Lâu Đài Sinh Tử (thơ)

28/02/201410:03(Xem: 17768)
Lâu Đài Sinh Tử (thơ)

luan_hoi



LÂU ĐÀI SINH TỬ

Ta nhốt ta trong lâu đài trú ẩn
Bởi ngôn từ và kiến thức đoanh vây
Những kinh nghiệm chập chờn bao phủ
Ánh mặt trời không lọt nổi kẽ tay

Tâm chấp thủ bởi vì tâm thành kiến
Bầu trời xanh ta phủ áng mây đen
Sinh và diệt vốn xưa nay vắng lặng
Xây lâu đài thêm sanh tử triền miên

Buông tất cả để trở về tự tánh
Bám víu chi, ảo mộng có ích gì!?
Vô sở trụ, tâm rỗng không tự tại
Trong vô thường các pháp hiện vô vi

Ngoài kia đó, tiếng suối reo, chim hót
Tiếng hoa cười, tiếng gió thoảng vi vu
Hãy phá vỡ lâu đài sinh tử!
Mở tâm hồn ta đón ánh Chân Như.

Chùa Thiên Trúc, California,
Đầu xuân Giáp Ngọ 2014
Hàn Long Ẩn (thientruc.org)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/07/2011(Xem: 14950)
Đất ơi, ngươi xinh đẹp biết bao, và siêu phàm biết mấy! Hoàn hảo biết bao khi ngươi vâng lời ánh sáng...
03/07/2011(Xem: 18658)
Một ngày rồi ta, trả Hơi về Gió Một ngày rồi ta, trả Thân về Đất Một ngày rồi ta, trả từng hạt Nước Cho những dòng Sông.
03/07/2011(Xem: 17025)
Trăm năm mặc chuyện có, không; trên đầu chữ Phật trong lòng chữ tâm; Gương huyền chiếu giữa tòng lâm...
27/06/2011(Xem: 13227)
Mỗi năm cứ độ thu về, tiếng chuông buồn da diết, trên cành cây khô trụi lá, ve sầu rỉ rả giọng ai oán thê lương như đa mang, như chất chứa nỗi niềm trong cô tịch...
25/06/2011(Xem: 12871)
Ai đem nước đổ ra sông Để cho con nước bềnh bồng trôi đi Nước kia có tội tình gì Đừng buôn đừng bán đừng vì lợi danh
25/06/2011(Xem: 13050)
Xin ngắt một cành hoa Dâng lên công đức Mẹ Xin ngắt một cành hoa Dâng lên công đức Cha Nhớ thương cửa cửa nhà nhà
20/06/2011(Xem: 37659)
Tôi sưu tập những vần thơ hiếu hạnh Nguyện mọi người đừng làm Mẹ khổ đau. Minh Chiếu
19/06/2011(Xem: 12520)
Đi ở, hồn nhiên giữa cõi người Mỗi ngày hương sắc mỗi hoa tươi Tỏa – cho ngây ngất trời phương viễn Ủ - để mơn man đất ngạch trường...
10/06/2011(Xem: 26341)
Người đời cũng gọi đại sư là Nam Nhạc Tôn Giả, Tư Đại Hòa Thượng, Tư Đại Thiền Sư. Là một cao tăng Trung quốc, sống vào thời Nam Bắc Triều, người đất Vũ Tân, Hà Nam, họ Lí, Tổ thứ ba Thiên Thai Tông, sau Long Thọ Bồ tát và Tổ Huệ Văn. Đại sư kính mộ kinh Pháp Hoa từ thuở nhỏ, thường ngày đêm tụng đọc, có lúc nhìn kinh mà ứa lệ. Trong mộng, thấy Bồ tát Phổ Hiền lấy tay xoa đầu từ đó trên đảnh đầu nổi lên nhục kế. Năm 15 tuổi xuất gia, tham kiến thiền sư Huệ Văn ở đất Hà Nam, được truyền pháp quán tâm. Có lần đại sư tự than rằng tuổi đạo luống qua, đang khi dựa lưng vào tường, thốt nhiên đại ngộ, chứng được Pháp Hoa tam muội.