Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

03. Tứ niệm trụ

19/02/201108:10(Xem: 3408)
03. Tứ niệm trụ

PHẬT PHÁPCĂN BẢN
ThíchĐứcThắng
BanTuThư Phật Học 2006

TỨNIỆM TRỤ
(catvārismṛty-upasthānāni)

Tứniệm trụ là hành phẩm thứ nhất trong bảy hành phẩm củaBa mươi bảy phẩm đạo: Một là Tứ niệm trụ, hai Tứ chánhcần, ba Tứ như ý túc, bốn Ngũ căn, năm Ngũ lực, sáu Thấtgiác phần, bảy Bát chánh đạo. Ở đây, Tứ Niệm trụ Phạnngữ gọi là catvāri smṛty-upasthānāni, Pāli gọi là cattārosati-paṭṭhānāni còn gọi là tứ niệm xứ, tứ ý chỉ, tứchỉ niệm, tứ niệm, thân thọ tâm pháp, nghĩa là Bốn phạmtrù thân, thọ, tâm và pháp là nơi để hành giả tập trungtâm niệm vào một trong bốn điểm này khi tu tập, với mụcđích là đề phòng và, đình chỉ những tạp niệm vọng tưởngkhởi lên. Đây là bốn loại phương pháp dùng để đạt chânlý trong pháp môn tu hành theo kinh điển Phật giáo Nguyên thỉmà đức Đạo sư đã chỉ dạy.

Hànhgiả lúc tu tập chỉ cần dùng tự tướng thân mình cùng nhữngcọng tướng khác mà quán sát thân này là bất tịnh, nhữngnhận lãnh (thọ) là khổ, tâm mình luôn luôn không thườnghay thay đổi, và các pháp thì luôn không có ngã nó chỉ làmột giả hợp. Vì sao hành giả phải quán sát như vậy? Vìchúng ta luôn bị bốn pháp này chi phối làm lệch lạc tưduy của chúng ta, nên lúc nào chúng ta cũng cho rằng thân nàylà trong sạch, mọi thứ thủ đắc có được của chúng tađối với cuộc sống mang lại vui sướng khóai lạc hạnhphúc, tâm của chúng ta thì lúc nào cũng vĩnh viễn thườnghằng bất biến và, các pháp giữa cuộc đời này là thậtcó, là ta là của ta. Từ những tư duy cố chấp lệch lạcnhư vậy đưa chúng ta đi đến những hành động tạo nhânnghiệp sai trái đưa đến quả khổ trong sinh tử luân hồi,nên để đối trị lại bốn thứ tà chấp điên đảo chorằng thân là trong sạch, thọ nhận là khoái lạc, tâm làthường hằng, các pháp (tâm và vật) là hữu ngã, nênđức Đạo sư đã dùng bốn pháp quán thân là bất tịnh,thọ nhận là khổ, tâm là vô thường, pháp là vô ngã đểphá trừ bốn thứ tà chấp điên đảo trên. Ở đây, niệmcó nghĩa là chúng ta quán sát có trí tuệ (tuệ quán); trụchỉ bốn nơi thân, thọ, tâm và, pháp phát sinh ra bất tịnh,khổ, vô thường, vô ngã. Khi hành giả dùng trí tuệ đểquán sát, tức là tâm niệm chúng ta có thể đình chỉ trụvào những chỗ này để tu tập.

Tứniệm trụ tức chỉ cho:

1.Thân niệm trụ (Skrt: kāya smṛty-upasthānāni; Pāli: kaye kāyanuppassiviharati ātāpi sampajāno satimā.) còn gọi là thân niệm xứ,tức là quán sát tự tướng của thân là bất tịnh, nhơ nhớp,và cùng lúc quán sát cộng tướng thân của chúng ta là vôthường là khổ đau, là không thật, là vô ngã để đốitrị lại các bệnh chấp điên đảo cho là thanh tịnh.

2.Thọ niệm trụ (Skrt: vedanā-smṛty-upasthāna; Pāli: vedanāsuvedanānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā.) còn gọi là thọniệm xứ, tức quán sát nguyên do đối trong việc hân hoanmong cầu hưởng lạc sẽ sinh ra ra khổ đau ngược lại, vàcũng đồng thời quán sát cộng tướng của nó là khổ đau,không thật hữu, để đối trị bệnh chấp điên đảo cholà lạc thú.

3.Tâm niệm trụ (Skrt: citta-smṛty-upasthāna; Pāli: citte cittānupassiviharati ātāpi sampajāno satimā.) còn gọi là tâm niệm xứ,tức quán sát tâm thường mong cầu của chúng ta luôn sinh diệtvô thường biến đổi, và quán sát mọi cộng tướng củachúng cũng như vậy, để đối trị bệnh chấp điên đảocho là thường hằng vĩnh viễn.

4.Pháp niệm trụ (Skrt: dharma-smṛty-upasthāna; Pāli: dhammesu dhammānupassiviharati ātāpi sampajāno satima.) còn gọi là pháp niệm xứ,tức là quán tất cả các pháp đều nương vào nhân duyênmà sinh khởi, nên sự hiện hữu của chúng là không có tựtánh, và tất cả những cộng tướng khác cũng được quánsát như vậy, để đối trị bệnh chấp ngã điên đảo.

TheoTrung A-hàm 24, (Đ. 1, tr. 582) thuộc Hán tạng thì, gọi là kinh Niệm xứ chứ không gọi là Niệm trụ. Bốn niệm xứlà tên gọi khác của niệm trụ. Bốn niệm xứ là quán thânnhư thân, quán thọ như thọ, quán tâm như tâm và quán phápnhư pháp.

Theođức Đạo sư dạy thì:

Quánthân như thân là Tỳ-kheo khi nào đi thì biết mình đang đi,khi nào đứng thì biết mình đang đứng, khi nào ngồi thìbiết mình đang ngồi, khi nào nằm thì biết mình đang nằm,khi nào ngủ thì biết mình đang ngủ, khi nào thức thì biếtmình đang thức, khi nào ngủ say thì biết mình đang ngủ say.

Biếtrõ chính xác khi vào khi ra, khi co khi duỗi, khi cúi khi ngẩng,oai nghi chững chạc, khéo khoác tăng-già-lê và cầm bát; đi,đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói năng, im lặng đều biếtrõ chính xác.

Khisanh niệm ác bất thiện, liền niệm điều thiện để đốitrị, đoạn trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ. Răng ngậm khít lại,lưỡi ấn lên khẩu cái, dùng tâm trị tâm, đối trị, đoạntrừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ.

Niệmhơi thở vào thì biết niệm hơi thở vào, niệm hơi thở rathì biết niệm hơi thở ra. Thở vào dài thì biết thở vàodài, thở ra dài thì biết thở ra dài. Thở vào ngắn thì biếtthở vào ngắn, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn. Học toànthân thở vào, học toàn thân thở ra. Học thân hành tĩnh chỉthở vào, học khẩu hành tĩnh chỉ thở ra.

Hỷlạc sinh do ly dục, thấm nhuần thân thể, phổ biến đầykhắp; biến trong thân thể không đâu không có. Như ngườihầu tắm, bỏ bột tắm đầy chậu, nước hòa thành bọt,nước thấm vào thân, phổ biến sung mãn, không đâu khôngcó. Cũng vậy, Tỳ-kheo có hỷ lạc do ly dục nhuần thấm thânthể, phổ biến đầy khắp; biến trong thân thể, hỷ lạcsanh nhờ ly dục không đâu không có. Tỳ-kheo có hỷ lạcnhờ định sanh, nhuần thấm thân thể, phổ biến dầy khắp;biến trong thân thể, hỷ lạc nhờ định sanh không đâu khôngcó. Cũng như suối trên núi, trong sạch không nhơ, nước từbốn phương chảy đến đổ vào tự nhiên, từ đáy suối,nước tự vọt lên, chảy tràn ra ngoài, thấm ướt cả núi,phổ biến đầy khắp, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheocó hỷ lạc nhờ định sanh thấm nhuần thân thể, phổ biếnđầy khắp; biến trong thân thể, hỷ lạc do định không đâukhông có.

Tỳ-kheocó lạc do ly hỷ nhuần thấm thân thể, phổ biến đầy khắp;biến trong thân thể, lạc sanh do ly hỷ không đâu không có.Như các thứ sen xanh, hồng, đỏ, trắng sanh ra từ nước,lớn lên trong nước, ở dưới đáy nước, rễ, hoa, lá, cọngthảy đều thấm nhuần, phổ biến đầy khắp, không đâukhông có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có lạc do ly hỷ nhuần thấmthân thể, phổ biến đầy khắp, biến trong thân thể, lạcdo ly hỷ không đâu không có.

Tỳ-kheoở trong thân này được biến mãn với tâm thanh tịnh, ý giải,thành tựu an trụ; ở trong thân này tâm thanh tịnh không đâukhông biến khắp. Như có một người trùm một cái áo rộngbảy hoặc tám khuỷu tay, từ đầu đến chân, thì khắp cảthân đều được phủ kín. Cũng vậy, Tỳ-kheo ở trong thânnày với tâm thanh tịnh, không đâu không có.

Tỳ-kheoniệm quang minh tưởng, khéo thọ trì, nhớ rõ điều niệm;như phía trước, phía sau cũng vậy; ngày cũng như đêm, đêmcũng như ngày; dưới cũng như trên, trên cũng như dưới. Nhưvậy tâm không điên đảo, tâm không bị ràng buộc, tâm tựsáng tỏ, không khi nào còn bị bóng đen che lấp.

Tỳ-kheokhéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, nhưngười ngồi quán sát kẻ nằm, rồi nằm quán sát kẻ ngồi.Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm,cũng giống như vậy.

Tỳ-kheotùy theo những chỗ trong thân, tùy theo tính chất tốt xấutừ đầu đến chân quán thấy thảy đều đầy dẫy bấttịnh: ‘Trong thân này của ta có tóc, lông, móng, răng, dadày, da non, thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già,ruột non, lá lách, dạ dày, phân, não và não căn, nước mắt,mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờmdãi, nước tiểu’. Như một cái bồn chứa đủ hạt giống,ai có mắt sáng thì thấy rõ ràng: ‘Đây là hạt lúa, hạtgạo, kia là hạt cải, cỏ, rau’. Cũng vậy, Tỳ-kheo tùy theonhững chỗ trong thân, tùy theo tính chất tốt xấu, từ đầuđến chân, quán thấy thảy đều đầy dẫy bất tịnh: ‘Trongthân này của ta có tóc, lông, móng, răng, da dày, da non, thịt,gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già ruột non, lá lách,dạ dày, phân, não và não căn, nước mắt, mồ hôi, nướcmũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờm dãi, nước tiểu’.Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm,cũng giống như vậy.

Tỳ-kheoquán sát giới trong thân rằng: ‘Trong thân này của ta cóđịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới,thức giới’. Như gã đồ tể mổ bò, lột hết bộ da, trảilên mặt đất, phân thành sáu đoạn. Cũng vậy, Tỳ-kheo quáncác giới trong thân rằng: ‘Trong thân này của ta có địagiới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thứcgiới’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớđiều niệm, cũng giống như vậy.

Tỳ-kheoquán xác chết, mới chết từ một hai ngày đến sáu bảyngày, đang bị quạ diều bươi mổ, sài lang cấu xé, hoặcđã hỏa thiêu, hay đã được chôn lấp, đang bị rửa náthư hoại. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đềucó những trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheokhéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũnggiống như vậy.

Tỳ-kheonhư từng thấy trong nghĩa địa, hài cốt xám xanh, rữa nátgần hết, xương vải khắp đất. Quán rồi tự so sánh: ‘Thânta cũng thế, đều có những trường hợp này, không sao tránhkhỏi,’ Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớđiều niệm, cũng giống như vậy.

Tỳ-kheonhư từng thấy trong nghĩa địa, da, thịt, máu, huyết tiêucả, chỉ còn xương dính gân. Quán rồi tự so sánh: ‘Thânta cũng thế, đều có trường hợp này, không sao tránh khỏi’.Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm,cũng giống như vậy.

Tỳ-kheonhư từng trong nghĩa địa thấy xương rời từng đốt, rảirác khắp nơi, xương chân, xương đùi, xương đầu gối, xươngbắp vế, xương sống, xương vai, xương cổ, xương sọ, mỗithứ một nơi. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đềucó những trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheokhéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũnggiống như vậy.

Tỳ-kheonhư từng thấy trong nghĩa địa, xương trắng như vỏ ốc,xanh như lông chim bồ câu, đỏ như màu máu, mục nát bể vụn.Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta rồi cũng thế, đều có nhữngtrường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheo khéo giữtướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống nhưvậy. Tỳ-kheo như vậy, những phương pháp quán trên là quánnội thân như thân; quán ngoại thân như thân; lập niệm tạithân, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi làTỳ-kheo quán thân như thân.

Quánthọ như thọ là Tỳ-kheo khi thọ nhận cảm giác lạc liềnbiết đang thọ nhận cảm giác lạc, khi thọ nhận cảm giáckhổ liền biết đang thọ nhận cảm giác khổ, khi thọ nhậncảm giác không lạc không khổ liền biết đang thọ nhậncảm giác không lạc không khổ. Khi thân thọ nhận cảm giáclạc, thân thọ nhận cảm giác khổ, thân thọ nhận cảm giáckhông lạc không khổ; khi tâm thọ nhận cảm giác lạc, tâmthọ nhận cảm giác khổ, tâm thọ nhận cảm giác không lạckhông khổ; cảm giác lạc khi ăn, cảm giác khổ khi ăn, cảmgiác không lạc không khổ khi ăn; cảm giác lạc khi không ăn,cảm giác khổ khi không ăn, cảm giác không lạc không khổkhi không ăn; cảm giác lạc khi có dục, cảm giác khổ khicó dục, cảm giác không khổ không lạc khi có dục; cảm giáclạc khi không có dục, cảm giác khổ khi không có dục, cảmgiác không lạc không khổ khi không có dục. Tỳ-kheo như vậy,quán nội thọ như thọ, quán ngoại thọ như thọ, lập niệmtại thọ, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọilà Tỳ-kheo quán thọ như thọ.

Quántâm như tâm là Tỳ-kheo có tâm tham dục thì biết đúng nhưthật có tâm tham dục, có tâm không dục thì biết đúng nhưthật là có tâm không dục. Khi có sân hay không sân, có sihay không si, có ô uế hay không ô uế, có hợp hay có tan, cóthấp hay có cao, có nhỏ hay có lớn; tụ hay không tụ, địnhhay không định, giải thoát hay không giải thoát. Cũng nhưvậy, có tâm giải thoát thì biết đúng như thật có tâm giảithoát; có tâm không giải thoát thì biết đúng như thật làcó tâm không giải thoát. Tỳ-kheo như vậy, quán nội tâm nhưtâm, lập niệm tại tâm, có tri, có kiến, có minh, có đạt.Như vậy là Tỳ-kheo quán tâm như tâm.

Quánpháp như pháp là Khi con mắt duyên sắc, sinh nội kết, nếuTỳ-kheo bên trong thật có kết thì biết đúng như thật làbên trong có kết; bên trong thật không có kết thì biết đúngnhư thật là bên trong không có kết. Nội kết chưa sinh, bâygiờ sinh, biết đúng như thật. Nội kết đã sinh và đượcđoạn trừ, không sinh lại nữa, biết đúng như thật. Vớitai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng giống như vậy. Khi ý duyênpháp, sinh nội kết, nếu Tỳ-kheo bên trong thật có kết thìbiết đúng như thật là bên trong có kết, bên trong không cókết thì biết đúng như thật là bên trong không có kết, nộikết chưa sinh bây giờ sinh; biết đúng như thật nội kếtđã sinh và đã được đoạn trừ, không sinh lại nữa, biếtđúng như thật.

Bêntrong thật có ái dục thì biết đúng như thật là đang cóái dục, bên trong thật không có ái dục thì biết đúng nhưthật là không có ái dục. Ái dục chưa sinh nay sinh, biếtđúng như thật. Ái dục đã sinh và đã được đoạn trừ,không sinh lại nữa, biết đúng như thật. Với sân nhuế,thùy miên, điệu hối và nghi cũng giống như vậy. Bên trongthật có nghi, biết đúng như thật là đang có nghi; bên trongthật không có nghi, biết đúng như thật là không có nghi.Nghi chưa sinh, nay đã sinh, biết đúng như thật. Nghi đã sinhvà đã được đoạn trừ, không sinh lại nữa, biết đúngnhư thật.

Bêntrong thật có niệm giác chi thì biết đúng như thật là cóniệm giác chi; bên trong thật không có niệm giác chi thì biếtđúng như thật là không có niệm giác chi. Niệm giác chi chưasinh nay sinh, biết đúng như thật. Niệm giác chi đã sinh thìghi nhớ không quên, không suy thoái, tu tập càng lúc càng tăngtrưởng, biết đúng như thật. Với trạch pháp, tinh tấn,hỷ, khinh an, định và xả cũng giống như vậy. Bên trong thậtcó xả giác chi thì biết đúng như thật là đang có xả giácchi, bên trong thật không có xả giác chi thì biết đúng nhưthật là không có xả giác chi. Xả giác chi chưa sinh nay sinh,biết đúng như thật, xả giác chi đã sinh thì ghi nhớ khôngquên, không suy thoái, tu tập càng lúc càng tăng trưởng, biếtđúng như thật. Tỳ-kheo như vậy quán nội pháp đúng nhưpháp, quán ngoại pháp đúng như pháp, lập niệm tại pháp,có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheoquán pháp như pháp, nghĩa là quán Bảy giác chi.

NếuTỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào trụ Bốn niệm xứ thì lâu nhất trongvòng bảy năm, nhất định sẽ chứng được một trong haiquả: hoặc chứng Cứu cánh trí ngay trong hiện tại, hoặcchứng A-na-hàm nếu còn hữu dư. Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nàoluôn luôn trong từng khoảnh khắc lập tâm chánh trú nơi Bốnniệm xứ thì nếu buổi sáng thực hành như vậy, nhất địnhbuổi tối liền được thăng tiến. Nếu buổi tối thực hànhnhư vậy, nhất định sáng hôm sau sẽ được thăng tiến.

Trênlà phương pháp tu tập Bốn niệm trụ (xứ) quán được chúngtôi tóm lược đầy đủ từ trong kinh Niệm xứ văn hệ Hántạng thuộc Thinh văn thừa trong Trung A-hàm mà đức Đạo sưđã dạy cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni khi Ngài còn tại thế.Ở đây tuy đức Đạo sư chỉ dạy cho hàng xuất gia, nhưnghàng tại gia chúng ta cũng có thể tu tập phương pháp này,nếu mọi người nổ lực thực hành trong miên mật thì, sựthành công đối với chúng ta cũng không phải là chuyện khó.Vì đây, cũng chỉ là một phương pháp thiền định của hiệnquán tự thân mỗi chúng ta đối với cuộc sống mà thôi.

Ngoàira, nếu chúng ta muốn tìm hiểu rộng sâu hơn nữa thì chúngta cũng có thể tìm hiểu và y cứ vào Câu-xá luận quyển23 thì, pháp tu tập tứ niệm trụ lệ thuộc vào tự tướng(tướng riêng) và cọng tướng (tướng chung) y vào thứ tựbốn nơi thân, thọ, tâm và pháp mà quán chiếu; nhưng tronglãnh vực này mỗi phạm trù có tự tánh riêng của chúng.Như tự tánh của thân là bốn đại chủng sắc đã tạo ranó, còn cọng tướng là chỉ cho tánh cộng thông của cácpháp, tức là tánh của tất cả các pháp đều vô thường,khổ, không, vô ngã.

Vềthể của tứ niệm trụ thì mỗi phạm trù nó có ba loại,gọi là ba niệm trụ:

a/Tự tánh niệm trụ, còn gọi là tự tánh niệm xứ: Là dùngba tuệ văn, tư, tu làm thể thường quán sát thân, thọ, tâmvà pháp.

b/Tương tạp niệm trụ, còn gọi là cộng niệm xứ: Dùng tâm,tâm sở cùng với tuệ đồng lúc tồn tại làm thể, ở đâychỉ cho mọi tác dụng của tinh thần.

c/Sở duyên niệm trụ, còn gọi là duyên niệm xứ: Lấy tuệlàm đối tượng của sở duyên, tức chúng ta lấy bốn phạmtrù thân, thọ, tâm và pháp làm thể.

Quánpháp của tứ niệm trụ, chúng ta có thể phân ra làm hai loạibiệt tướng và tổng tướng:

1/Biệt tướng niệm trụ: là chỉ cho mỗi quán pháp riêng củatứ niệm trụ.

2/Tổng tướng niệm trụ: là chỉ cho quán pháp chung cho tứniệm trụ.

Hơnnữa trong tứ niệm trụ thì, ba phạm trù trước thuộc vềtạp duyên, còn pháp niệm trụ thứ tư thì, chung cho tạp duyêncùng không tạp duyên. Nên chỉ có quán pháp niệm trụ mớigọi là bất tạp duyên; đối với thân, thọ, tâm và phápthì, hoặc là hợp duyên quán hai phạm trù, hay ba phạm trù,hoặc hợp duyên quán chung cả bốn phạm trù thì, gọi làtạp duyên. Ở đây hành giả nếu tu tập tạp duyên pháp niệmtrụ thì, có thể vào được vị của tứ thiện căn, tứclà hành giả đã hòan thành phàm vị của mình để bắt đầuchuẩn bị đi vào Thánh vị của kiến đạo.

Vàcũng theo đại thừa A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận quyển 10thì, Tứ niệm trụ này chúng ta có thể theo thứ tự phốihợp với Tứ thánh đế: Tức là thân niệm trụ kết hợpvới khổ thánh đế, thọ niệm trụ có thể kết hợp vớitập thánh đế, tâm niệm trụ có thể kết hợp với diệtthánh đế và, pháp niệm trụ có thể kết hợp với đạothánh đế để quán sát trong việc thanh tu ba nghiệp thân khẩuý trừ khổ đạt vui trong hiện quán.

Tómlại, pháp quán Tứ niệm trụ, dù là Tiều thừa hay Đạithừa trên phương pháp, tức chỉ cho sự tướng tuy có cạnsâu, có nhanh có chậm, nhưng trên bình diện thể cứu cánhthì cũng như nhau. Hành giả sẽ đạt được cứu cánh nếunhững những nổ lực thực hành tu tập của chúng ta luônđặt trên chiều miên mật trong hiện quán thì chính như đứcĐạo sư đã dạy: “Luôn luôn trong từng khoảnh khắc lậptâm chánh trú nơi Bốn niệm xứ thì nếu buổi sáng thựchành như vậy, nhất định buổi tối liền được thăng tiến.Nếu buổi tối thực hành như vậy, nhất định sáng hôm sausẽ được thăng tiến.” Ở đây đức Đạo sư muốn nóiđến sự thăng tiến đạt đến kết quả của cứu cánh Niết-bànan vui giải thoát trong hiện quán.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/04/201321:22(Xem: 3921)
Đức Phật Dược Sư là Tôn chủ của thế giới Tịnh Độ Lưu Ly ở phương Đông, có danh xưng là Kim Cương Phật. Cúng dàng Đức Phật Dược Sư có thể tiêu trừ được hàng trăm bệnh, tiêu trừ nguyên nhân của căn bản phiền não.
30/10/201308:42(Xem: 21593)
Phật (Buddha) là một từ ngữ để chỉ người giác ngộ viên mãn. Ðức Thích Ca Mâu Ni (Sàkyãmuni) là người đã giác ngộ, nên chúng ta gọi Ngài là Phật. Giác ngộ là thấy biết mọi chân lý về vũ trụ và nhân sinh. Từ chỗ giác ngộ này, đức Phật chỉ dạy các môn đồ còn ghi chép lại thành Tạng kinh. Trong tạng kinh chứa đầy dẫy những chân lý, dù trải qua hơn 25 thế kỷ vẫn còn giá trị nguyên vẹn, không do thời gian làm suy giảm. Ngày nay chúng ta nghiên cứu Tạng kinh thật chín chắn, càng phát hiện những chân lý ấy gần gũi và thích hợp với khoa học một cách không ngờ. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới thiệu tổng quát vài nét cương yếu để đọc giả suy ngẫm.
13/03/202017:12(Xem: 4018)
Quyển "The Buddha and His Teachings" (Đức Phật và Phật Pháp) được ấn hành tại Sài gòn năm 1964 nhờ sự phát tâm bố thí của liệt vị Phật tử Việt Nam. Đạo hữu Phạm Kim Khánh, pháp danh Sunanda, đã dày công phiên dịch thiên khái luận nhỏ bé này ra tiếng mẹ đẻ với mục đích đáp lại phần nào lòng mong ước của những ai muốn hiểu Đức Phật và giáo lý của Ngài. Công đức này được hàng Phật tử Việt Nam ghi nhận. Trong hiện tình, nước Việt Nam không mấy được yên ổn. Bao nhiêu người đang đau khổ, về vật chất cũng như tinh thần. Không khí căng thẳng này quả không thích hợp với việc làm có tánh cách tinh thần và đạo đức
08/04/201311:55(Xem: 464)
Bản dịch quyển "The Buddha and His Teachings -- Đức Phật và Phật Pháp" được tu chỉnh và bổ túc lần thứ ba theo bản Anh ngữ cuối cùng của Ngài Narada, xuất bản ...
22/09/201009:55(Xem: 5032)
Ở trong chánh điện thờ Phật, chỉ có cái ý thờ Phật mà thôi, nhưng Phật có tam thân là Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. Cách bài trí các tượng Phật ở chánh điện theo đúng ý nghĩa ấy...
05/01/201112:41(Xem: 4516)
Giảithoát là một thắng đức trong ba đức của Phật: Pháp Thân,Bát Nhã, Giải thoát. Nếu như ba thắng đức ấy hoàn toànviên mãn thì gọi là Phật. Vậy nên giải thoát hoàn toànvà tuyệt đối là sự chung kết của Phật Đà, cũng là chỗxu hướng chung của mọi loài chúng sanh. Không những nhân loại mà loại nào cũng thế vì đang ở trong mê lầm đau khổ nênđều có quan niệm lánh khổ tìm vui, mong cầu giải thoát.Cũng vì vậy người đời thường gọi Đạo Phật là đạogiải thoát chung cho tất cả chúng sanh, hay gọi là tôn giáocủa chúng sanh đau khổ.
05/01/201520:19(Xem: 9821)
Các soạn và dịch phẩm của cư sĩ Hạnh Cơ - Tịnh Kiên - Mười Vị Đệ Tử Lớn Của Phật (dịch từ tác phẩm Thập Đại Đệ Tử Truyện, nguyên tác Hoa văn của Tinh Vân pháp sư, nhà xuất bản Phật Quang, Đài-bắc, ấn hành năm 1984) Chùa Khánh Anh (Paris) in lần 1, năm 1994 Tu viện Trúc Lâm (Edmonton) in lần 2, năm 1999 (có thêm phần “Phụ Lục” do dịch giả biên soạn) Ban Phiên Dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam (Nha-trang) in lần 3, năm 2004 Chùa Liên Hoa và Hội Cư Sĩ Phật Giáo Orange County (California) in lần 4, năm 2005 - Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 1996 Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam (California) in lần 2 (có bổ túc và sửa chữa), 2008 - Giấc Mộng Đình Mai của Nguyễn Huy Hổ (tiểu luận) Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 2001 - Bộ Giáo Khoa Phật Học (dịch từ bộ Phật Học Giáo Bản – sơ cấp, trung cấp, cao cấp – nguyên tác Hoa văn của Phương Luân cư sĩ, Linh Sơn Xuất Bản Xã, Đài-bắc, ấn hành năm 1996) * Giáo Khoa Phật Học
25/06/201100:00(Xem: 1266)
Người tại gia tu theo đạo Phật, thông thường được gọi là Cư Sĩ. Như thế nào là một vị Cư Sĩ ? có điều gì khác với người tại gia bình thường ? Phật giáo Trung Quốc, có rất nhiều người tín ngưỡng Phật giáo, nhưng cũng có nhiều người hiểu sai về giáo lý đức Phật, họ cho rằng: “ Các Tự Viện thờ cúng tượng Phật, Tăng Ni tụng kinh cho người chết, đánh chuông, gõ mõ, vv… chính là đại diện cho Phật giáo”. Vì thế, nhiều người đã nhận định Phật giáo là tiêu cực, là trốn tránh hiện thực. Kỳ thật, những điều này chỉ là nghi thức Phật giáo của người xuất gia và truyền thống Phật giáo đã bị biến chất theo phong tục tập quán. Tín đồ Phật giáo chia làm hai hạng người: Xuất Gia và Tại Gia. Bổn phận của người Xuất Gia là tu đạo, truyền đạo và duy trì Phật giáo, cho đến thực hiện tinh thần Bồ-tát nhập thế, còn bổn phận của người Tại Gia là ở bên ngoài hộ trì Phật giáo.
08/04/201311:49(Xem: 9335)
Đã hơn 3 năm qua,kể từ khi Cố Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Siêu,bậc Tôn sư của chúng tôi viên tịch, cuốn sách nhỏ này là tập thứ 5 sau 4 tập “Chữ nghiệp trong ...
16/10/201009:54(Xem: 1257)
Đạo Phật tồn tại trên thế gian cách đây hơn 2.500 năm. Ngoài nền tảng giáo lý vượt thời gian và không gian, thích ứng với cuộc sống con người trong giai đoạn mới thì yếu tố để hình thành nên phẩm chất đạo đức con người chính là sự góp phần bằng Đạo hạnh của người tu sĩ, mà công hạnh ấy được xây dựng trên nền tảng căn bản của giới luật.