Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

11. Vài ghi chú khi đọc kinh điển

07/02/201114:09(Xem: 4546)
11. Vài ghi chú khi đọc kinh điển

LÝ THUYẾTVÀ THỰC TẾ
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tôn Giáo TL. 2008 - PL. 2551

-11-

Vàighi chú khi đọc kinh điển

Dướiđây là vài ghi chú khi đọc tài liệu kinh điển, bao gồmvài thắc mắc thông thường của người học kinh Phật. Cácghi chú này có thể còn nhiều thiếu sót, và chúng tôi sẽchỉnh sửa, cập nhật, bổ sung theo thời gian.

*

1.Có 31 hay 32 phần cơ thể?

Ởđây, câu hỏi là: - Khi đề cập đến quán thân, có 31 hay32 phần trong thân thể? Câu trả lời là tùy theo quan niệmvề "não" (hay "óc") có được liệt kê hay không.

(1)Trong quyển Đại Niệm Xứ, ngài Thiền sư Silananda dịch đoạnkinh Đại Niệm Xứ (Maha Satipatthana Sutta, Trường Bộ 22, Tỳkhưu Khánh Hỷ dịch Việt):

"Lạinữa, này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát trên cơ thểnày từ gót chân trở lên và từ đỉnh tóc trở xuống baobọc bởi da và đầy các loại bất tịnh khác nhau. Trong cơthể này có:

- Tóc,lông, móng, răng, da (5)
-Thịt, gân, xương, tủy, thận (5)
-Tim, gan, ruột, lá lách, phổi (5)
-Phèo, bao tử, thực phẩm chưa tiêu, phẩn, óc (5)
-Mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ (6)
-Nước mắt, nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nướcmũi, nước khớp xương, nước tiểu. (6)"

Nhưvậy, tổng cộng là 32 phần. Nhưng sau đó, ngài cũng có đềcập là:

...Cần ghi nhận ở đây là trong nhiều bản kinh khi nói đếncác bộ phận của cơ thể không đề cập đến "óc" hay "não"nhưng Chú Giải cho rằng óc hay não được nói đến trong Patisambhidamagga.Như vậy kinh nào không đề cập đến não thì ta nên hiểulà não đã được bao gồm trong "tủy".

(2)Giải thích trên cũng phù hợp với bản Anh ngữ của bài kinh,do Hội Burma Tipitaka Association dịch từ bản Pāli-Miến Điệnvà ấn tống năm 1984 (Ten Suttas from Digha Nikaya - Long Discoursesof the Buddha). Trong bản Anh ngữ này, chỉ liệt kê 31 phần,còn "não" (brain) thì được in ra trong dấu ngoặc, với ghichú là "não" không được ghi trong bản Pāli của bài kinh,nhưng được đề cập đến trong bộ Patisambhida-magga (Vô ngạigiải đạo).

(3)Trong Thanh Tịnh Đạo, chương VIII.44 về pháp Niệm Thân, Luậnsư Buddhaghosa liệt kê 31 phần, và giải thích rằng "não" đượcbao gồm trong "tủy". Có lẽ Thiền sư Silananda dựa vào đoạnnày để có lời giải thích nêu trên. Theo bản dịch củaNi sư Trí Hải:

"...Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân,xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi,ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, niêm dịch, mủ, máu, mồhôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mũi, nướcở khớp xương, nước tiểu. Não được bao gồm trong tủy,nên đây ta chỉ thấy có 31 vật."

Cũngxin ghi nhận ở đây là trong các đoạn kế tiếp giảng vềpháp niệm thân, Ngài Buddhaghosa lại dùng cụm từ "32 phần",kể cả "não", để bình luận.

(4)Các bản dịch Anh ngữ khác của Tỳ khưu Nanamoli và Tỳ khưuBodhi, của Tỳ khưu Nyanasatta, của Tỳ khưu Soma, các đoạnvề niệm thân của kinh Niệm Xứ (Trung Bộ 10) và kinh ThânHành Niệm (Trung Bộ 119), và của Tỳ khưu Thanissaro và Giáosư M. Walshe về Đại kinh Niệm Xứ (Trường Bộ 22), chỉ liệtkê 31 phần, không có phần "não".

Trongcác bài kinh nêu trên, không thấy ghi con số "31 phần" hay "32phần", chỉ thấy ghi liệt kê các phần của thân mà thôi.

(5)Trong tập Tiểu Tụng (Khuddakapatha), thuộc Tiểu Bộ Kinh, cóghi 32 phần (Dvattimsakara), trong đó "não" là phần cuối cùng:

"Trongthân này có: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy,thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột,bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt,mỡ da, nước miếng, nước mủ, chất nhờn ở khớp, nướctiểu và não trong đầu" (bản dịch của Hòa thượng Minh Châu).

(6)Trong bộ A-hàm, bản kinh tương đương là kinh Niệm Xứ (TrungA Hàm 98) và kinh Niệm Thân (Trung A Hàm 81), có ghi "não", nhưngchỉ liệt kê 29 phần:

"...Trong thân này của ta có tóc, lông, móng, răng, da dày, da non,thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già, ruột non,lá lách, dạ dày, phân, não và não căn, nước mắt, mồ hôi,nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờm dãi, nướctiểu" (bản dịch của Thượng tọa Tuệ Sỹ).

Bàikinh Nhất Nhập Đạo (Tạp A-hàm, XII) cũng có ghi "não" nhưngchỉ liệt kê 27 phần:

"...Lại quán thân này có lông, tóc, móng, răng, da, thịt, gân,xương, tủy, não, mỡ miếng, mỡ nước, ruột, bao tử, tim,gan, tỳ, thận đều quán biết hết, phẩn, tiểu, sanh tạng,thục tạng, nước mắt, đờm dãi, huyết mạch, mỡ, mật,đều nên quán biết, không có gì đáng tham đắm. Như thế,các Tỳ khưu quán thân tự vui thích, trừ bỏ niệm ác, khôngcó sầu lo" (bản dịch của Hòa thượng Thanh Từ và Hòa thượngThiện Siêu).

(7)Tuy nhiên, theo bản dịch Anh ngữ của bộ Giải Thoát Đạo(Vimuttimagga, The Path of Freedom, Tỳ khưu Ehara, Soma và Khemindadịch), cũng như các bản dịch Việt ngữ của Thiện Nhựt,Thượng tọa Thích Như Điển và Ni sư Mạn Đà La, dịch từbản tiếng Hán, danh sách 32 bộ phận trong thân thể có baogồm phần "não" giống như Thanh Tịnh Đạo, dù rằng có khácthứ tự liệt kê.

*

2.Có 9 hay 10 hồng danh của Đức Phật?

Hằngngày, chúng ta thường tụng niệm ân đức Phật: "Itipi so BhagavaAraham Sammasambuddho Vijjacaranasampanno Sugato Lokavidu Anuttaro PurisadammasarathiSatthadevamanussanam Bud-dho Bhagavati" (Thật vậy, Ðức Thế Tôncó hiệu Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ,Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, ThiênNhân Sư, Phật, Thế Tôn ).

Câuhỏi ở đây là: - Trong câu niệm đó, có 9 hay 10 danh hiệuPhật? Câu trả lời là tùy chúng ta có thể gộp Vô ThượngSĩ (Anuttaro) và Điều Ngự Trượng Phu (Purisadammasarathi) thànhmột danh hiệu hay không.

(1)Trong quyển Kinh Nhựt Hành dành cho cư sĩ, Hòa thượng HộTông tách rời Anuttaro và Purisa-dammasarathi là 2 danh hiệu, vàvì thế có 10 danh hiệu Phật. Về sau này, các quyển kinh tụngcủa chùa Kỳ Viên ở Sài Gòn cũng như quyển kinh tụng củachùa Pháp Luân ở Hoa Kỳ có cùng quan điểm đó.

(2)Ngài Buddhaghosa trong quyển Thanh Tịnh Đạo giảng có thể xemAnuttaro và Purisadamma-sarathi là 2 danh hiệu (Chương VII.46 &47), nhưng cũng có thể gộp lại thành 1 danh hiệu chung làAnuttaro-purisadammasarathi (VII.48), với ý nghĩa "là một vị vôthượng có thể điều phục các bậc trượng phu".

(3)Tỳ khưu Hộ Pháp, trong quyển Tìm Hiểu Pháp Môn Niệm Phật,giải thích Anuttaro-purisadamma-sarathi là một danh hiệu, và dịchlà "Ðức Vô Thượng giáo hóa chúng sinh", và như thế, Ngàichỉ trình bày 9 ân đức Phật mà thôi.

(4)Trong quyển Kho Tàng Pháp Học, Chương Chín Pháp, Tỳ khưu GiácGiới đề cập đến 9 ân đức Phật, trong đó Anuttaro-purisadammasarathilà "bậc Vô thượng điều ngự trượng phu", nghĩa là bậcđánh xe vô thượng, khéo điều phục chúng sinh như nhữnghạng bò ngựa, có loài thuần thục, có loài ương ngạnh.

Tuynhiên, tác giả cũng có chú thích rằng về ân đức Phật,có chỗ ghi là mười hồng danh,vì trong hồng danh Anuttaro purisadammasarathi,nếu tách ra Anuttaro (bậc vô thượng sĩ), và Purisadammasarathi(bậc điều ngự trượng phu) thì trình bày ân đức Phậtcó 10 hồng danh.

(5)Hầu như tất cả các bản dịch Anh ngữ và các bài pháp Anhngữ của các vị học giả mà chúng tôi có đọc qua, đềucó cùng quan điểm về 9 hồng danh Phật, nghĩa là xem Anuttaro-purisadammasarathilà một danh hiệu. Xin đơn cử vài thí dụ:

a-Ngài Nyanatiloka (Sri Lanka), trong quyển Buddhist Dictionary, dịchAnuttaro-purisadamma-sarathi là: "Unsurpassed leader of men to be trained"(xem mục từ Anussati).

b-Bà I. B. Horner, Hội trưởng Hội Pāli Text Society (Anh quốc),trong bài kinh Dantabhumi Sutta (Kinh Điều ngự địa, Trung bộ125 ) dịch Anuttaro-purisadammasarathi là: "The matchless charioteerof men to be tamed" (xem http://www.accesstoinsight. org).

Trongbản dịch khác của bài kinh trên, Sư cô Upalavanna (Sri Lanka)dịch Anuttaro-purisa-dammasarathi là: "The incomparable tamer of thoseto be tamed". Giáo sư M. Walshe cũng dịch tương tự như thếtrong bài Đại kinh Bát Niết Bàn (Trường Bộ 16).

c-Tỳ khưu Thanissaro (Hoa Kỳ), trong bài kinh Dhajagga Sutta (TươngƯng XI.3) từ nguồn Pāli-Thái, dịch Anuttaro-purisadammasarathilà: "The un-excelled trainer of those who can be tamed" (xem trang web:http://www.accesstoinsight.org).

d-Hòa thượng Piyadassi (Sri Lanka), trong quyển kinh tụng "The Bookof Protection" dịch Anuttaro-purisadammasarathi là: "The peerless trainerof persons".

e-Tỳ khưu Sayagyi U Kyaw Htut (Miến Điện), trong bài pháp "TheNine Attributes of the Buddha", chỉ đề cập đến 9 hồng danh,dịch Anuttaro-purisa-dammasarathi là: "The Incomparable One in tamingthose who deserved to be tamed" (xem trang web: http://nibbana.com).

Tươngtự, Tỳ khưu Aung Thein Nyunt (Miến Điện), trong bài pháp "TheNine Supreme Attributes of the Lord Buddha", dịch Anuttaro-purisadamma-sarathilà: "The peerless charioteer to tame men" (xem trang web: http://nibbana.com).

f-Khi dịch bộ Giải Thoát Đạo (Hán tạng) sang Anh ngữ, quýngài Tỳ khưu Ehara, Soma, Kheminda gộp chung Vô Thượng sĩ vàĐiều Ngự Trượng Phu, và dịch là "The matchless guide of mento be tamed".

g-Quan trọng nhất là trong phần cuối của bài kinh Phân biệtSáu xứ (Salayatana-vibhanga sutta, Trung Bộ 137), cụm từ "Anuttaro-purisadamma-sarathi"đã được Đức Phật nhắc đến để giảng giải về bađức tính chánh niệm của một bậc Đạo sư để diễn giảngcho đồ chúng, và nếu được như thế, vị ấy được gọilà vị Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục hạng ngườiđáng được điều phục (theo bản Việt dịch của Hòa thượngMinh Châu). Trong bản Anh ngữ, Tỳ khưu Bodhi dịch là "The incomparableleader of persons to be tamed", và dịch giả có chú thích đâylà một trong 9 hồng danh của Đức Phật.

(6)Xin ghi nhận ở đây là trong kinh sách nguồn Hán Tạng, danhhiệu "Như Lai" được thêm vào, thành ra 11 danh hiệu (Từ điểnPhật học Hán Việt, Hà Nội, 1994). Do đó, để có 10 danhhiệu thì có sách gộp Vô Thượng Sĩ và Ðiều Ngự TrượngPhu thành một danh hiệu (Ðoàn Trung Còn, Tự điển Phật học),có sách gộp Phật và Thế Tôn thành một danh hiệu, chẳnghạn như trong bộ kinh Ðại Bát Niết Bàn (Hán tạng), tập1, trang 585 (Phẩm Phạm Hạnh), Hòa thượng Trí Tịnh dịch(1996).

Trongbộ A-hàm, bài kinh tương đương với kinh Dantabhumi Sutta làkinh Điều ngự địa (Trung A-hàm, 198), trong đó có liệt kêcác hồng danh Phật là: "Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,Minh Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô ThượngSĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu" (bảndịch của Thượng tọa Tuệ Sỹ).

*

3.Ekayano-maggo: Con đường duy nhất?

Trongđoạn đầu của bài kinh Niệm Xứ (Sati-patthana Sutta, TrungBộ 10, Trường Bộ 22), chúng ta thường đọc là:

- Đâylà con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh,vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánhtrí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ (Hòa thượngMinh Châu dịch).

Hay:

- Ðâylà con đường duy nhất để thanh lọc tâm chúng sanh, chấmdứt lo âu phiền muộn, uất ức than khóc, diệt khổ thânvà khổ tâm, đạt Thánh Ðạo và chứng ngộ Niết Bàn. Ðólà Tứ Niệm Xứ (Tỳ khưu Khánh Hỷ dịch).

Đâylà bài kinh quan trọng, thường được xem là bài kinh cẩmnang cho nhiều hành giả thực hành pháp thiền Minh Quán (VipassanaBhavana). Các vị thiền sinh đó thường cho rằng pháp hànhcủa mình là "con đường duy nhất" hay "con đường độc nhất"– nghĩa là không có con đường nào khác – để chứng ngộNiết Bàn. Hiểu như thế, từ chữ "ekayano-maggo", có đúngtheo tinh thần bài kinh không?

Mặcdù có nhiều dịch giả dùng cụm từ "con đường duy nhất,độc nhất" (the only way, the sole way) để dịch chữ ekayano-maggo,nhưng cũng có những dịch giả khác không đồng ý như thế.

Giáosư M. Walshe, dịch giả bản Anh ngữ Trường Bộ (The Long Discoursesof the Buddha), dịch chữ ekayano-maggo là "this one way" (đây làmột con đường) trong bài Đại Kinh Niệm Xứ (Trường Bộ22).

Trongbản dịch đầu tiên của bài kinh Niệm Xứ (Trung Bộ 10),Tỳ khưu Nanamoli dịch là "a path that goes one way only" (con đườngchỉ đi theo một hướng). Tuy nhiên, trong bản hiệu đính,Tỳ khưu Bodhi sửa lại là "the direct path" (con đường trựctiếp, hay con đường thẳng). Các dịch giả này đều cho rằngnếu dịch là "the only way, the sole way" (con đường duy nhất)thì nó có hàm ý là độc nhất, loại trừ các con đườngkhác, và như thế là không hoàn toàn chính xác (bản dịchTrung bộ, "The Middle Length Discourses of the Buddha").

TheoTỳ khưu Bodhi, Chú giải Trung Bộ bình luận rằng chữ ekayano-maggocó thể hiểu như là con đường đơn thuần, không có ngãrẽ; như là con đường mà hành giả phải tiến bước mộtmình, không bạn bè; và như là con đường đưa đến mộtmục tiêu, Niết Bàn. Ngài chọn dịch "the direct path" (con đườngtrực tiếp) với hàm ý để phân biệt Satipatthana với pháptu tiến qua các tầng thiền-na (jhanas) hoặc qua tứ vô lượngtâm (tứ phạm trú, brahmaviharas). Mặc dù pháp tu tiến nàycó thể đưa đến Niết Bàn nhưng chúng cũng có thể rẽ quangõ khác, trong khi Satipatthana là đưa thẳng đến mục đíchtối hậu.

Trongquyển "Satipatthana - The Direct Path to Realization" (Buddhist PublicationSociety, Sri Lanka, 2003), Tỳ khưu Analayo cũng có quan niệm tươngtự, và dịch chữ ekayano-maggo là "the direct path" (con đườngtrực tiếp). Ngài giải thích chữ ekayano-maggo gồm có nhữngtừ eka (một), ayana (đi) và maggo (đường), dịch sát nghĩalà "một con đường đi". Truyền thống chú giải thường đềcập đến 5 ý nghĩa của chữ này:

Conđường trực tiếp hay con đường thẳng, là vì nó đưa thẳngđến mục tiêu;
Conđường phải đi một mình;
Conđường vạch ra bởi Một Đấng (ám chỉ Đức Phật);
Conđường duy nhất trong Đạo Phật; và
Conđường đưa đến một mục tiêu (đó là Niết Bàn).
Đasố các dịch giả đều chọn cách dịch thứ tư nêu trên,nhưng Tỳ khưu Analayo chọn cách dịch thứ nhất.

Ngàicho rằng muốn tìm hiểu rõ ràng ý nghĩa của một thuật ngữPāli, chúng ta cũng cần xem thuật ngữ đó được dùng trongcác bài kinh khác như thế nào, để đối chiếu. Trong Đạikinh Sư tử hống (Maha-sihanada Sutta, Trung Bộ 12), chữ ekayanodùng để chỉ con đường mà một người đi theo sẽ đi thẳngxuống hố, mang ý nghĩa là "thẳng tiến, trực tiếp", khôngphải là "độc nhất, duy nhất". Trái lại, trong bài kinh TamMinh (Tevijja Sutta, Trường Bộ 13), khi hai người Bà-la-môn tranhcãi về con đường nào là "con đường duy nhất" để đưađến sự hòa nhập với Phạm thiên thì lại không thấy dùngchữ ekayano. Rõ ràng hơn hết là trong câu kệ 274 của kinhPháp Cú, ý nghĩa "con đường duy nhất" - là Bát Chánh Đạo- đã được nói đến, nhưng chữ ekayano lại không thấy xuấthiện. Vì thế, Tỳ khưu Analayo cho rằng cách dịch thứ tưcủa chữ ekayano (con đường duy nhất) là không thích hợp.

Ngoàira, Giáo sư R. Gethin (A Buddhist Path to Awakening: A Study of the Bodhi-PakkhiyaDhamma, Oxford, 2001) có cùng quan điểm dịch chữ ekayano-maggolà con đường thẳng tiến (the direct path) trong bài kinh NiệmXứ, vì ông cho rằng: "... căn bản những gì muốn nói ởđoạn này trong bài kinh là bốn pháp quán niệm (satipatthana)biểu trưng cho một con đường trực tiếp và thẳng tiếnđến mục đích tối hậu". Tỳ khưu Thanissaro cũng dùng chữ"the direct path" trong bản dịch Đại Kinh Niệm Xứ (TrườngBộ 22, xem treng web: http://www.accesstoinsight.org) từ bản Pāli-Thái.

Xinghi nhận ở đây là trong bộ A-hàm thuộc Hán tạng, hai bàikinh tương đương với kinh Satipatthana Sutta là kinh Niệm Xứ(kinh 98, Trung A-hàm) và kinh Nhất Nhập Đạo (Tăng Nhất A-hàm,XII). Trong bài kinh Niệm Xứ của bộ Trung A-hàm, đoạn kinhtương ứng là:

"Cómột con đường tịnh hóa chúng sanh, vượt qua lo sợ, diệttrừ khổ não, chấm dứt kêu khóc, chứng đắc Chánh pháp.Đó là Bốn niệm xứ" (Thượng tọa Tuệ Sỹ dịch).

"Mộtcon đường" là dịch từ chữ "nhất đạo", hoàn toàn khôngcó ý nghĩa "duy nhất, độc nhất", loại trừ các con đườngkhác.

Đặcbiệt hơn nữa, trong kinh Nhất Nhập Đạo thuộc Tăng NhấtA-hàm, bốn niệm xứ chỉ là một lối vào đạo, và "đạo"ở đây là Bát Chánh Đạo:

"Cómột lối vào đạo làm trong sạch hạnh của chúng sanh, trừbỏ sầu lo, không có các não, được đại trí tuệ, thànhtựu chứng quả Niết-bàn. Ðó là nên diệt Ngũ cái, tư duyTứ ý chỉ (Tứ niệm xứ). Thế nào là một lối vào? Nghĩalà chuyên nhất tâm. Ðó là một lối vào. Thế nào là đạo?Nghĩa là con đường tám phẩm của Hiền Thánh: Chánh kiến,Chánh chí (tư duy), Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh phươngtiện (tinh tấn), Chánh ngữ, Chánh niệm, Chánh định" (Hòathượng Thanh Từ và Hòa thượng Thiện Siêu dịch).

Trongbài kinh trên, không thấy đoạn nào nói rằng tứ niệm xứlà "con đường duy nhất".

*

4.Satipatthana là Niệm Xứ hay Lập Niệm?

Nhânđề cập đến bài kinh Satipatthana Sutta nêu trên, chúng ta thửtìm hiểu thêm: Satipatthana được dịch như thế nào? Chúngta thường thấy dịch là Niệm Xứ hay Nền Tảng Của Niệm(Foundationof Mindfulness). Ngay cả bài kinh tương đương trong Trung A-hàm(Hán tạng) cũng có tên là Kinh Niệm Xứ.

Cólẽ lối dịch nầy là dựa theo quan niệm xem chữ Satipatthananhư là kết hợp của chữ Sati (Niệm) và Patthana (Xứ, NềnTảng). Nhưng cũng có nhiều dịch giả – như các ngài Tỳkhưu Bodhi, Tỳ khưu Analayo – không đồng quan điểm, mà chorằng nên dịch là Sự Thiết Lập Niệm (Establishment of Mindfulness).Quý ngài xem Satipattha như là kết hợp của chữ Sati và Upatthana(thiết lập), và như thế, tựa đề sẽ là Kinh Lập Niệmvà Đại Kinh Lập Niệm. Tỳ khưu Soma trong quyển Con ĐườngChánh Niệm (The Way of Mindfulness), dịch là Bài Giảng Về SựKhơi Dậy Niệm, hay Bài Giảng Về Thẩm Thấu Niệm (the Dis-courseon the Arousing of Mindfulness, the Discourse on Penetrating Mindfulness).

Tuynhiên, Tỳ khưu Thanissaro, mặc dù nghiêng theo lối dịch dựatheo sự kết hợp Sati và Patthana, công nhận rằng cả hai lốidịch đều chính xác, đều phản ảnh ý nghĩa của bài kinh.

*

5.Đại kinh hay kinh đại?

Trongkinh tạng, chúng ta thấy có các cặp bài kinh cùng một tựađề, chỉ khác nhau ở chữ Maha (Đại) và Cula (Tiểu). Thídụ như hai bài kinh: Cula-sihanada Sutta (Trung Bộ 11) và Maha-sihanadaSutta (Trung Bộ 12). Chúng ta dịch hai tựa đề đó như thếnào? Kinh Tiểu Sư Tử Hống và Kinh Đại Sư Tử Hống? Haylà Tiểu Kinh Sư Tử Hống và Đại Kinh Sư Tử Hống? Nếudịch sát nghĩa Hán Việt, Cula-sihanada Sutta và Maha-sihanada Suttalà Tiểu Sư Tử Hống Kinh và Đại Sư Tử Hống Kinh. Ở đây,chữ Tiểu và Đại là bổ nghĩa cho chữ nào? Nếu dịch làKinh Đại Sư Tử Hống, ta sẽ hiểu như thế nào về cụmtừ "Đại Sư Tử Hống"? Là tiếng rống lớn của con sư tử,hay là tiếng rống của con sư tử lớn?

Vìthế, nếu chúng ta hiểu tựa đề của hai bài kinh trên cónghĩa là bài kinh ngắn và bài kinh dài về tiếng rống sưtử, theo thiển ý, tựa đề hai bài đó có thể dịch là TiểuKinh Sư Tử Hống và Đại Kinh Sư Tử Hống. Điều này cũngtương đồng với tựa đề của các bản dịch Anh ngữ củaTỳ khưu Bodhi: The Shorter Discourse on the Lion's Roar và The GreaterDiscourse on the Lion's Roar. Ngài Bodhi ghi nhận rằng từ "maha"thường được thêm vào tựa đề một bài kinh dài để phânbiệt với bài kinh ngắn có cùng tên. Tương tự như thế chocác cặp bài kinh khác:

- ĐạiKinh Khổ Uẩn (Maha-dukkhakkhanda Sutta, Trung Bộ 13) và Tiểu KinhKhổ Uẩn (Cula-dukkhakkhanda Sutta, Trung Bộ 14);

- TiểuKinh Ví Dụ Dấu Chân Voi (Cula-hatthi-padopama Sutta, Trung Bộ 27)và Đại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi (Maha-hatthipadopama Sutta, TrungBộ 28);

- ÐạiKinh Ví Dụ Lõi Cây (Maha-saropama Sutta, Trung Bộ 29) và TiểuKinh Ví Dụ Lõi Cây (Cula-saropama Sutta, Trung Bộ 30);

- TiểuKinh Tánh Không (Cula-sunnata Sutta, Trung Bộ 121) và Đại KinhTánh Không (Maha-sunnata Sutta, Trung Bộ 122).;

- TiểuKinh Nghiệp Phân Biệt (Cula-kamma-vibhanga Sutta, Trung Bộ 135)và Đại Kinh Nghiệp Phân Biệt (Maha-kammavibhanga Sutta, TrungBộ 136);

- KinhNiệm Xứ (Satipatthana Sutta, Trung Bộ 10) và Đại Kinh NiệmXứ (Maha-satipatthana Sutta, Trường Bộ 22); v.v.

Thêmvào đó, tựa bài kinh Maha-parinibbana Sutta (Trường Bộ 16) cólẽ nên dịch là Đại Kinh Bát-niết-bàn (dịch sát nghĩa làĐại Bát-niết-bàn Kinh), thay vì Kinh Đại Bát-niết-bàn nhưthường gặp trong nhiều tài liệu kinh sách. Theo thiển ý,chữ Bát-niết-bàn (phiên âm của parinibbana) tự nó đã đủnghĩa, không cần thêm từ "Đại". Chữ Đại ở đây có thểhiểu như là bổ nghĩa cho chữ Kinh, Đại Kinh là bài kinh dài.Theo học giả Maurice Walshe, đây là bài kinh dài nhất trongKinh tạng. Trong bản dịch Anh ngữ, Tỳ khưu Thanissaro dịchlà "The Great Discourse on the Total Unbinding".

*

6.Bát Chánh Đạo: Con Đường Tám Chánh hay Tám Con ĐườngChánh?

Mộtvài tác giả Phật tử, cư sĩ lẫn tu sĩ, thường suy diễnBát Chánh Đạo là tám con đường chánh mà Đức Phật cógiảng trong bài pháp đầu tiên, kinh Chuyển Pháp Luân, cho nămanh em Kiều-trần-như sau khi Ngài giác ngộ, đạt đạo quảChánh Đẳng Giác. Đây là một sự suy diễn sai lầm rất đángtiếc. Có lẽ các vị tác giả đó đã quen suy diễn theo lốipháp số: Tứ Diệu Đế là bốn sự thật cao sang, Ngũ Uẩnlà năm tập hợp, Lục Căn là sáu căn, Thất Giác Chi là bảychi phần giác ngộ, thì ắt hẳn Bát Chánh Đạo là tám conđường chánh. Một phần có lẽ là vì chữ Hán, âm sang HánViệt, không dùng dấu gạch nối để phân biệt rõ ràng "bát-chánhđạo"(đạo bát-chánh, hay con đường tám chánh) với "bát chánh-đạo"(tám chánh-đạo, tám con đường chánh).

Tìmđọc kinh điển, chúng ta sẽ thấy ngay rằng Bát Chánh Đạolà Con Đường Tám Chánh, nghĩa là một con đường có támphần tử – hay tám yếu tố – chân chánh, có sách dùng chữ"Thánh Đạo Tám Ngành", dịch từ chữ Pāli "ariya atthangikamaggo". Đây là con đường duy nhất để đưa đến đạo quảgiải thoát (Pháp Cú, 273-274), là con đường cổ xưa mà chưPhật đều đi qua trong các thời kỳ trước (Tương Ưng, 12.65).

Cũngxin ghi nhận ở đây là trong tiếng Anh, không thấy có sựlầm lẫn đáng tiếc này. Trong khi Tứ Diệu Đế dịch là"Four Noble Truths" (số nhiều, với "s"), Bát Chánh Đạo đượcdịch là "Noble Eightfold Path" (số ít, không có "s").

*

7.A-tỳ-đàm trong Kinh tạng?

Abhidhammathường được dịch là Vi diệu pháp, Thắng pháp, Vô tỷpháp, bắt nguồn từ chữ Dhamma là pháp và Abhi (hay Adhi) làcao siêu, vượt trội, tối thượng, tối thắng. Tàu âm làA-tỳ-đàm. Có quan niệm cho rằng Đức Phật đã giảng giáolý A-tỳ-đàm và có ghi lại trong Kinh tạng, vì chữ Abhidhammađã được tìm thấy trong các bài kinh:

- KinhPhúng Tụng (Sangiti Sutta), Trường Bộ 33.
-Ðại Kinh Rừng Sừng Bò (Mahagosinga Sutta), Trung Bộ 32.
-Kinh Gulisani (Gulisani Sutta), Trung Bộ 69.

Tuynhiên, theo ông Maurice Walshe, dịch giả bản Anh ngữ của TrườngBộ, chữ Abhidhamma (pháp tối thượng) trong bài kinh Phúng Tụnglà được dùng chung với chữ Abhivinaya (luật tối thượng)để chỉ giáo pháp và giới luật của Ngài, không liên hệgì đến giáo lý kết tập trong tạng Vi diệu pháp về saunày. Nhận xét nầy cũng áp dụng trong trường hợp bài kinhGulisani, Trung Bộ. Thêm vào đó, theo Tỳ khưu Bodhi, dịch giảbản Anh ngữ của Trung Bộ, chữ Abhidhamma trong bài Đại KinhRừng Sừng Bò có thể hiểu là giáo lý có hệ thống và cóphân tích. Theo Từ điển Pali-Anh (Pali-English Dictionary, PaliText Society), chữ Abhidhamma không tìm thấy trong Tương Ưng Bộvà Tăng Chi Bộ, và có lẽ chữ này đã được dùng thêm tronggiai đoạn cuối của tiến trình triển khai và kết tập bốntạng kinh chính.

*

8.Đức Phật giảng Vi diệu pháp ở đâu, khi nào?

Đâylà câu hỏi thường gặp khi chúng ta học Vi diệu pháp (Abhidhamma),và đã có nhiều bình luận về nguồn gốc Vi diệu pháp trongcác sách giáo khoa Phật học và lịch sử Phật giáo.

Sựkiện Đức Phật giảng Vi diệu pháp chỉ được ghi trong chươngđầu tiên của bản Chú giải bộ Pháp tụ (Atthasālīnī),Chú giải Thuyết luận sự (Kathāvat-thuppakarana Atthakathā),và trong Chú giải kinh Pháp cú (kệ 181) của Luận sư Buddhaghosa(Phật Âm) với nhiều chi tiết hơn. Trong 3 tháng hạ vào nămthứ 7 sau khi Thành Đạo, Đức Phật đến cõi trời Ba MươiBa (Tavatimsa, Đao-lợi) giảng Vi diệu pháp cho chư thiên, trongđó có mẫu hậu Đại Ma-da (Maha Maya) từ cung trời Đâu-suất(Tusita) đến nghe. Mỗi ngày, Ngài trở về địa cầu, nơithành Sankassa, tóm tắt lại cho tôn giả Xá-lợi-phất. Dựavào đó, Trưởng lão Xá-lợi-phất giảng rộng ra cho chưTăng gồm 500 vị tỳ khưu, và về sau, kết tập thành tạngVi diệu pháp.

ThànhSankassa ngày nay là một làng nhỏ, còn lại di tích một gòđất, người ta tin rằng đó là nơi Đức Phật trở về địacầu. Gần đó có một ao nhỏ, theo truyền thuyết, đó làhồ Anotatta (A-nâu-đạt), nơi Ngài rửa mặt, đánh răng. Ngoàira, còn có di tích trụ đá và một con voi đá do vua A-dụcdựng lên.

*

9.Cờ Phật giáo có 5 hay 6 màu?

Chúngta thường nghe nói cờ Phật giáo là cờ ngũ sắc, gồm 5 màu:xanh dương (nila), vàng (pita), đỏ (lohita), trắng (odata), cam(manjesta). Có người bình giải rằng đó là tượng trưng chongũ căn và ngũ lực: tín, tấn, niệm, định, huệ. Có đúngthế không?

Thậtra, cờ Phật giáo có 6 màu, 5 màu đầu tiên được liệt kênhư trên, và màu thứ sáu là màu sáng chói (prabaswara), do 5màu kia kết hợp lại. Do đó, cờ có 6 vạch đứng, vạchthứ sáu có 5 phần ngang tượng trưng cho sự kết hợp của5 màu kia. Cờ nầy do Hội đồng Bảo vệ Phật giáo ở Colombo,Sri Lanka, cùng với ông H. S. Olcott (Phật tử Mỹ), thiết kếvà dùng trong dịp lễ Vesakha, vào năm 1885. Về sau, vào năm1952, lá cờ này được Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới(WBF, World Buddhist Fellowship) công nhận là lá cờ Phật giáochung cho cộng đồng Phật tử trên toàn thế giới.

Sáumàu nầy là dựa theo truyền thuyết ghi lại trong quyển Atthasālīnī(Chú giải bộ Pháp tụ). Trong tuần lễ thứ tư sau ngày ThànhĐạo, Đức Phật ngồi thiền, chiêm nghiệm về Vi diệu pháp,toàn thân Ngài phát hào quang gồm 6 màu nêu trên.

*

10.Tám vạn bốn ngàn pháp môn?

Trongsách báo Phật giáo, chúng ta thường thấy cụm từ "84 ngànpháp môn" để chỉ tính đa dạng, đa phái của đạo Phật.Có nhiều người dùng cụm từ "84 ngàn pháp môn" để chỉcác pháp môn, các truyền thống khác nhau trong đạo Phật,và cho rằng bất kỳ pháp môn nào, bất kỳ truyền thốngnào rồi cũng đưa đến mục đích cuối cùng của giác ngộgiải thoát. Đức Phật có giảng dạy như thế không?

Theosự hiểu biết thô thiển của chúng tôi, trong kinh điển Pālinguyên thủy không thấy có cụm từ "84 ngàn pháp môn" trongý nghĩa nêu trên, mà chỉ có một đoạn văn do Trưởng lãoĀnanda trả lời ông Moggallāna người chăn bò, khi ông ấyhỏi ngài lời dạy của đức Phật là gì, có tất cả làbao nhiêu pháp. Ngài đáp: "Trong 84 ngàn pháp, chính tôi đượcnghe Đức Phật giảng 82 ngàn, còn 2 ngàn kia là do các vịtỳ khưu khác thuật lại" (Trưởng lão Tăng kệ, 1025, Tiểubộ).

Xinghi nhận vài điểm sau đây:

(1)Con số "84.000" hay cụm từ "tám mươi bốn ngàn", hay "tám vạnbốn ngàn", là một thành ngữ thường thấy trong nhiều bàikinh, như: 84.000 đại kiếp, 84.000 năm, 84.000 thị nữ, 84.000cỗ xe, 84.000 con voi, 84.000 con bò, 84.000 chén bạc, 84.000 thướcvải, v.v. Đây chỉ là một thành ngữ phổ thông tại ẤnĐộ trong thời đó, là cách nói tổng quát để chỉ mộtsố lượng rất lớn, rất nhiều, không phải là một con sốchính xác.

(2)Chữ "pháp" (dhamma) trong câu trả lời của ngài Ānanda có nghĩalà gì? Giáo sư K. R. Norman, dịch giả bản dịch Anh ngữ Theragatha(Trưởng Lão Tăng Kệ), cho biết rằng ngài luận sư Buddhaghosa,trong Chú giải Trưởng Lão Tăng Kệ, có giải thích "pháp"ở đây được hiểu như là "pháp uẩn" (dhamma-khandha), nghĩalà đoạn văn về giáo pháp.

Trongquyển Saddhammasangaha (Diệu Pháp Yếu Lược, Tỳ khưu Indacandadịch) do Trưởng lão Dhammakitti Mahāsāmi soạn ra tại Sri Lankavào khoảng thế kỷ 13 DL, Ngài có giải thích về Pháp Uẩnnhư sau:

...Thế nào là có tám mươi bốn ngàn phần khi nói về Pháp Uẩn?Bài kinh nào có nhiều chủ đề thì tính nhiều Pháp Uẩn.Như thế, việc tính đếm Pháp Uẩn tức là đề cập đếnchủ đề. Trong những phần Kệ (gāthā), mỗi câu hỏi haychất vấn là một Pháp Uẩn và câu trả lời là một PhápUẩn. Trong tạng Vi diệu pháp, mỗi một phần chia chẻ gồmcó một nhị đề hoặc tam đề và mỗi một phần chia chẻtheo loại tâm được gọi là một Pháp Uẩn. Trong tạng Luậtthì có phần câu chuyện (vatthu), có phần tiêu đề (mātikā),có phần phân tích từ ngữ, có phần phạm tội, có phầnkhông phạm tội, có phần phán xét; trong trường hợp này,cứ mỗi một phần được xem là một Pháp Uẩn. Như thế,khi đề cập đến Pháp Uẩn thì có tám mươi bốn ngàn phần.

(3)Cũng trong quyển Saddhammasangaha, ngài Dhammakitti Mahāsāmi cóđưa ra các con số thống kê về Tam Tạng kinh điển như sau:

a)Trong 84.000 pháp uẩn, Tạng Kinh có 21.000 pháp uẩn, Tạng Luậtcó 21.000 pháp uẩn, và Tạng Vi diệu pháp có 42.000 pháp uẩn.

Ngàynay, các con số này cũng thấy được trích dẫn trong nhiềutác phẩm Phật học. Đây có phải là con số chính xác vàkhả tín không? Đã có vị Tăng Ni học giả nào nghiên cứutường tận để chứng minh các con số này, hay không?

b)Tam Tạng Pāli gồm có một ngàn một trăm tám mươi ba (1.183)tụng phẩm (bhānavāra).

c)Tam Tạng Pāli có số lượng từ là hai trăm chín mươi lămngàn bảy trăm năm mươi (295.750).

d)Tam Tạng Pāli có số lượng mẫu tự là chín triệu bốn trămsáu mươi bốn ngàn (9.464.000).

VềTạng Kinh, ngài liệt kê:

e)Trường Bộ có 34 bài kinh.

f)Trung Bộ có 152 bài kinh.

g)Tương Ưng Bộ có 7.762 bài kinh.

h)Tăng Chi Bộ có 9.557 bài kinh.

Ngoàira, ngài cũng có đưa ra các con số thống kê về các bộ Chúgiải và Sớ giải:

i)Tất cả Chú giải Tam Tạng do luận sư Buddha-ghosa giảng giảicó số lượng tụng phẩm là một ngàn một trăm sáu mươiba (1.163).

j)Tất cả Chú giải Tam Tạng có số lượng từ là hai trămchín chục ngàn bảy trăm năm mươi (290.750).

k)Tất cả Chú giải Tam Tạng có số lượng mẫu tự là chíntriệu ba trăm lẻ bốn ngàn (9.304.000).

l)Sớ giải của Tam Tạng được giảng giải bởi các vị thầygiáo thọ về sớ giải, có số lượng tụng phẩm là sáutrăm ba hai (632).

m)Sớ giải của Tam Tạng có số lượng từ là một trăm nămmươi tám ngàn (158.000).

n)Sớ giải của Tam Tạng có số lượng mẫu tự là năm triệukhông trăm năm mươi sáu ngàn (5.056.000).

Cáccon số về các bài giảng trong Kinh Tạng cũng được đềcập trong quyển Chú giải bộ Pháp tụ (Attha-sālīnī), nhưngkhông nhiều chi tiết.

Ngàynay, các bộ Tam Tạng Pāli, Chú giải và Sớ giải đã đượcsố hóa từ các nguồn Sri Lanka, Myanmar và Thái Lan, và đãđược phổ biến rộng rãi qua dạng đĩa CD-ROM. Chúng tôikhông biết đã có những công trình nghiên cứu nào để minhchứng các con số thống kê nêu trên, bằng cách viết cácchương trình vi tính để xử lý nguồn số hóa trên CD-ROM,hay không?

Theothiển ý, đó là đề tài rất thú vị và cũng rất quan trọng,rất xứng đáng để cho các vị nghiên cứu sinh Phật họclưu tâm và thực hiện trong các bài luận văn hay luận ántốt nghiệp.

*

11.Chánh Pháp tồn tại bao lâu?

TrongChương 10, Tiểu Phẩm, Tạng Luật (Tỳ khưu Indacanda dịch)có đề cập đến việc bà Mahā-pajāpati Gotamī đếngặp Đức Phật xin xuất gia tỳ khưu ni, và Ngài chỉđồng ý cho phép nếu bà thọ nhận Tám Trọng Pháp(bát kỉnh pháp). Sau đó, Ngài nói với Trưởng lão Ānanda:

- NàyĀnanda, nếu nữ nhân không đạt được sự xuất gia rờinhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức NhưLai công bố, phạm hạnh có thể sẽ được tồn tại lâudài, Chánh Pháp có thể tồn tại một ngàn năm. Này Ānanda,bởi vì nữ nhân đã xuất gia rời nhà sống không nhà trongPháp và Luật đã được đức Như Lai công bố, giờ đây,phạm hạnh sẽ không tồn tại lâu dài. Này Ānanda, giờ đây,Chánh Pháp sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm năm.

(Sựkiện này cũng được ghi trong bài kinh Mahā-pajāpati Gotamī,Tăng chi VIII.51)

Dođó, ngày nay, 2.500 năm sau khi Đức Phật bát-niết-bàn,nhiều người bi quan cho rằng chúng ta đang ở trong thờiMạt Pháp, không ai có thể đạt giác ngộ giải thoátnữa. Tuy nhiên, Chú giải Luật Tạng và Chú giải TăngChi Bộ có giải thích: 1000 năm của Chánh Pháp là đềcập đến sự diệt tận các lậu hoặc với sự thành đạtvề bốn Tuệ Phân Tích. Từ đó về sau là 1.000 năm của sựdiệt tận các lậu hoặc do thuần túy tuệ minh sát, 1000 nămcủa đạo quả Bất Lai, 1.000 năm của đạo quả Nhất Lai,1.000 năm của đạo quả Nhập Lưu. Như vậy, Chánh Pháp sẽtồn tại 5.000 năm, và sau đó sẽ không còn ai trong cõingười có thể nhập dòng thánh giải thoát. Thêm vàođó, Tỳ khưu Dhammanando (chùa Benchamabophitr, Bangkok) cho biếttrong bản Chú giải Trường Bộ và Trung Bộ có ghi mộtcon số khác: thời kỳ của đạo quả A-la-hán có thểkéo dài đến 4.000 năm, sau đó mới từ từ suy tàn.

Dùsao đi nữa, chúng ta cũng nên ghi nhận rằng trong lờigiảng cuối cùng cho ngài Subhada trước khi nhập diệt,Đức Phật có tuyên bố khi nào Bát Chánh Đạo đượctu tập và truyền giảng một cách đúng đắn thì thếgiới nầy không bao giờ trống vắng các đạo quả thánh(Đại kinh Bát-niết-bàn, Trường Bộ).

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn