,

Sắt sanh lại ăn sắt,

ng vy, quá lợi dưỡng,

Tự nghip dn cõi ác.



240/ Sống li dưỡng quá tự chuyên,

Tự thân chút lấy ưu phiền không xa.

Như sét từ sắt sanh ra

Lại ăn ly st, thy mà sợ thay.



241/ Không tng làm nhp kinh,

Không đứng dy, bn nhà,

Biếng nhác làm nhơ sắc.

Phóng dật uế người canh.



241/ Biếng lười tụng kinh không hay,

Nhà không dn quét mỗi ngày uế nhơ.

Sắc không chăm sóc bơ phờ

Chủ không phòng hộ, trộm quơ hết rồi.



242/ Tà hạnh nhơ đàn bà,

Xan tham nhơ kẻ thí,

Ác pháp là vết nhơ,

Đời này và đời sau.



Đàn bà tà hạnh nhơ hôi

Bố thí nhơ bẩn khiến người xan tham.

Ác hnh làm nhp thế gian

Cả hai đời phi chịu ngàn đắng cay.



243/ Trong hàng cấu uế ấy,

minh, nhơ tối thượng,

Đoạn nhơ ấy, Tỳ kheo,

Thành bậc không uế nhiễm.



243/ Nguồn gốc chính, vô minh này

Đã che lp tuệ, đã bày bể dâu.

Tỳ kheo thuyền trí lướt mau

Thành bậc vô nhiễm một màu sạch không.



244/ Dễ thay, sng không hổ,

Sống lỗ mãng như quạ,

Sống công kích huyênh hoang,

Sống liều lĩnh, nhiễm ô.



Dễ thay, với kẻ dối lòng

Sống như lũ quạ đầu sông kiếm mồi.

Huyênh hoang tranh tht thây trôi,

Ăn dơ liều lĩnh, coi trời bằng vung.



245/ Khó thay, sng xấu hổ,

Thường thường cu thanh tnh,

Sống vô tư, khiêm tốn,

Trong sạch và ng suốt.



Khó thay, sng hnh khiêm cung

Khoác áo tàm quý, đức trong hnh ngoài,

Thanh tịnh vui cầu thng ngay

Như trăng chiếu sáng trời mây lng tờ.



246/ Ai ở đời sát sanh,

Nói láo, không chân thật,

Ở đời lấy không cho,

Qua lại với vợ người.



246/ Ai sống chìm trong bùn nhơ

t sanh trm cướp, mắt mờ lửa tham.

Vợ người trăng gió bên thêm

Nói di che lp, chng làm điều sai.



247/ Uống rượu men, rượu nấu,

Người sống đam mê vậy,

Chính ngay tại đời nầy,

Tự đào bi gốc mình.



Rượu chè ng xn chiều say

Cuộc sống buông thả, không hay trễ rồi.

Chính tự mình chôn mình thôi

Đời nầy vùi lấp nấm mồ thế gian.



248/ Vậy người, hãy nên biết,

Không chế ngự là ác,

Chớ để tham phi pháp,

Làm người khổ đau dài.



248/ Thế nên, này hi Thin nam !

Nếu không chế ngự muốn ham khổ đời,

Lâu dài khổ chẳng hề vơi

Lìa ngay phi pháp, ác rời đường tu.



249/ Do tín tâm, hỷ tâm,

Loài người mới bố thí;

Ở đây ai bất mãn,

Người khác được ăn uống,

Người ấy ngày hoặc đêm,

Không đạt được tâm định.



249/ Thấy người hoan hỷ suy tư

Phát tâm bố thí lòng từ mở khai

Đức tin người gieo hạt dày

Sanh tâm bất mãn nhng ai cúng dường

Ăn uống đầy đủ khinh thường

Ngày đêm tâm phi chịu vương khổ nàn.



250/ Ai cắt được phá được,

Tận gốc nhổ tâm ấy,

Người ấy ngày hoặc đêm,

Tất đạt được tâm định.



250/Nếu ai muốn dứt bất an

Đào ngay gốc rễ gian tham tị hiềm,

Tâm không ganh ghét an nhiên

Ngày đêm tự tại, trú thiền đạt chân.



251/ Lửa nào bng lửa sân !

Chấp nào bng sân hận !

Lưới nào bng lưới si !

ng nào bng sông ái.!



251/ Lửa nào mnh hơn la tham !

Chấp nào kiên cố hơn sân một toà !

Lưới tình mê dắm khó qua !

Yêu thương lặn hụp ái hà cuộn trôi.!



252/ Dễ thay thy li người,

Lỗi mình thy mới khó,

Lỗi người ta phănh tìm,

Như sàng tru trong gạo;

Còn lỗi mình, che đậy,

Như kẻ gian, dấu bài.



252/ Dễ thay, tìm thy li người

Bới lông tìm vết, gạo xôi trấu đầy,

Lỗi mình nhìn thấy, khó thay

Khéo tay che mt dấu bài kẻ gian.

Lỗi người ta đếm trăm ngàn

Còn mình chng tính, một hàng thẳng ngay.



253/Ai thy li của người,

Thường sanh lòng chỉ trích,

Người ấy lu hoặc tăng,

Rất xa lu hoặc diệt.



253/ Lại còn chỉ trích người sai

Như mình vô tội, li dày nghip tăng,

Nẻo về Thánh đạo cách ngăn

Đường theo thế cuc li gần một bên.



254/ Hư không, không du chân,

Ngoài đây, không Sa môn,

Chúng sanh thích hý luận,

Như Lai, hý luận trừ.



254/ Hư không chng du chân chim

Ngoài chánh pháp Phật, đừng tìm Sa môn.

Chúng sanh ưa thích đa ngôn

Như lai cnh giới không còn thphi.



255/ Hư không, không du chân,

Ngoài đây, không Sa môn,

c hành không thường trú,

Chư Phật không dao động.



255/ Trời xanh du có đến đi

Không có dấu vết, hữu vi đâu còn,

Chánh pháp mới sanh Sa môn

Chơn lý chư Phật trường tn thế gian.

 



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/07/2015(Xem: 23911)
Hề chi một phận đời riêng Buông hơi nằm xuống mà nghiêng đất trời Thiếu ta, đời cũng vậy thôi! Ta là hạt bụi giữa đời bao la..
01/07/2015(Xem: 32653)
Chủ đề Một Cõi Đi Về, Thơ và Tạp Bút tập hai, một lần nữa, được cái cơ duyên thuận lợi hân hạnh ra mắt quý độc giả. Cách đây ba năm tập một đã được xuất bản vào năm 2011. Hình thức và nội dung của tập hai nầy, cũng không khác tập một. Nghĩa là chúng tôi cũng chia ra làm hai phần: Phần đầu là thơ và phần sau là những bài viết rải rác đã được đăng tải trên các tờ Đặc san Phước Huệ. Tờ báo mỗi năm phát hành ba kỳ vào những dịp đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Do đó nên những bài viết có những tiêu đề trùng hợp và nội dung có chút ít giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bài đều có những sắc thái hương vị riêng của nó. Ngoài ra, có những bài viết với những tiêu đề khác không nằm trong phạm vi của những ngày đại lễ đặc biệt đó. Nay chúng tôi gom góp tất cả những bài viết đó lại để in chung thành một quyển sách tập hai nầy. Về ý nghĩa của chủ đề nói trên, chúng tôi cũng đã có trình bày rõ trong tập một. Ở đây, chúng tôi không muốn lặp lại. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là
01/07/2015(Xem: 13662)
Trôi Theo Dòng Hư Thực
25/06/2015(Xem: 11980)
Narada, Narada ! Nghìn năm tình du ca Nghìn năm bờ sinh diệt Đất trời mộng thực kiêu sa. Hồn du tử khúc hòa ca linh cầu.
23/06/2015(Xem: 13624)
Tay nâng bát ngọc của trời Mồ hôi, huyết lệ của người quanh ta Hạt cơm đổi biển châu sa Ngọt thơm tình nghĩa, mặn mà nhân duyên Nguyện tu tinh tấn đáp đền Nguyện độ đại chúng, cửa thiền mở toang
21/06/2015(Xem: 20475)
Nước mắt của Quán Thế Âm làm sao đong đếm? làm sao lau khô những giọt nước trong veo chảy xuyên các kiếp?
21/06/2015(Xem: 12541)
Trên đồi máu lõa lồ trăng úa chết Bóng hồn tôi xiêu đổ giữa trời mây Sương khói vỡ uông uông chuông tử biệt Biển thiên thu lảo đảo con táu say!
20/06/2015(Xem: 17086)
Hình Đồng nhập Phật đạo Nối gót chư Tổ Sư Đại thừa kinh tham cứu Nhập thất ngộ Chân Như.
18/06/2015(Xem: 12176)
Lang thang mây ghé đỉnh non Hỏi thăm Đá cỗi đã mòn bao nhiêu Cô đơn mưa nắng sớm chiều Khi nào chán ngán thì theo Mây cùng. Đá cười cây cỏ nghiêng rung Trôi lăn vô định thì đừng lang thang Mưa thơm, gió mát, nắng vàng An nhiên chóp núi, hiên ngang lưng trời Không mỏi mệt, khỏi nghỉ ngơi Hằng ngày vẫn vậy không dời không nghiêng Đi chi cho rước khổ phiền Ngàn năm một cõi thiên nhiên an lành.
18/06/2015(Xem: 13049)
A Nan Đà, ta biết, Là một trong mười người Được gọi đại đệ tử Khi Đức Phật sinh thời. Ông xuất thân quí tộc Con vua A Mi Đà, Tức ông là cháu ruột Của Đức Phật Thích Ca. Khi Ngài về La Vệ, Ông vừa tròn hai mươi