Phẩm 06: Hiền Trí

14/08/202017:21(Xem: 10070)
Phẩm 06: Hiền Trí
buddha-504 


KINH PH
ÁP CÚ 

Việt dịch: HT Thích Minh Châu
Thi Hóa: HT Thích Minh Hiếu

 

Lưu ý:

Kinh bên dưới bản gốc Việt dịch: HT Thích Minh Châu (câu đầu),

Câu theo sau là phần Thi Hóa của HT Thích Minh Hiếu (chữ nghiêng)



PHẨM HIỀN TRÍ 



76/ Nếu thy bc hiền trí,

Chỉ lỗi và khiển trách,

Như chỉ chỗ chôn vàng.

Hãy thân cận người trí.!

Thân cận người như vây

Chỉ tốt hơn không xấu.



76/ Gần đèn thì ng xưa nay

Thuốc đắng đã tật , dứt ngay bịnh tà,

Bạn ác nên nhớ tránh xa

Gần gũi tri thức, ngọc ngà đầy sân.

Được chỉ lỗi như chỉ vàng

Chôn sâu khó thy muôn ngàn biết ân.



77/ Những người hay khuyên dạy,

Ngăn người khác làm ác,

Được người trí kính thương,

Bị người ác không thích.



77 Dù được người trí ân cần

Hay kẻ bất thiện ác tâm khích hiềm,

Quyết đem đạo lý giáo khuyên

Thế gian tán thán không phiền luỵ ai.



78/ Chớ thân với bạn ác,

Chớ thân kẻ tiểu nhân.

Hãy thân người bạn lành,

Hãy thân bậc thượng nhân.



78/ Thức đêm mới biết đêm dài

Kết thân người xấu một mai tiêu đời,

Nguyn cùng thiện hữu dong khơi

Gặp bc thượng trí học li Thánh nhân.



79/ Pháp hỷ đem an lạc,

Với tâm tư thuần tịnh;

Người trí thường hoan hỷ,

Với pháp bc Thánh thuyết



79/ Ngày đêm tu tập chuyên cần

Thân tâm hỷ lạc pháp phần mở khai,

Uống ngun sui pháp no say

Người trí hạnh phúc nào ai sánh bằng.



80/ Người trthuỷ dẫn nước,

Kẻ làm tên nắn tên,

Người thợ mộc uốn gỗ,

Bậc trí nhiếp tthân.



80/ Đắp đập dẫn nước nông dân

Thợ săn trau chuốc cung tên sẵn sàng,

Làm nhà thợ mộc đảm đang,

Người trí thu nhiếp dc tham tâm mình.



81/Như tảng đá kiên cố,

Không gió nào lay động;

ng vậy, gia khen chê,

Người trí không giao động.



81/ Được tán thán, hay chê khinh,

Núi đá kiên cố mặc tình gió mưa.

Gia dòng danh lợi hơn thua,

Thiền sư tự tại gió lùa qua song.



82/Như hồ nước sâu thẳm,

Trong sáng không khuấy đục;

ng vậy, nghe chánh pháp,

Người trí hưởng tnh lạc.



82/ Tâm tỉnh lng như hồ trong

Chiếu soi vn pháp thy lòng như như,

Có gì vẫn đục tâm tư

Suối pháp rửa sạch thái hư tâm thiền.



83/ Người hiền bỏ tất cả,

Người lành không bàn dục,

Dầu cm thọ lạc, khổ,

Bậc trí không vui buồn.



83/ Chẳng còn ct giữ của riêng

Chẳng ham hý luận luỵ phin tha nhân.

Cho dù sống giữa hồng trần

Buồn vui như áng phù n giữa trời.



84/ Không vì mình, vì người,

Không cầu được con cái

Không tài sản quốc độ,

Không cầu mình thành tựu.

Với việc làm phi pháp,

Vị ấy tht trì giới,

Có trí tuệ đúng pháp.



84/ Muốn cho mình được thnh thơi

Duyên đời chớ buộc rong chơi một mình,

Gii lut quyết ginghiêm minh

m thanh tuệ sáng pháp kinh vng vàng.

Việc đời,việc nước đa mang

Buông tay cắt đứt chng màng li danh,

Mặc ai cao thp phân tranh

Không cầu, không muốn tịnh thanh cõi lòng.



85/ Ít người gia nhân loại,

Đến được bờ bên kia.

Còn số người ở lại

Xuôi ngược chy bờ này.



85/ Khát dùng nước suối sạch trong

Đèn trăng, qut gió vượt dòng tsinh,

Những ai say đắm dục tình

Ngược xuôi sáu nẻo bóng hình chng xa.



86/ Những ai hành trì pháp,

Theo chánh pháp khéo dạy,

Sẽ đến bờ bên kia,

Vượt ma lực khó thoát.



86/ Nhanh chân vượt thoát lưới tà

Thc hành chánh pháp phong ba đâu còn.

Khéo dạy Bát chánh diệu môn

Con dường duy nhất càn khôn mở bày.



87/Kẻ trí bỏ pháp đen,

Tu tập theo pháp trắng,

Bỏ nhà, sống không nhà,

Sống viễn ly khó lạc.



87/ Thin pháp con đường thng ngay

Tránh xa ác đạo đoạ đày thế nhân.

Nhà cửa ,con cháu buộc ràng

Phủi tay vào chn non ngàn viễn ly.



88/ Hãy cầu vui Niết bàn,

Bỏ dục không sỡ hữu,

Kẻ trí tự rửa sạch,

Cấu uế từ nội tâm.



88/ Lìa dc tham, đạt vô vi

Đời sống hỷ lạc không chi của mình,

Lục thông rồi đến tam minh

Rời xa trn cấu vô sinh Niết bàn.



89/ Những ai vi chánh tâm,

Khéo tu tập giác chi,

Từ bỏ mọi ái nhiễm,

Hoan hỷ không chp th

Không lu hoặc, sáng chói,

Sống tch tnh ở đời.



89/ Bồ đề bảy pháp tinh cần

Thường hành bi trí bỏ dần nhim tham,

Không chp th, chng mun ham,

Lậu hoc dứt sạch nói làm thanh cao.

Vườn tâm hoa tuệ ngạt ngào

Từ dung sáng chói, trăng sao cúi đầu.




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/08/2010(Xem: 14408)
Em có về cồn phượng là tuyển tập truyện ngắn của nhà văn Hoàng Ngọc Hiển.(Tên thật Trần Ngọc Hiển) Sinh năm 1942 tại Phú Lý, Hà Nam. Di cư vào Sài Gòn năm 1954. Cựu học sinh Chu Văn An. Sinh viên Luật khoa (dở dang). Sinh viên ban Triết Tây, Đại học Văn Khoa (cũng dở dang). Tốt nghiệp khả năng Sư Phạm Trung Cấp, ban Văn Chương. Giáo sư văn chương các trường trung học Côn Sơn, Ngô Quyền, Minh Đức, Trí Đức Sài Gòn và Kỷ Thuật Biên Hòa.
30/08/2010(Xem: 14693)
Nửa đời người tôi hiểu được Vô thường - ấy lẽ thường nhiên Và ta chỉ là chiếc lá Trong rừng nhân loại vô biên..
28/08/2010(Xem: 13326)
Chén cơm trong chốn lao tù, Con xin cúng Phật con tu quá đường ! Thế gian huyết hận đau thương ! Nghẹn nào lệ nhỏ vô phương kêu gào !.
12/08/2010(Xem: 12360)
Nằm ngủ ôm vầng trăng Đồi Cù nghiêng nghiêng mộng Đà Lạt chảy trong thân Tôi như rừng thông im bóng. Em như sương trăng áo mộng Đêm thu xưa quyến hớp hồn tôi.
04/08/2010(Xem: 13838)
Để hướng về Mùa Hiếu Hạnh Thiêng Liêng Để tưởng nhớ công ơn Công Đức Sinh Thành Để cùng nhau nhắc nhở Con Hiền Cháu Thảo Để đền đáp trong muôn một công đức Cha Mẹ Và lễ tạ Thù Ân Bốn Ơn Trọng cưu mang. Chúng tôi xin viết, cảm ơn quý vị đón nhận và phổ biến. Trân trọng, TNT Mặc Giang macgiang@y7mail.com
04/08/2010(Xem: 12666)
Quê tôi còn đó dòng sông Nước đi nước đến chờ con nước về Quê tôi còn đó sơn khê Sắt son tô thắm ước thề không phai Ơn sâu nghĩa nặng tình dài Đường quê lối nhỏ hoa cài thơm hương Tin yêu hòa ái mến thương Chia mưa sẻ nắng gió sương không màng Quê tôi còn đó đò ngang Chờ người lữ thứ miên man chưa về
04/08/2010(Xem: 14308)
Quê Cha ngàn dặm mù khơi Đất Mẹ vạn lý một đời chia xa Thương non, ôm ấp mái nhà Nhớ núi, sầu mộng sơn hà chờ ai Thương sông, con nước chảy dài Nhớ biển, sóng vỗ miệt mài trùng dương Ra đi, vạn lý mù sương Rong rêu in bóng dặm đường phân ly Nhớ xưa, mấy thuở kinh kỳ Mà nay cũng lắm tư nghì hồn đau “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều”
04/08/2010(Xem: 12954)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 12735)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 23906)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.