39. Trao Gia Tài

15/03/201408:34(Xem: 43463)
39. Trao Gia Tài
blank

Trao Gia Tài


Ngày đi, đêm nghỉ, lần hồi đức Phật và đại chúng đã về đến Sāvatthi, tịnh xá Kỳ Viên. Vậy là mùa an cư thứ mười bốn, đức Phật nhập hạ ở đây.

Hôm nọ, tôn giả Sāriputta đến gặp Phật, trình bày là sa-di Rāhula nếu tính từ trong bụng mẹ thì năm nay đã hai mươi tuổi rồi.

- Vậy ông thấy trình độ tâm của Rāhula đã thật sự vững chãi chưa?

- Giới hạnh rất tốt, lại khiêm cung và lễ độ nữa, bạch đức Tôn Sư.

- Thế trình độ trí đã sẵn sàng để tiếp nhận những pháp cao hơn không?

- Cũng đã rất sẵn sàng, bạch đức Tôn Sư.

- Vậy thì ông hãy làm những gì mà ông thấy là hợp thời và đúng lúc.

Thế rồi, sau đó, tôn giả Sāriputta làm thầy tế độ (upajjhāya), tôn giả Mahā-Moggallāna làm thầy đọc tuyên ngôn (ācariya) cùng một số vị trưởng lão cho sa-di Rāhula thọ đại giới, dẫn đến đảnh lễ đức Phật rồi ngồi một nơi phải lẽ.

- Đây là tân tỳ-khưu Rāhula - Tôn giả Sāriputta nói - bạch đức Thế Tôn!

Đức Phật nhìn ngắm tăng tướng, phẩm mạo sáng đẹp, uy nghi của Rāhula, ngài hỏi:

- Mấy ngày hôm nay, tại giảng đường chùa Kỳ Viên, nhị vị đại đệ tử đã thay nhau thuyết những bài pháp về “Mười loại cỏ”, về “Mười một pháp của người chăn bò khéo giỏi” và “Khúc gỗ trôi sông”, con có chăm chú lắng nghe và có khéo tư duy về những ngữ nghĩa, ẩn dụ trong mấy thời pháp ấy không, Rāhula?

- Đệ tử nắm bắt khá tốt, bạch đức Thế Tôn.

- Thế con tâm đắc nhất trong ba thời pháp ấy là gì? Cái cô đọng, cái tinh tủy, cái còn lại trong con là cái gì, nói thử xem nào, Rāhula?

- Đệ tử tâm đắc nhất câu nói dõng mãnh, đầy tự tin của chú chăn bò Nanda là: “Con sẽ không bị tấp vào bờ này, sẽ không bị tấp vào bờ kia, sẽ không bị chìm giữa dòng, sẽ không bị mắc cạn trên cồn đất nổi, sẽ không bị người đời nhặt lấy, sẽ không bị phi nhân nhặt lấy, sẽ không bị lọt vào vùng nước xoáy, sẽ không bị mục nát bên trong” bạch đức Thế Tôn!

- Và khúc gỗ ấy, chắc chắn sẽ thuận dòng trôi về biển lớn chứ, Rāhula?

- Chắc chắn như vậy, bạch đức Thế Tôn.

- Vậy thì con có thể giải thích toàn bộ một cách ngắn gọn được không, này Rāhula?

Rồi sau khi tân tỳ-khưu Rāhula tóm tắt rất rõ ràng, mạch lạc bài kinh được hỏi, đức Phật gật đầu:

- Tốt, được rồi! Vậy thì ngày mai, con hãy cùng đi trì bình khất thực với Như Lai.

Cuối nửa canh ba hôm sau, đức Thế Tôn khởi lên tư niệm: “Tâm và trí của Rāhula đã thuần thục, đã sẵn sàng, vậy ta hãy trao cho nó cái gia tài mà thuở xưa nó đã xin ở nơi ta!”

Và rồi, sau khi đức Phật và vị tân tỳ-khưu thong dong đi trì bình vừa đủ dùng, ngài dẫn Rāhula đi thẳng vào rừng Andhavana.

Trong lúc đó, chư thiên tại tịnh xá Kỳ Viên và khắp vùng, xôn xao bàn tán: “Hôm nay, tại khu rừng Andhavana, đức Chánh Đẳng Giác sẽ trao cho con trai của mình kho tàng vô giá. Hãy cùng nhau đến nghe xem để cùng hoan hỷ và cùng lợi lạc”.

Tại một cội cây mát mẻ, sau khi độ thực, uống nước, rửa tay xong, đức Phật chợt hỏi Rāhula:

- Sáu căn dính mắc là tấp vào bờ này, sáu trần dính mắc là tấp vào bờ kia; hôm qua con đã tóm tắt như vậy là tạm đủ. Tuy nhiên, có thể tóm tắt gọn hơn thế nữa, được không, Rāhula?

- Có thể được, bạch đức Thế Tôn!

- Thế nào?

- Sáu giác quan mắt tai mũi lưỡi thân và ý, sáu đối tượng của sáu giác quan ấy là hình sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm và ý niệm; theo đó, chúng sẽ phát sanh sáu cái biết là thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ chạm và tâm thức; vậy là chúng luôn luôn duyên sanh, luôn luôn thay đổi, rỗng không, không có tự tính, không có cái gì ở đó là tôi, là của tôi cả, bạch đức Thế Tôn!

- Ừ, đúng vậy! Đức Phật gật đầu - tức là mười tám giới căn trần thức ấy luôn luôn vô thường, vô ngã có phải con muốn nói như vậy không?

- Vâng, bạch đức Thế Tôn!

- Một hạt cát cũng vô thường, vô ngã, một cọng cỏ cũng vô thường vô ngã, một hạt sương cũng vô thường vô ngã. Cho chí mặt trời, mặt trăng, biển cả, núi Tu Di cũng vô thường, vô ngã. Vậy vô thường, vô ngã ấy là định luật tự nhiên của trời đất! Nếu nó mà không vô thường, không vô ngã thì thiên hà vạn tượng không tồn tại, này Rāhula! Con có thấy như thế không?

- Đệ tử có thấy, nhưng vô thường, vô ngã của ngoại giới, của vạn hữu như đức Thế Tôn vừa nói, chúng không đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não (dukkha), bạch đức Tôn Sư!

- Thế vô thường, vô ngã nào mới đưa đến toàn bộ dukkha ấy, này Rāhula?

- Chính chấp thủ mắt tai mũi lưỡi thân ý ấy là ta (ngã) và của ta (ngã sở); chính chấp thủ sắc thanh hương vị xúc ấy là ta và của ta; chính chấp thủ cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái sờ, cái suy nghĩ ấy là ta và của ta mới đưa đến các trạng thái tâm lý, đổi thay liên tục các trạng thái tâm lý, kết dệt nên một cái ngã không thực có: Là tôi thích, tôi không thích, tôi thương, tôi yêu, tôi buồn, tôi oán, tôi giận, tôi nóng nảy, tôi khoái, tôi đam mê, tôi chán chường mới chính thực sự là dukkha, là núi lớn dukkha, là biển cả dukkha trên trần gian này, bạch đức Thế Tôn!

- Đúng vậy! Hãy tóm tắt điều con vừa nói thử nào, Rāhula?

- Là thân thể, là các cảm thọ, là những tưởng tri, là các trạng thái tâm lý, kể cả tâm ý thức; cái ngũ uẩn ấy là vô thường, vô ngã, là không phải ta, không phải của ta! Ai thấy rõ như vậy, minh tri như vậy, liễu tri như vậy, thấy như thực thấy như vậy thì kẻ ấy thoát ly tất thảy mọi dukkha, bạch đức Thế Tôn!

- Có thể nói cách khác không, này Rāhula?

- Có thể được! Ai chấp thường, chấp ngã là bị dukkha chi phối; ai thấy rõ vô thường, vô ngã thì có trong tay chìa khóa mở được cánh cửa giải thoát, Niết-bàn, bạch đức Thế Tôn!

Thấy Rāhula nắm chắc giáo pháp, biết rõ, thấy rõ giáo pháp một cách quán triệt, thông tuệ. Nó đã đi từ da, qua thịt, đến xương, gặp tủy rồi - nên đức Phật thử đặt một câu khó:

- Vậy thì ý niệm cuối cùng mà con vừa diễn đạt, cái chìa khóa mở cửa Niết-bàn ấy, nó nằm ở đâu, này Rāhula?

- Nói là chìa khóa cho có hình tượng, chứ thật ra không có chìa khóa ấy. Nó chính là “lưỡi kiếm của tuệ hành xả”, nó chặt đứt luôn ý niệm giải thoát cuối cùng, vì nó không phải là ta, không phải là của ta, chẳng phải tự ngã của ta, bạch đức Thế Tôn!

Đức Phật biết rõ đóa hoa giác ngộ trong lòng của Rāhula, trải qua thời gian, nắng mưa sẽ sắp sửa mãn khai nên ngài tiếp thêm một chút duyên, một tia nắng ấm của giáo pháp nữa:

“- Do biết vậy, thấy vậy nên các vị đa văn Thánh đệ tử của Như Lai đã yểm ly tất thảy, xả ly tất thảy, không còn chấp thủ, dính mắc bên trong, không còn chấp thủ dính mắc bên ngoài. Nhờ xả ly, nhờ ly tham, vị ấy lìa tất thảy mọi nội ngoại triền, hữu kiết sử nên được giải thoát. Khi giải thoát vị ấy biết mình đã giải thoát: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, mọi việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui các trạng thái tâm trầm luân, hệ lụy, hệ phược đời này nữa.

Này Rāhula! Đấy là gia tài trân bảo mà Như Lai không chỉ trao cho con, mà còn trao cho tất thảy những ai cần cầu tu tập trên cuộc đời này, là rốt ráo phạm hạnh, là viên mãn sang bờ kia vậy!”

Đức Thế Tôn kết luận tối hậu như thế, tân tỳ-khưu Rāhula, ngay sát-na ấy, giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ. Quả vị A-la-hán tối thượng tôn đã đến với con trai đức Phật. Toàn bích và viên dung.

Và đối với hàng ngàn chư thiên hôm ấy, có nhiều vị được sáng mắt, có nhiều vị pháp lạc phát sanh, có nhiều vị khởi lên pháp nhãn ly trần, vô cấu để bước vào dòng thánh, thọ hưởng an vui nhiều đời, không còn rớt xuống những cảnh giới đau khổ nữa.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/12/2025(Xem: 2190)
Cách đây đã lâu Hơn nửa thế kỷ Tại làng Vĩnh Thái, Thành phố Nha Trang Có một cậu bé Cất tiếng chào đời Cha Mẹ mừng vui Anh em thương mến Nét mặt tinh khôi Nhoẻn miệng cười tươi Cậu là con út Trong một gia đình
19/12/2025(Xem: 3485)
Nhận được Ý NGHĨA ĐẠI HỘI trong bản thông tin gửi đi cũng như lời kêu gọi tham gia trực tuyến qua hệ thống Zoom, để tạo cơ hội cho chư Tôn Đức Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử, học giả và thiện hữu tri thức khắp năm châu cùng tham dự, chia sẻ và đóng góp ý kiến xây dựng trong tinh thần hòa hợp và phụng sự. Với những lời thâm tình tha thiết “Đại Hội Hoằng Pháp lần thứ III không chỉ là dịp tổng kết và định hướng Phật sự, mà còn là cơ hội kết nối Tăng Ni – Cư sĩ – học giả trong tinh thần “Hoằng Pháp vi gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp.”và để cùng nhau tiếp nối ngọn đuốc trí tuệ và từ bi mà Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ cùng chư vị Tổ sư đã truyền trao.
19/12/2025(Xem: 2580)
RỒI ta xả chấp giữa dòng TRƯỚC phong ba đón rộp phồng hai vai MẮT nhìn giải thoát không hai NGỤC đen trí trá bi hài nắm cơm TÙ gông không khởi oán hờn THÂN gầy tắm pháp bôi trơn nhạc thiền BÉ lòng chứa cả tam thiên BỎNG da chưa thấm tháp phiền trược đau
19/12/2025(Xem: 2297)
Trong ngọn nến lung linh Hồn ai theo gió lướt về đây Theo khói nhang, lời kinh nguyện Hệ lụy đã tàn bay Bởi chiến tranh, bạo động Bởi dịch bệnh thiên tai Bởi chết oan tức tưởi không lời
18/12/2025(Xem: 2834)
Đại tường tưởng niệm bậc chân nhân Duy thức thâm uyên chí xuất trần Chẳng ngại gian lao hành nguyện sấm Không màng khổ lụy trải nguyền âm Quê nhà đạo mạch khơi nguồn ấn Đất khách thiền hà mở suối tâm Thạch trụ tòng lâm gương đức sáng Thắng Hoan Hoà Thượng rạng ngời Xuân
18/12/2025(Xem: 2184)
Quặn lòng trở lại đảo quê nhà Cây bàng cổ thụ vẫn chưa già Tuổi đời mình nhìn lên tóc trắng Mẹ theo về thành hũ tro ma. Côn Đảo quê xưa thuở ấu thời Trong ngủ mơ thấy cả cuộc đời Có mẹ có cha cùng em nhỏ Giờ còn ai nữa để cúng mời.
10/12/2025(Xem: 3075)
Hạnh phúc của tuổi trẻ thường nằm ở hy vọng ! Hạnh phúc của tuổi hoàng hôn, lại mang đầy sự tri ân Nếu đời là cánh đồng bạt ngàn mênh mông Thì mỗi cuộc gặp gỡ, giống như mỗi nhánh lúa vàng rộ chín!
04/12/2025(Xem: 3287)
Có những người thầy không đứng trước ta, giảng giải thế nào là rèn luyện ! Mà đi bên cạnh ta như một ngọn đèn trầm, Tỏa hương lặng lẽ, dẫn đường theo cách âm thầm Người thầy ấy biết rằng con đường hạnh phúc không thể trao cho nhau bằng lời dạy, mà bằng sự hiện diện,
04/12/2025(Xem: 3433)
(Qua tác phẩm “The Art of Happiness in a trouble world”– Đức Đạt Lai Lạt Ma & Howard Cutler. Và những tư tưởng của các bậc hiền triết Đông-Tây ) (Trân trọng kính dâng tặng những vị Thầy tâm linh và đặc biệt riêng gửi đến TT. Thích Nguyên Tạng nhân dịp sinh nhật lần thứ 59 vào ngày 5/12/2025 ) Hạnh phúc — trong cái nhìn tâm linh — không phải là một điểm đến để nắm bắt, mà là sự khai mở dần dần của tâm thức. Nó giống một buổi bình minh: ánh sáng không bừng lên ngay tức khắc, mà lan từ từ, dịu dàng, đánh thức từng mảng tối trong lòng người.
02/12/2025(Xem: 3405)
( Cảm tác từ tác phẩm “ The Unbearable Lightness of Being” nổi tiếng nhất của Milan Kundera viết năm 1982 và xuất bản lần đầu tiên năm 1984 tại Pháp. Bản tiếng Việt “ Đời Nhẹ Khôn Kham “do dịch giả Trịnh Y Thư dịch từ bản tiếng Anh (The Unbearable Lightness of Being của Michael Henry Heim) xuất bản năm 2002 tại Hoa Kỳ. “ Đời Nhẹ khôn kham" lấy bối cảnh chủ yếu ở Praha trong những năm 60-70, tiểu thuyết đã mô tả đời sống của tầng lớp nghệ sỹ và trí thức của xã hội Czech đương thời, cùng với đó là gợi ra những vấn đề triết học căn cốt và sâu sắc. Hơn thế nữa tác phẩm này dạy chúng ta về sự nhẹ nhàng và nặng nề trong cuộc đời, về ý nghĩa của tự do cá nhân và trách nhiệm, và cách đối mặt với sự ngẫu nhiên của số phận.