Phẩm 10: Hình Phạt

14/08/202017:49(Xem: 14237)
Phẩm 10: Hình Phạt
buddha-508 


KINH PH
ÁP CÚ 

Việt dịch: HT Thích Minh Châu
Thi Hóa: HT Thích Minh Hiếu

 

Lưu ý:

Kinh bên dưới bản gốc Việt dịch: HT Thích Minh Châu (câu đầu),

Câu theo sau là phần Thi Hóa của HT Thích Minh Hiếu (chữ nghiêng)

 

Phm HÌNH PHẠT 10




129/ Mi người shình phạt,

Mi người stvong.

Lấy mình làm ví dụ,

Không giết, không bảo giết.



129/ Ở đời ai cũng sợ đau

Sbgiết hi van cầu xin tha,

Xét mình nghĩ đến người ta

Chớ đánh chớ giết, hay hoà vui theo.



130/ Mi người shình phạt,

Mi người ưa sống còn.

Lấy mình làm ví dụ,

Không giết, không bảo giết.



130/ Ai ai cũng muốn thương yêu

Sao nhành phạt làm điu bt nhân.

Thương người như thể thương thân

Mình mong tồn ti, người cn sống lâu.



131/ Chúng sanh cu an lc,

Ai dùng trượng hại người,

Để tìm lc cho mình,

Đời sau không được lạc.



131/ Tạo phước xây lộ,đắp cầu

Nếu dùng đao trượng làm đau khngui.

Đời này lấy đó làm vui

Tái sanh đâu dễ thắm tươi cuc trn.



132/Chúng sanh cu an lc,

Không dùng trượng hại người,

Để tìm lc cho mình,

Đời sau được hưởng lạc.



132/ Nếu người thấu đạt lý chân

Chúng sanh ai cũng rất cn bình an.

Ta không kết ni dây oan

Đời sau thhưởng muôn ngàn nim vui.



133/ Chnói li ác độc,

Nói ác, bnói li,

Khthay li phn nộ,

Đao trượng phản chm người.



133/ Li nói chẳng mất tin mua

Nói li ác độc khổ ùa theo sau,

Không gậy đánh mà vn đau

Nhói tim nóng mặt, gây bao stình.



134/ Nếu tmình yên lặng,

Như chiếc chuông bị bể,

Ngươi đã chng Niết bàn,

Người không còn phẩn n.



134/ Người hin không nói lặng thinh

Như chuông bể ming, như bình kín hơi.

Không phẫn nộ, chẳng phí li

Niết bàn tịch tịnh mt ngôi sn dành.



135/ Vi gy người chăn bò,

Lùa bò ra bãi cỏ;

Cũng vậy, già và chết,

Lùa người đến mng chung.



135/ Đàn bò ăn ccnh tranh

Người chăn gậy trượng sẳn dành lùa đi

Đời người sanh lão, ưu bi

Lùa vào cõi chết còn chi tranh giành.



136/ Người ngu làm điu ác,

Không ý thức vic làm.

Do tnghip, người ngu,

Bnung nu, như la.



136/ Sng không học pháp cao thanh

Thiếu trí phán đoán phải đành phận ngu.

Đoạ trong cõi gii mt mù,

La kia nung nu chẳng chừa mt ai.



137/ Dùng trượng phạt không trượng,

Làm ác người không ác;

Trong mười loi khổ đau,

Chu gp một loại kh.



137/ Khmt ri lên gấp hai,

Cmười thứ khngày ngày thọ thân.

Dùng trượng hành phạt bao ln

Chu khkhc lit muôn phần đớn đau.



138/ Hoc khổ thọ khc lit,

Thân thể bị thương vong,

Hoặc thọ bnh kch lit,

Hay lon ý tán tâm.



138/ Hoc là thọ bnh xanh xao

Hoc bị thương tích, hn trao non ngàn.

Hay btâm ý bất an

Lon trí vọng tưởng, sống tàn kiếp thôi.



139/ Hoc tai hotvua,

Hay bvu trọng tội,

Bà con phải ly tán,

Tài sn btan nát.



139/ Bvu oan ti tày trời

Hoc bvua chúa xuống lời trảm thân.

Bà con không dám đến gn,

Tài sản thiêu huỷ, sung công trọng hình.



140/ Hoặc phòng ốc nhà ca,

Bhoả tai thiêu đốt;

Khi thân hoi mng chung,

Ác tuệ sanh địa ngc.



140/ Ca nhà vườn ruộng đẹp xinh,

Hotai một trận bóng hình tan hoang.

Lúc sng nghip ác đeo mang

Mnh chung đoxmuôn vàn đau thương.



141/ Không phải sống loã thể,

Bn tóc, tro trét mình,

Tuyệt thực, lăn trên đất,

Sng nhp, siêng ngồi xm,

Mà con người được sch,

Nếu không trừ nghi hoc.




141/ Pháp tu mê mui chẳng tường

Khhnh ép xác tìm phương thoát trần.

Không tắm ra, chẳng uống ăn

Ngi xm, nm đất lc căn chẳng màng.

Không trừ nghi hoặc, ly tham

Mun tâm được sch, vic làm uổng công.



142/ Ai sống tự trang sức,

Nhưng an tịnh, nhiếp phục,

Sng kiên trì phm hnh,

Không hại mi sanh linh,

Vị ấy là Phm chí,

Hay Sa môn, Kht sĩ.



142/ Tbỏ tham vọng ước mong

Giữ thân, khu, ý trong vòng giới răn.

Trang sc nhn nhc, nói năng

Nhu hoà thương xót muôn ngàn sanh linh.

Xng danh Kht sĩ hu tình

Sa môn, Phm chí, đức kinh quỷ thần.



143/ Tht khó tìm ở đời,

Người biết thẹn, tchế,

Biết né tránh, chtrích,

Như nga hin tránh roi.



143/ Khó tìm chốn thế gian

Người biết tự chế dục tham não phin

Xa ri chtrích ác duyên

Như tránh roi vọt, nga hin chy xa.



144/ Như nga hin chm roi,

Hãy nhiệt tâm, hăng hái,

Vi tín, gii, tinh tn

Thiền định, cùng trạch pháp,

Minh hnh đủ, chánh nim,

Đon khổ này vô lượng.



144/ Thiền định, tinh tn vượt qua

Trạch pháp, tín, gii xông pha tháng ngày

Người trí như con nga hay

Thẳng đường chơn chánh,đủ đầy hạnh môn.

Nim, tumt dsc son

Vô lượng khhi tiêu mòn sch không.



145/ Người trị thuỷ dn nước,

Klàm tên un tên,

Người thợ mc un ván

Bc tự điều, điều thân.



145/ Như người dẫn thuỷ ngp đồng,

Thợ mc bào ván, lp khung dng nhà.

Thợ tên vuốt thẳng bắn xa,

Tự điu, người trí thoát ra luân hi.

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/09/2010(Xem: 14854)
Mười con nhạn trắng về tha Như Lai thường trụ trên tà áo xuân Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm
08/09/2010(Xem: 14716)
Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng
06/09/2010(Xem: 24022)
Văn Tế Thiên Thái Trí Giả Tác giả Đại Sư Tuân Thức Việt dịch: Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm *** 1. Nhất tâm đảnh lễ Thiên Thai Trí Giả trong núi Đại Tô tu Tam Muội Pháp Hoa Tâm tâm tịnh thường lại qua pháp giới Như mặt nhật trên không chẳng trụ không Ba ngàn thật tướng tức khắc viên thông Tám vạn trần lao đều đồng chân tịnh. Xưa hội kiến Linh Sơn còn hoài niệm Nay toàn thân bảo tháp thấy rõ ràng Nếu chẳng cùng sư Nam Nhạc tương phùng Ai biết được tướng thâm sâu thiền định?
06/09/2010(Xem: 18495)
Trước khi viết loạt bài thơ trong phần 1 (Hương Đạo Pháp) của thi tập này, tôi đã có gần 900 bài thơ, xoay quanh các đề tài như quê hương đất nước, lịch sử, địa lý, giáo dục, cuộc sống hiện thực, triết lý sắc không, nhân sinh quan - vũ trụ quan Phật giáo, xưng tán Phật và Bồ-tát….. Tôi đang tạm thời dừng lại công việc sáng tác và chuẩn bị làm một số công việc chuyên và không chuyên khác. Nhưng chợt nhớ lại nhiều năm trước đây, thỉnh thoảng có trao đổi với vài vị thân, quen, những người đã đọc gần hết thơ tôi. Họ nói, trong số gần 900 bài thơ đã đọc qua, tuy cũng có nhiều bài khuyến tu, nhiều bài mang tính giáo lý sâu sắc, có khả năng tịnh hóa lòng người, tuy nhiên những bài đó nằm tản mạn chưa tập trung. Hơn nữa cũng cần một loạt bài có nội dung giáo lý căn bản với thuật ngữ, danh từ, pháp số thông dụng, nếu có thể cho thành một tập riêng biệt thì càng tốt.
06/09/2010(Xem: 15026)
Phù Sinh Nhiễm Thể Ca, TNT Mặc Giang
06/09/2010(Xem: 19493)
Mùa hạ mà hơi lạnh xông ướp cả gian phòng. Tắt điện, thắp lên ngọn bạch lạp cắm vào một quả thông, nhựa sống vẫn còn mơn man đâu đây, nồng nàn. Mấy mươi năm hiên ngang sừng sững, một cơn bão thổi qua, thông bật gốc ngã quỵ, vương vãi xác xơ. Có gì tồn tại mãi đâu! Rồi tất cả, cũng bị thiêu rụi như ngọn bạch lạp đang cháy dỡ…
06/09/2010(Xem: 21828)
Được sinh ra, lớn lên, đi vào trường học, đi vào trường đời, rồi dong ruổi muôn phương, và dù có ra sao, Quê Hương vẫn Còn Đó ! Từ thuở phôi sinh xuất hiện Lạc Hồng, Hùng Vương - Văn Lang, xuyên qua chiều dài lịch sử, cấu thành mảnh dư đồ Chữ S, với Bắc Nam Trung gấm vóc, với núi non hùng vĩ, biển rộng sông dài, với những tên gọi thân yêu Huế - Sài Gòn - Hà Nội, với từng thời kỳ dù có qua đi, không gian dù có biến đổi, và dù cho vật đổi sao dời, Quê Hương vẫn Còn Đó !
06/09/2010(Xem: 20806)
Người phương tây thường nói “trẻ ước mơ, già hoài niệm”, nhưng sau khi đọc xong tập thơ Hành Trình Quê Mẹ, tôi thấy tác giả, một nhà thơ ở tuổi tri thiên mạng, nhưng lại luôn ghi lòng tạc dạ, nâng niu trân trọng các giá trị được tài bồi bởi tiền nhân; tác giả còn hoài bảo, mơ vọng một hướng sống thiết thực cho người Việt Nam nói chung. Với Mặc Giang, hoài niệm và ước mơ nào có hạn cuộc bởi tuổi tác. Hoài niệm và ước mơ ấy đã trở thành chất liệu tài bồi cho dòng thơ với chủ đề Hành Trình Quê Mẹ tuôn chảy không mỏi mệt, để nguồn thơ của thi nhân vốn nhào nặn từ cuộc sống, trở lại phụng sự cuộc sống ấy, trở thành niềm tự hào kiêu hãnh của trào lưu thi ca hiện đại.
06/09/2010(Xem: 24611)
Qua năm mươi năm, tiếp bước tiền nhân tôi trót vào con đường khảo cứu lịch sử văn học dân tộc. Tôi đã đọc rất nhiều thơ và cũng làm được một số việc cho các thế hệ thơ ca. Nhưng khi may mắn được đọc tập thơ Quê Hương Nguồn Cội (và khoảng 650 bài khác nữa) của nhà thơ Mặc Giang, một tập thơ chan chứa tình quê hương dân tộc, với tâm hồn bao la, sâu rộng bằng trái tim và dòng máu của người Việt Nam, tập thơ đã làm cho tôi hòa đồng trong tác phẩm không còn phân biệt được tâm tư và cảm giác của mình và chỉ còn là một con tim, một dòng máu chung của dân tộc trộn lẫn vào sự cấu tạo chung trải qua mấy ngàn năm lịch sử của núi sông.
06/09/2010(Xem: 19500)
Nhịp Bước Đăng Trình, TNT Mặc Giang