Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

52. Đạo giáo

24/02/201116:04(Xem: 5138)
52. Đạo giáo

PHÁ MÊ KHAI NGỘ
Lê Sỹ Minh Tùng

52. Đạo giáo

Đạo giáo là đạo bởi ông Lảo Tử mà thành ra. Lảo Tử còn được gọi là Thái Thượng Lảo Quân hay Thái Thượng Lảo Tổ.
Ngài quê quán ở xóm Khúc Nhơn, làng Lệ, huyện Khổ, thuộc nước Sở. Ngài sinh năm 604 trước Tây lịch về đời vua Châu Định Vương, họ Lý tên Đàm. Đến đời vua Châu Cảnh Vương, năm 523 trước Tây lịch thì Ngài mất, thọ 81 tuổi.

Tôn chỉ của Lảo Tử là trước khi có trời đất thì chỉ có đạo. Đạo là bản thể của vũ trụ và là cái gốc nguyên thủy của tạo hóa. Vạn vật đều bởi đạo mà sinh ra, cho nên muốn sửa mình và trị nước thì phải theo đạo, nghĩa là con người nên điềm tỉnh, vô vi và tự nhiên chứ không nên dùng trí lực mà làm gì cả. Bởi vậy, trong Đạo Đức Kinh, ông ta viết về chữ đạo như sau:

“Đạo khả đạo phi thường đạo

Danh khả danh phi thường danh”

Tạm dịch là:

“Đạo mà nói ra được thì không phải là đạo,

Tên mà nói ra được thì không phải là tên”

Truyện kể rằng: Khi về già thì Ngài chán thế sự nên cởi trâu đi về hướng Tây tạng. Khi đến đèo Hán Khẩu thì quan giữ cửa ải khuyên Ngài trở lại đừng đi xa nữa nhưng Ngài không chịu. Quan giữ ải cầu khẩn Ngài nên để lại cái chi lưu niệm về thuyết sống cũng như về cuộc đời của Ngài. Ngài bằng lòng và ba ngày sau Ngài trở lại và trao cho quan giử ải một cuốn sách nhỏ viết tay với 5,000 chữ có tên là Đạo Đức kinh.

Trong Đạo Đức kinh có ghi một câu chuyện giữa Đức Khổng Tử và Lảo Tử bởi vì hai vị sống cùng một thời. Một hôm Đức Khổng Tử vì nghe danh Ngài Lảo Tử rất nhiều nên tìm đến gặp Ngài một lần. Sau khi gặp Lảo Tử thì học trò hỏi Đức Khổng Tử nhận xét về Lảo Tử như thế nào? Đức Khổng Tử đăm chiêu, do dự nhưng rất khâm phục và nói: “Hôm nay ta đã gặp Ngài Lảo Tử. Hôm nay ta đã thấy một con rồng”.

Cũng trong Đạo Đức kinh, Lảo Tử dạy về cái đạo Vô vi. Vô vi không phải là không làm cái gì hết mà phải luôn luôn làm theo đạo pháp. Vì nó trường lưu bất tận như khi hư vô vận chuyển không ngừng để nuôi dưỡng, bảo tồn vạn loài, không bao giờ ngừng nghĩ cũng như con người phải thở, phải ăn để sống. Phải làm những việc hữu ích cho muôn loài mà không bao giờ nên kể ơn, kể công và không màng ai biết mình. Hành động với tinh thần vô ngã, vô danh, vô công, vô có, vô chấp mới là thực hành đúng theo cái đạo Vô vi. Những học trò của Lảo Tử thì có Văn Tử, Thi Tử, Trang Tử và Liệt Tử.

Đạo của Lảo Tử lúc đầu là một món triết học rất cao siêu nhưng về sau cái học thuyết biến đổi đi. Thế rồi những người giảng thuật thần tiên cũng phụ theo đạo ấy mà nói chuyện số kiếp và những sự tu luyện để được phép trường sanh bất tử. Bởi vậy, Đạo Lảo mới thành ra đạo thần tiên, phù thủy và những người theo đạo giáo thì gọi là Đạo sĩ. Nguyên từ đời vua Tần Thủy Hoàng và vua Vủ Đế nhà Hán, người Tàu đã tin sự thần tiên. Sau đến đời Đông Hán có Trương Đạo Lăng soạn thêm 24 thiên Đạo kinh giảng cái thuật trường sinh. Bọn giặc Hoàng Cán, Trương Giác chính là học trò của Trương Đạo Lăng. Đến đời nhà Đông Tấn lại có Cát Hồng nói rằng đã luyện được tiên thuật rồi làm sách dạy những thuật ấy. Từ đó về sau Đạo giáo thịnh dần lên và họ tôn Lảo Tử làm Thái Thượng Lảo Quân. Đời vua Cao Tổ nhà Đường có người nói rằng thấy Lảo Tử hiện ra ở núi Đường Giác Sơn xưng là tổ nhà Đường. Sau đó vua Cao Tổ đến tế ở miếu Lảo Tử và tôn Ngài lên là Thái Thượng Huyễn Nguyên Hoàng Đế. Bởi vậy nhà Đường trọng đạo Lảo Tử lắm và bắt con cháu phải học Đạo Đức Kinh.

Theo phong tục Việt Nam, thì việc bày bàn thờ để cúng gia tiên phải tuân theo quy tắc của Đạo giáo. Triết lý của Lảo Tử nói là vào thời nguyên thủy thì vũ trụ sinh ra Thái cực. Sau đó thái cực sinh ra âm dương và âm dương sinh ra ngũ hành để tạo ra trời đất. Bát nhang tượng trưng cho Thái cực. Lư hương tượng trưng cho Âm dương. Lư hương và hai chân đèn gọi là bộ tam sự còn nếu có thêm ống đựng nhang, ống đựng đũa thì gọi là ngũ sự. Việc bày bàn thờ cũng còn là biểu tượng của Ngũ hành: Kim (lư hương, chân đèn). Mộc (chân nhang, bài vị). Thủy (nước hoặc rượu). Hỏa (đèn, nến). Thổ (cát trong bát nhang). Còn về bình hoa và mâm ngũ quả thì phải đặt bình hoa ở hướng Đông còn mâm ngũ quả thì ở hướng Tây. Lý do là có hoa rồi mới có quả và nhờ ánh sáng từ phương Đông nên hoa mới kết thành quả. Hoa quả mang ý nghĩa dưỡng dục sinh thành của tổ tiên, ông bà và cha mẹ.

Hồi Hướng:

Chúng sanh vô-biên thệ nguyện độ,

Phiền não vô-tận thệnguyện đoạn;

Pháp môn vô-lượng thệ nguyện học.

Phật-đạo vô-thượng thệ nguyện thành.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/05/201106:35(Xem: 5932)
Chương 183: Thời Kỳ Tiền Phật Giáo trên Thế Giới Pre-Buddhism Period in the World Chương 184:Lịch Sử Các Bộ Phái Phật Giáo Cổ History of Ancient Buddhist Sects Chương 185: Tông Phái Phật Giáo—Buddhist Schools Chương 186: Lục Sư Ngoại Đạo—The Six Heretical Masters Chương 187: Phật Giáo Thế Giới—Buddhism in the World Chương 188: Phật Giáo Việt Nam—Buddhism in Vietnam Chương 189: Những vị Cao Tăng Nổi Tiếng của Việt Nam Vietnamese Famous Buddhist Monks Chương 190: Những vị Cao Tăng Nổi Tiếng của Trung Hoa Chinese Famous Buddhist Monks
03/10/201020:23(Xem: 3489)
Bernard Glassman, Viện trưởng của Cộng đồng Thiền ở New York, và Trung tâm Thiền ở Los Angeles. Tốt nghiệp tiến sĩ Toán Ứng Dụng, ông là kỹ sư không gian của hãng McDonnell-Douglas, trong chương trình gửi người lên Mars những năm 1970. Khi tôi bắt đầu học Thiền, thầy tôi cho tôi một công án, một câu hỏi Thiền để tôi trả lời: “Làm sao đi xa hơn đầu ngọn cờ một trăm thước?” Ta không thể dùng lý trí để trả lời công án này hay bất cứ câu hỏi Thiền nào một cách logic. Tôi quán chiếu một thời gian dài, rồi thưa với thầy: “Câu trả lời là phải sống một cách trọn vẹn”.
19/04/201321:10(Xem: 1896)
Từ Bi Hỷ Xả là những đức tính của một bậc Giác Ngộ: “Đại từ đại bi đại hỷ đại xả chính là Phật tánh, Phật tánh chính là Như Lai” (phẩm Bồ-tát Sư Tử Rống, kinh Đại Bát Niết Bàn). Trong bài này chúng ta tìm hiểu tâm từ và Phật tánh, y cứ vào kinh Đại Bát Niết Bàn, chủ yếu lấy từ phẩm Phạm Hạnh. Kinh này gắn liền với tâm từ.
31/10/201317:03(Xem: 11011)
Trên bình diện tổng quát thì tất cả các tôn giáo - kể cả Phật Giáo dưới một vài hình thức biến dạng mang tính cách đại chúng - đều hướng vào chủ đích tạo ra một đối tượng nào đó cho con người bám víu. Ngược lại Dharma tức là Đạo Pháp của Đức Phật thì lại nhất thiết chủ trương một sự buông xả để giúp con người trở về với chính mình, nhờ vào sức mạnh mang lại từ lòng quyết tâm tự biến cải chính mình. Sự biến cải đó gọi là thiền định.
28/10/201009:16(Xem: 987)
Hỏi:Một lần, tôi có đọc được một đoạn của bài viết trong báo Giác Ngộ như sau “Khi được hỏi con người ở thế giới này từ đâu có, trong một bản kinh Phật trả lời: có những vị Trời sắp hết phước, họ nhìn xuống thế giới này thấy có ánh sáng liền tìm đến. Tới nơi, họ ăn thử trái cây nơi đây thấy ngon, liền mất thần thông nên ở lại luôn, làm tổ tiên loài người…”. Xin cho biết xuất xứ của đoạn kinh trên và tóm tắt ý chính của kinh. Quan điểm của Phật giáo về nguồn gốc loài người có sự khác biệt như thế nào so với các lý thuyết khoa học đương đại?
27/03/201321:09(Xem: 1535)
Phật giáo, giống như những tôn giáo khác, nhấn mạnh vào những giá trị tinh thần hơn là vào những giá trị vật chất; vào việc buông xả những tài vật của thế gian hơn là chấp chặt vào chúng; và vào khía cạnh tâm linh của đời sống hơn là vào khía cạnh trần tục của nó. Tuy nhiên, Phật giáo không hoàn toàn không quan tâm đến phương diện đời sống vật chất và thế tục.
29/09/201806:08(Xem: 3138)
Thái tử Siddhãrtha Gautama (Pãli) hay Siddhattha Gotama (Sanskrist) hoặc Sĩ-Đạt-Ta (Tất-Đạt-Đa) Cồ-Đàm, sau khi thành đạo được các Phật tử tôn kính xem Ngài là một bậc đạo sư vĩ đại, vì Ngài là người đã giác ngộ viên mãn, là người tự biết mình thực sự thoát khỏi vòng quay luân hồi sinh tử, là người hiểu rõ được nguyên tắc vận hành khách quan của hiện tượng thế gian. Sau đó truyền bá kinh nghiệm giác ngộ của mình cho người hữu duyên không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dạy họ phương pháp tu tập chấm dứt khổ đau phiền não trong cuộc sống thế gian, hầu kinh nghiệm được hạnh phúc tối thượng.
13/11/201023:26(Xem: 1547)
ánh"không" (S. 'Suunyataa, P. Su~n~nataa) là một trong các học thuyếtquan trọng bậc nhất của Phật giáo và cũng là học thuyếtbị người khác đạo hiểu sai lầm nhiều nhất. Các tác giảchống Phật giáo thường không hiểu rõ hay ngộ nhận ý nghĩacủa hai chữ sắc và không trong đạo Phật. Họ lẫn lộnhoặc lợi dụng vào hiện tượng đồng âm dị tự trong tiếngViệt và Hán Việt, đánh đồng hai khái niệm hoàn toàn khácnội dung làm một, để bôi bác giáo lý của đạo Phật.
31/07/201211:27(Xem: 3420)
Chúng tôi viết quyển sách này cho nhữngngười mới bắt đầu học Phật. Bước đầu tuy tầm thường song không kém phần quantrọng, nếu bước đầu đi sai, những bước sau khó mà đúng được. Người học Phật khimới vào đạo không hiểu đúng tinh thần Phật giáo, về sau sẽ hỏng cả một đời tu.Người có trách nhiệm hướng dẫn không thể xem thường kẻ mới học, cần phải xâydựng có một căn bản vững chắc, đi đúng đường hướng của Phật dạy. Hiểu Phật giáomột cách đúng đắn, mới mong thành một Phật tử chân chánh.