Pháp Ấn Niết Bàn (Dharma Seal of Nirvana)

15/01/202509:15(Xem: 1370)
Pháp Ấn Niết Bàn (Dharma Seal of Nirvana)

TVQD_Phat Niet BanPháp Ấn Niết Bàn

Nguyên Giác

 

Trong khi học Phật, chúng ta thường đọc thấy ba pháp ấn là vô thường, khổ, và vô ngã. Đôi khi, chúng ta đọc thấy trong kinh nói về bốn pháp ấn là vô thường, khổ, vô ngã và Niết Bàn. Tùy theo dị biệt bộ phái, mỗi vị thầy ưa nói cách này hay cách kia. Thực tế, nói cách nào cũng đúng, cũng phù hợp kinh điển. Trong khi đó, theo cách nhìn của Thiền tông Việt Nam, tất cả các pháp tự thân đã là tịch diệt, bời vì lìa phiền não thì không có bồ đề, lìa sanh tử thì không có Niết bàn. Cũng như sóng không lìa nước, và ảnh không lìa gương. Do vậy, Thiền tông nêu lên ý chỉ là phải nhìn thấy để sống với pháp tánh, với Niết bàn tự tâm.

Pháp ấn còn gọi là đặc tướng của các pháp. Truyền thống Phật giáo Nam Truyền thường nói rằng ba pháp ấn, hay ba đặc tướng của hữu thể, là khổ, vô thường và vô ngã. Khổ là điều chúng ta có thể thấy dễ dàng trong cõi này. Đức Phật nói rằng sinh, lão, bệnh, tử là cái khổ trong cõi người mà  ai cũng thấy. Ngay cả nhiều cõi trời cũng khổ như thế, huống gì tới các cõi súc sinh, quỷ đói, địa ngục.

Trong khi đó, trận gió vô thường chảy xiết, liên tục không ngừng. Khi dạy về cách nhận ra vô thường, Đức Phật thường nói về mắt, về cái được thấy, về tai, về cái được nghe, và vân vân. Khi tất cả các pháp vô thường như thế, tất nhiên là tự thân các pháp phải là chuyển biến, phải là vô ngã, là không có tự thể cố định.

Trong khi đó, Phật giáo Bắc truyền thường nói về Bốn pháp ấn: vô thường, khổ, vô ngã, Niết bàn. Truyền thống nói rằng khi một giáo lý chứa Bốn pháp ấn này thì nó có thể được coi là Phật Pháp. Niết bàn là cảnh giới của những người đã xa lìa phiền não, đã đoạn tận thân kiến, và đã giải thoát khỏi vòng sinh tử. Nói dễ hiểu, Niết bàn là trạng thái tâm tĩnh lặng, an lạc, giải thoát khỏi đau khổ.

Nhiều quốc gia theo Phật giáo Bắc truyền chịu ảnh hưởng từ Kinh Pháp Hoa, trong đó có một câu thường được nhắc tới: Các pháp từ trong thể tính vốn thường trực trong sạch, tịch lặng, bất biến (Chư pháp tòng bản lai, thường tự tịch diệt tướng). Thực sự, lời dạy trong Kinh Pháp Hoa cũng nằm trong những lời dạy của Đức Phật trong thời kỳ hoằng pháp đầu tiên.

Cụ thể, các bạn có thể đọc lại thật kỹ Kinh Trung Bộ MN 140, đối chiếu bản dịch tiếng Việt và nhiều bản dịch tiếng Anh, sẽ thấy Đức Phật nói rằng người tu nào xa lìa vọng tưởng thì sẽ được gọi là vị ẩn sĩ tịch tịnh. Tuy vẫn đang đi, đứng, nằm, ngồi trong xã hội đời thường, vị ẩn sĩ tịch tịnh này thực sự là đang không sanh, không già, không chết, và không có dao động.

Làm cách nào để không khởi lên vọng tưởng? Có nhiều cách để xa lìa vọng tưởng. Đơn giản là hãy nhìn thấy thực tướng trong dòng chảy xiết của vô thường. Thấy vô ngã như thế, người tu sẽ tự đoạn thân kiến, không bao giờ nghĩ tới "tôi là" hay "tôi không là" hay "tôi sẽ là" và vân vân. Tự nhiên, tâm sẽ tịch tịnh.

Có một cách tu ghi trong Kinh SN 22.95, Đức Phật chỉ vào chùm bọt sóng trên Sông Hằng, và nói các sư hãy quan sát tất cả các pháp, toàn bộ thân tâm như chùm bọt nước đó, là rỗng không, không có lõi cứng. Tức là, Đức Phật dạy cách nhận ra và sống với tánh không của các pháp, nơi cội nguồn đó không hề có tham, sân, si chút nào. Và đó là Niết bàn. Thấy cái tánh không đó, chính là Thiền tông vậy. Trong cái tâm cội nguồn này, không hề có vọng tưởng, không có gì để nắm giữ hay xua đẩy. Nơi tánh không này, không thấy có ta hay người, thì còn gì gọi là tham sân si nữa.

Cách nói truyền thống của Thiền Tông nói rằng trong vô lượng niệm đang sinh khởi rồi diệt, vẫn có một không gian bất động của tâm. Nghĩa là, trong vô lượng cái vô thường huyễn hóa trước mắt, bên tai, vẫn có một Niết Bàn tịch diệt không rời. Cũng như nước không rời vô lượng bọt sóng, và cũng như gương không rời vô lượng ảnh hình được phản chiếu. Khi tâm sống như biển, thì sẽ không thấy có bọt sóng này sân si với bọt sóng kia. Bọt sóng thì vô thường, liên tục sinh rồi diệt, nhưng biển vẫn không đổi. Tương tự, khi tâm sống như tánh phản chiếu của gương, thì ảnh hiện ra rồi biến mất, nhưng tánh sáng của gương vẫn bất động, vẫn lặng lẽ.

Ngài Trần NhânTông viết trong bài Cư Trần Lạc Đạo Phú rằng khi người tu đã thấy tính sáng soi của tâm, thì không còn cần phương pháp nào khác, chỉ cần thường trực giữ tính sáng của tâm thôi, thì tự động sẽ "Dứt trừ nhân ngã, thì ra tướng thực kim cương; Dừng hết tham sân, mới lảu lòng màu viên giác.” Câu thơ vừa dẫn có nghĩa là, không còn thấy có ta, không còn thấy có người, thì thực tướng của tâm kiên cố như kim cương hiển lộ ra. Lúc đó, khi ánh sáng của tâm chiếu tới, thì tham và sân sẽ biến mất, sẽ thấy cái biết tròn đầy của bản tâm hiện ra.

Thiền cũng là đi vào cửa của Không, Vô Tướng, Vô Tác. Khi cảm thọ vô thường chảy xiết, sẽ thấy thân tâm như bọt sóng rỗng không, sẽ thấy tất cả các hiện tướng là vô ngã và không có gì có thực tướng. Lúc đó là sống với Vô Tác, tức là không thấy gì để làm nữa. Ngay khi cái được thấy hiện lên trước mắt, và ngay khi cái được nghe hiện ra bên tai, tức khắc cái Không và Vô Tướng được nhận ra, và đó là Niết bàn tự tâm.

Tham khảo:

. Kinh MN 140: https://suttacentral.net/mn140/vi/minh_chau

. Kinh SN 22.95: https://suttacentral.net/sn22.95/vi/minh_chau

.... o ....


Phat Niet Ban 6

Dharma Seal of Nirvana

Written and translated by Nguyên Giác

While studying Buddhism, we often encounter the three Dharma seals: impermanence, suffering, and non-self. Occasionally, the sutras mention a fourth seal: Nirvana. Depending on the sect, each teacher may present these concepts in different ways. However, both interpretations are valid and align with the sutras. From the perspective of Vietnamese Zen, all dharmas are inherently extinguished; without afflictions, there can be no enlightenment, and without birth and death, there is no Nirvana. Just as waves do not separate from water, and images do not detach from mirrors, Zen Buddhism emphasizes the importance of perceiving in order to live in harmony with the Dharma nature and to realize Nirvana within one's own mind.

The Dharma Seal, also known as the characteristic of the Dharma, is a fundamental concept in Buddhism. The Southern Buddhist tradition identifies three Dharma Seals, or the three characteristics of existence: suffering, impermanence, and non-self. Suffering is a pervasive aspect of our world that is readily observable. The Buddha taught that birth, aging, sickness, and death are forms of suffering that all humans experience. Moreover, many heavenly realms also experience suffering, not to mention the realms inhabited by animals, hungry ghosts, and beings in hell.

Meanwhile, the winds of impermanence flow swiftly, continuously, and without pause. In his teachings on the realization of impermanence, the Buddha frequently alludes to the eye's perception, the ear's perception, and so on. Given that all dharmas are impermanent in this way, it follows that the dharmas themselves must be in a state of constant change, lack a permanent self, and possess no fixed nature.

Meanwhile, Northern Buddhism frequently discusses the Four Seals of Dharma: impermanence, suffering, non-self, and nirvana. According to this tradition, a teaching that embodies these Four Seals can be regarded as the Buddha Dharma. Nirvana represents the state of individuals who have relinquished defilements, discarded the notion of self, and achieved liberation from the cycle of birth and death. In simpler terms, nirvana is a mental state characterized by calmness, peace, and freedom from suffering.

Many countries that follow Northern Buddhism are influenced by the Lotus Sutra, which contains a frequently cited phrase: Dharmas are inherently pure, tranquil, and unchanging (Chư pháp tòng bản lai, thường tự tịch diệt tướng). In fact, the teachings found in the Lotus Sutra are also part of the Buddha's teachings from his initial period of disseminating the Dharma.

Specifically, you should carefully reread the Majjhima Nikaya MN 140, comparing the Vietnamese translation with various English translations. The Buddha referred to a practitioner free from delusions as a tranquil hermit. Despite engaging in ordinary activities such as walking, standing, lying down, and sitting, this tranquil hermit is fundamentally not born, not aging, not dying, and experiences no fluctuations.

How can we prevent the emergence of delusions? There are many ways to get rid of delusions. Simply see the true nature of impermanence in the swift flow. Seeing non-self like this, the practitioner will naturally cut off the view of self, never thinking of "I am" or "I am not" or "I will be" and so on. Naturally, the mind will be peaceful.

In the SN 22.95 Sutta, the Buddha illustrates a practice by pointing to a cluster of bubbles on the Ganges River. He instructs the monks to observe all dharmas—both the body and mind—as akin to that cluster of bubbles: empty and devoid of a solid core. The Buddha teaches how to recognize and embrace the emptiness of all dharmas, where, at the fundamental level, there is no greed, anger, or delusion. This state is known as Nirvana. Perceiving this emptiness is the essence of Zen. This basic mind has no delusion or attachments. The concepts of self and other dissolve within this emptiness, prompting the question: what can we identify as greed, anger, or delusion?

The traditional understanding of Zen suggests that amidst the countless thoughts that arise and fade, there exists an unmoving space within the mind. In the face of the myriad illusory impermanences that confront our senses, there remains a tranquil and undisturbed state akin to Nirvana. Just as water is not separate from the countless bubbles that form upon its surface, and as a mirror is not distinct from the myriad images it reflects, so too does the mind function. A mind that embodies the vastness of the ocean does not see one bubble as angry or indifferent. Bubbles are transient, constantly emerging and dissipating, yet the ocean itself remains unchanged. Similarly, when the mind reflects the nature of a mirror, images may appear and vanish, but the inherent clarity of the mirror remains motionless and still.

Trần Nhân Tông wrote in the poem "Living in the World and Enjoying the Way" (Cư Trần Lạc Đạo Phú) that when a practitioner has seen the bright nature of the mind, no other method is needed. He only needs to constantly maintain the bright nature of the mind, and then he will automatically "see that there is no self, no person; then you will see the true nature of diamond; stop all greed and anger, and the mind will attain the color of enlightenment." The verse just quoted means that when one no longer sees the self, no longer sees the other, then the true nature of the mind is as solid as diamond. At that time, when the light of the mind shines, greed and anger will disappear, and the complete knowledge of the original mind will appear.

Zen practice involves entering the realm of Emptiness, Formlessness, and Actionlessness. Upon recognizing the swift flow of impermanence, one perceives the body and mind as empty foam, and recognizes all phenomena as non-self, devoid of any true form. In that moment, one embodies actionlessness, signifying that there is nothing left to do. Upon seeing and hearing, the mind instantly realizes Emptiness and Formlessness, leading to the experience of Nirvana of the mind.

Reference:

. Kinh MN 140: https://suttacentral.net/mn140/vi/minh_chau

. Kinh SN 22.95: https://suttacentral.net/sn22.95/vi/minh_chau

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/06/2011(Xem: 5520)
Người tại gia tu theo đạo Phật, thông thường được gọi là Cư Sĩ. Như thế nào là một vị Cư Sĩ ? có điều gì khác với người tại gia bình thường ? Phật giáo Trung Quốc, có rất nhiều người tín ngưỡng Phật giáo, nhưng cũng có nhiều người hiểu sai về giáo lý đức Phật, họ cho rằng: “ Các Tự Viện thờ cúng tượng Phật, Tăng Ni tụng kinh cho người chết, đánh chuông, gõ mõ, vv… chính là đại diện cho Phật giáo”. Vì thế, nhiều người đã nhận định Phật giáo là tiêu cực, là trốn tránh hiện thực. Kỳ thật, những điều này chỉ là nghi thức Phật giáo của người xuất gia và truyền thống Phật giáo đã bị biến chất theo phong tục tập quán. Tín đồ Phật giáo chia làm hai hạng người: Xuất Gia và Tại Gia. Bổn phận của người Xuất Gia là tu đạo, truyền đạo và duy trì Phật giáo, cho đến thực hiện tinh thần Bồ-tát nhập thế, còn bổn phận của người Tại Gia là ở bên ngoài hộ trì Phật giáo.
12/06/2011(Xem: 4247)
Tám loại khổ (i) Sinh: * Có bao giờ ta nghĩ rằng: “Ước gì tôi chưa hề được sinh ra”? Bắt đầu từ khi chào đời, ta trải qua biết bao đau khổ. * Không những chỉ có sự đau đớn lúc chào đời mà thôi, ta còn trải qua những đau khổ của lão, bệnh và tử.
07/06/2011(Xem: 5505)
Vào ngày 2 tháng Tư, Lama Zopa Rinpoche đã ban bài giảng để khai mạc khóa tu kéo dài một tháng được tổ chức tại Bendigo, Úc châu trong Đại Bảo Tháp Bi mẫn Phổ quát. Lời khuyên dạy vô cùng phổ biến này được trích dẫn vì sự lợi lạc của tất cả những người không thể tham dự khóa tu:
30/05/2011(Xem: 11103)
Chương 183: Thời Kỳ Tiền Phật Giáo trên Thế Giới Pre-Buddhism Period in the World Chương 184:Lịch Sử Các Bộ Phái Phật Giáo Cổ History of Ancient Buddhist Sects Chương 185: Tông Phái Phật Giáo—Buddhist Schools Chương 186: Lục Sư Ngoại Đạo—The Six Heretical Masters Chương 187: Phật Giáo Thế Giới—Buddhism in the World Chương 188: Phật Giáo Việt Nam—Buddhism in Vietnam Chương 189: Những vị Cao Tăng Nổi Tiếng của Việt Nam Vietnamese Famous Buddhist Monks Chương 190: Những vị Cao Tăng Nổi Tiếng của Trung Hoa Chinese Famous Buddhist Monks
30/05/2011(Xem: 10516)
Chương 61: Quán—Contemplation Chương 62: Giải Thoát—Liberation Chương 63: Ma Và Ngũ Thập Ấm Ma—Demons and Fifty Demons Chương 64: Chấp Trước-Kết-Buông Xả—Graspings-Fetters-Nonattachment Chương 65: Vô Thủy-Vô Chung—Beginninglessness, Endlessness Chương 66: Kiếp—Aeon Chương 67: Ngã và Vô Ngã—Ego and Egolessness Chương 68: Điên Đảo—Conditions of Being Upside-down Chương 69: Vô Thường—Impermanence Chương 70: Ta Bà—The Saha World Chương 71: Vô Minh—Ignorance Chương 72: Chủng Tử—Seed
30/05/2011(Xem: 10472)
Chương 43: Ái Dục--Ngũ Dục—Cravings--Five Desires Chương 44: Kiến và Tà Kiến—Views and Wrong Views Chương 45: Khổ và Bát Khổ—Sufferings and Eight Sufferings Chương 46: Cầu và Vô Sở Cầu—Doors of Seeking and Non-Seeking Chương 47: Bát Đại Nhân Giác— Eight Awakenings of Great People Chương 48: Căn-Cảnh-Thức—Organs-Objects-Consciousnesse Chương 49: Bát Thức và A Đà Na Thức—Eight Consciousneses and Adana Consciousnese Chương 50: Đại Thừa Bách Pháp—Mahayana One Hundred Dharmas Chương 51: Tương Đối-Tuyệt Đối-Viên Dung-Như ThựcRelative Absolute Totality True Reality Chương 52: Lậu Hoặc—Leakage and Delusions,Hữu Lậu-Vô Lậu—Leakage and Non-leakage Chương 53: Cà Sa—Monk’s Robe Chương 54: Tâm—Mind Chương 55: Duy Tâm—Mind-Only Chương 56: Phật Tánh—Buddha-Nature Chương 57: Chư Như Lai và Huyền Nghiệp của các Ngài - Thus Come Ones and their Wonderful Works Chương 58: Cam Lộ—Sweet Dews Chương 59: Tam Muội—Samadhi Chương 60: Thiền—Meditation
30/05/2011(Xem: 11060)
Chương 20: Diệu Đế và Thánh Đạo—Noble Truths and Noble Paths Chương 21: 37 Phẩm Trợ Đạo—Thirty-Seven Limbs of Enlightenment Chương 22: Sự Yêu Thương và Tứ Vô Lượng Tâm—Love and Four Immeasurable Minds Chương 23: Tứ Nhiếp Pháp—Four Elements of Popularity Chương 24: Lục Hòa—Six Points of Harmony Chương 25: Tứ Ân—Four Great Debts Chương 26: Công Đức và Tội Phước—Merit and Virtue-Offences and Blessings Chương 27: Ba La Mật—Paramitas Chương 28: Thân-Khẩu-Ý—Body-Mouth-Mind Chương 29: Tín-Hạnh-Nguyện-Hành-Hạnh-Nguyện của chư Bồ Tát—Faith-Conducts-Vows-Bodhisattvas’Practices-Conducts-Vows Chương 30: Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối—Four Kinds of Pure Precepts Chương31:Hôn Nhân theo Quan Điểm Phật Giáo—Marriage in Buddhist Point of View Chương 32: Thiện Ác—Good and Bad (Kusala & Akusala) Chương 33: Tập Khí và Buông Xả—Old Habits and Abandonment Chương 34: Nghiệp Báo—Actions and Recompenses Chương 35: Nhân-Duyên-Quả—Causes-Conditions-Effects Chương 36: Giới—Rules in