Thiền Thi

26/03/201319:04(Xem: 16052)
Thiền Thi

canh dep

Thơ Thiền

Huyền Thanhdịch

HIẾN HƯƠNG KỆ

Trầm Thủy thiền lâm hương phức úc

Chiên Đàn tuệ uyển cựu tài bồi

Giới đao tước tựu tủnh sơn hình

Nhiệt hướng tâm lô trường cung dưỡng

Vua TRẦN THÁI TÔNG

KỆ DÂNG HƯƠNG

Rừng Thiền Trầm Thủy ngát mùi hương

Vườn Tuệ Đàn hương khéo vón trồng

Đao Giới vót hình non cao tít

Luôn hướng lò Tâm mãi cúng dường

HIẾN HOA KỆ

Tâm địa khai thời khoa lạn mạn

Chư Thiên vũ xứ nhượng phân hương

Chi chi đóa đóa hiến Phật tiền

Ức kiếp nghiệp phong xuy bất lạc

Vua TRẦN THÁI TÔNG

KỆ DÂNG HOA

Đất Tâm khai mở sáng muôn nơi

Thơm ngát hoa tuôn ngập khắp trời

Mỗi đó mỗi cành dâng hiến Phật

Muôn đời gió Nghiệp thổi không rơi

CUNG VIÊN XUÂN NHẬT HOÀI CỰU

Môn không trần yểm kính sinh đài

Bạch trú trầm trầm thiểu vãng lai

Vạn tử thiên hồng không lạn mạn

Xuân hoa như hứa vị thùy khai?...

Vua TRẦN THÁNH TÔNG

NGÀY XUÂN Ở VƯỜN TRONG CUNG

NHỚ NGƯỜI XƯA

Cửa ngỏ, bụi rêu phủ lối này

Ngày qua chầm chậm ít người hay

Ngàn hồng vạn tía chen nhau thắm

Xuân nở hoa cười, hứa với ai ?!...

HẠ CẢNH

Yểu điệu hoa đường trú ảnh trường

Hà hoa suy khởi bắc song lương

Viên lâm quá vũ lục thành ác

Tam ngũ thiền thanh náo tịch dương

Vua TRẦN THÁNH TÔNG

CẢNH MÙA HÈ

Nhà hoa thăm thẳm bóng ngày vương

Cửa bắc vời sen tỏa ngát hương

Mưa tạnh vườn rừng xanh thắm mượt

Ve kêu rộn rã nắng chiều buông

KHUÊ OÁN

Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng

Hoàng Ly bất ngữ oán Đông phong

Vô đoan lạc nhật Tây lâu ngoại

Hoa ảnh chi đầu tận hướng Đông

Vua TRẦN NHÂN TÔNG

NỖI OÁN HẬN CỦA NGƯỜI

TRONG PHÒNG KHUÊ

Thức dậy cuốn rèm ngắm lá rơi

Chim Oanh chẳng hót, oán xuân rồi

Mặt trời vô cớ lầu Tây lặn

Đầu bóng về Đông, hoa hướng soi

VŨ LÂM THU VÃN

Họa kiều đảo ảnh trám khê hành

Nhất mạt tà dương thủy ngoại minh

Tịch thịch thiên sơn hồng diệp lạc

Thấp vân hòa lộ tống chung thanh

Vua TRẦN NHÂN TÔNG

CHIỀU THU Ở LÀNG VŨ LÂM

Suối khe vẽ ngược ảnh cầu treo

Che bóng dòng xuôi chút nắng chiều

Lá đỏ rụng rơi ngàn núi vắng

Mây mù sương phủ, tiễn chuông kêu

THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên

Bán vô bán hữu tịch dương biên

Mục đồng địch lý ngưu quy tận

Bạch lộ song song phi hạ điền

Vua TRẦN NHÂN TÔNG

NGẮM CẢNH CHIỀU

Ở THIÊN TRƯỜNG

Thôn trước thôn sau tựa khói nhòa

Nửa không nửa có, ráng chiều qua

Mục đồng thổi sáo, trâu về hết

Cò trắng từng đôi xuống ruộng đùa

ĐỀ PHỔ MINH TỰ THỦY TẠ

Huân tận thiên đầu mãn tọa hương

Thủy lưu sơ khởi bất đa lương

Lão dung ảnh lý tăng quan bế

Đệ nhất thiền thanh thu tứ trường

Vua TRẦN NHÂN TÔNG

ĐỀ NHÀ THỦY TẠ

CỦA CHÙA PHỔ MINH

Ngàn hương xông hết ngát thơm tòa

Nước mới khơi dòng, mát thoáng qua

Trong bóng Đa già, sư đóng cửa

Tiếng ve gợi dẫn ý thu xa

NGUYỆT

Bán song đăng ảnh mãn sàng thư

Lộ trích thu đình dạ khí hư

Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ

Mộc Tê hoa thượng nguyệt lai sơ

Vua TRẦN NHÂN TÔNG

TRĂNG

Đèn soi nửa cửa, sách đầy giường

Đêm vắng sân thu lác đác sương

Thức dậy đâu đây chày đập vải

Trên bông hoa Quế, ánh trăng non

CÚC HOA

Xuân lai hoàng bạch các phương phi

Aùi diễm liên hương diệc tự thời

Biến giới phồn hoa toàn trụy địa

Hậu điêu nhan sắc thuộc đông ly

Thiền Sư HUYỀN QUANG

HOA CÚC

Xuân đến trắng vàng thảy tốt tươi

Thương hương yêu mến cũng như thời

Khắp cõi muôn hoa rơi rụng hết

Rào đông, cúc thắm héo sau thôi

MAI HOA

Dục hướng thương thương vấn sở tùng

Lẫm nhiên cô trĩ tuyết sơn trung

Chiết lai bất vị già Thanh nhãn

Nguyện tá xuân tư ủy bệnh ông

Thiền Sư HUYỀN QUANG

HOA MAI

Muốn hướng cao xanh hỏi tự đâu

Riêng mang tuyết lạnh giữa non sâu

Bẻ về chẳng phải lừa tri kỷ

Nguyện mượn tình xuân giải bệnh sầu

QUÁ VẠN KIẾP

Lạng châu nhân vật thủy lưu đông

Bách tuế quang âm nhiễn chỉ trung

Hồi thủ cố sơn ngưng vọng xứ

Sổ hàng quy nhạn thiếp tình không

Thiền Sư HUYỀN QUANG

QUA VẠN KIẾP

Lạng châu người vật nước về đông

Bóng ảnh trăm năm thoắt chẳng còn

Núi cũ quay đầu chăm chú ngắm

Nhạn về lớp lớp thuận tầng không

TẢO THU

Dạ khí phân lương nhập họa bình

Tiêu tiêu đình thụ báo thu thanh

Trúc đường vọng thích hương sơ tận

Nhất nhất tùng chi võng nguyệt minh

Thiền sư HUYỀN QUANG

THU SỚM

Thơm mát hơi đêm thổi bức màn

Cây sân nghe sáo báo thu sang

Trong căn nhà trúc quên hương tắt

Mỗi mỗi gom cành lưới ánh trăng

THẠCH THẤT

Bán gian thạch thất hòa vân trụ

Nhất lĩnh thuế y kinh tuế hàn

Tăng tại thiền sàng, kinh tại án

Lô tàn cốt đốt nhật tam can

Thiền Sư HUYỀN QUANG

CĂN NHÀ ĐÁ

Nửa gian nhà đá đứng cùng mây

Một áo lông che lạnh tháng ngày

Tăng ở giường thiền, kinh trên án

Lò tàn củi đốt, nắng cao thay

DIÊN HỰU TỰ

Thượng phương thu dạ nhất chung lan

Nguyệt sắc như ba, phong thụ đan

Si vẫn đảo miên phương kính lãnh

Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn

Vạn duyên bất nhiễm thành già tục

Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan

Tham thấu thị phi bình đẳng tướng

Ma cung Phật quốc hảo sinh quan

Thiền Sư HUYỀN QUANG

CHÙA DIÊN HỰU

Đêm thu cao tít tiếng chuông vang

Trăng dợn sóng soi thông úa vàng

Cú ngủ ngược đầu, gương chiếu lạnh

Tháp soi hai ngọn, ngọc sinh hàn

Thành che Thế Tục, không duyên nhiễm

Mắt tỏa khoan dung, chẳng tính toan

Tham thấu đúng sai, bình đẳng tướng

Cung Ma cõi Phật, quán sinh lành

---o0o---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/10/2010(Xem: 15905)
May I be free from enmity and danger, May I be free from mental suffering, May I be free from physical suffering
28/10/2010(Xem: 19032)
Một thương chú tiểu dễ thương Hai thương chú tiểu chọn đường đi tu Ba thương sớm tối công phu Bốn thương chú học và tu đàng hoàng Năm thương chú tiểu nhẹ nhàng Sáu thương chú tiểu đoan trang nụ cười
23/10/2010(Xem: 21096)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 25810)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
21/10/2010(Xem: 17920)
Bướm bay vườn cải hoa vàng , Hôm nay chúng ta cùng đọc với nhau bài Bướm bay vườn cải hoa vàng. Bài này được sáng tác trước bài trường ca Avril vào khoảng năm tháng. Viết vào đầu tháng chạp năm 1963. Trong bài Bướm bay vườn cải hoa vàng chúng ta thấy lại bông hoa của thi sĩ Quách Thoại một cách rất rõ ràng. Đứng yên ngoài hàng dậu Em mỉm nụ nhiệm mầu Lặng nhìn em kinh ngạc Vừa thoáng nghe em hát Lời ca em thiên thâu
20/10/2010(Xem: 14315)
Nếu mai mốt Ba có về thăm lại Con chỉ dùm căn láng nhỏ bên sông Nơi Mẹ sống trong chuỗi ngày hiu quạnh Nặng oằn vai một nỗi nhớ thương chồng
20/10/2010(Xem: 17856)
Nhân-sinh thành Phật dễ đâu, Tu hành có khổ rồi sau mới thành, Ai hay vững dạ làm lành, Chứng-minh trong chốn minh-minh cũng tường.
13/10/2010(Xem: 11077)
Nguyệt lạc Ô Đề sương mãn thiên Giang phong, ngư hoả đối Sầu Miên Cô Tô thành ngoại Hàn-San Tự Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
12/10/2010(Xem: 14652)
Trách lung do tự tại Tán bộ nhược nhàn du Tiếu thoại độc ảnh hưởng Không tiêu vĩnh nhật sầu.
12/10/2010(Xem: 14150)
Ta lấy viết phết cuộc đời lên giấy Nghe đất trời cuồn cuộn âm ba Giữa thinh không ẩn hiện bóng sơn hà Nghiêng nét bút phóng ngang bờ ảo mộng