Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

03. Tứ niệm trụ

19/02/201108:10(Xem: 4883)
03. Tứ niệm trụ

PHẬT PHÁPCĂN BẢN
ThíchĐứcThắng
BanTuThư Phật Học 2006

TỨNIỆM TRỤ
(catvārismṛty-upasthānāni)

Tứniệm trụ là hành phẩm thứ nhất trong bảy hành phẩm củaBa mươi bảy phẩm đạo: Một là Tứ niệm trụ, hai Tứ chánhcần, ba Tứ như ý túc, bốn Ngũ căn, năm Ngũ lực, sáu Thấtgiác phần, bảy Bát chánh đạo. Ở đây, Tứ Niệm trụ Phạnngữ gọi là catvāri smṛty-upasthānāni, Pāli gọi là cattārosati-paṭṭhānāni còn gọi là tứ niệm xứ, tứ ý chỉ, tứchỉ niệm, tứ niệm, thân thọ tâm pháp, nghĩa là Bốn phạmtrù thân, thọ, tâm và pháp là nơi để hành giả tập trungtâm niệm vào một trong bốn điểm này khi tu tập, với mụcđích là đề phòng và, đình chỉ những tạp niệm vọng tưởngkhởi lên. Đây là bốn loại phương pháp dùng để đạt chânlý trong pháp môn tu hành theo kinh điển Phật giáo Nguyên thỉmà đức Đạo sư đã chỉ dạy.

Hànhgiả lúc tu tập chỉ cần dùng tự tướng thân mình cùng nhữngcọng tướng khác mà quán sát thân này là bất tịnh, nhữngnhận lãnh (thọ) là khổ, tâm mình luôn luôn không thườnghay thay đổi, và các pháp thì luôn không có ngã nó chỉ làmột giả hợp. Vì sao hành giả phải quán sát như vậy? Vìchúng ta luôn bị bốn pháp này chi phối làm lệch lạc tưduy của chúng ta, nên lúc nào chúng ta cũng cho rằng thân nàylà trong sạch, mọi thứ thủ đắc có được của chúng tađối với cuộc sống mang lại vui sướng khóai lạc hạnhphúc, tâm của chúng ta thì lúc nào cũng vĩnh viễn thườnghằng bất biến và, các pháp giữa cuộc đời này là thậtcó, là ta là của ta. Từ những tư duy cố chấp lệch lạcnhư vậy đưa chúng ta đi đến những hành động tạo nhânnghiệp sai trái đưa đến quả khổ trong sinh tử luân hồi,nên để đối trị lại bốn thứ tà chấp điên đảo chorằng thân là trong sạch, thọ nhận là khoái lạc, tâm làthường hằng, các pháp (tâm và vật) là hữu ngã, nênđức Đạo sư đã dùng bốn pháp quán thân là bất tịnh,thọ nhận là khổ, tâm là vô thường, pháp là vô ngã đểphá trừ bốn thứ tà chấp điên đảo trên. Ở đây, niệmcó nghĩa là chúng ta quán sát có trí tuệ (tuệ quán); trụchỉ bốn nơi thân, thọ, tâm và, pháp phát sinh ra bất tịnh,khổ, vô thường, vô ngã. Khi hành giả dùng trí tuệ đểquán sát, tức là tâm niệm chúng ta có thể đình chỉ trụvào những chỗ này để tu tập.

Tứniệm trụ tức chỉ cho:

1.Thân niệm trụ (Skrt: kāya smṛty-upasthānāni; Pāli: kaye kāyanuppassiviharati ātāpi sampajāno satimā.) còn gọi là thân niệm xứ,tức là quán sát tự tướng của thân là bất tịnh, nhơ nhớp,và cùng lúc quán sát cộng tướng thân của chúng ta là vôthường là khổ đau, là không thật, là vô ngã để đốitrị lại các bệnh chấp điên đảo cho là thanh tịnh.

2.Thọ niệm trụ (Skrt: vedanā-smṛty-upasthāna; Pāli: vedanāsuvedanānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā.) còn gọi là thọniệm xứ, tức quán sát nguyên do đối trong việc hân hoanmong cầu hưởng lạc sẽ sinh ra ra khổ đau ngược lại, vàcũng đồng thời quán sát cộng tướng của nó là khổ đau,không thật hữu, để đối trị bệnh chấp điên đảo cholà lạc thú.

3.Tâm niệm trụ (Skrt: citta-smṛty-upasthāna; Pāli: citte cittānupassiviharati ātāpi sampajāno satimā.) còn gọi là tâm niệm xứ,tức quán sát tâm thường mong cầu của chúng ta luôn sinh diệtvô thường biến đổi, và quán sát mọi cộng tướng củachúng cũng như vậy, để đối trị bệnh chấp điên đảocho là thường hằng vĩnh viễn.

4.Pháp niệm trụ (Skrt: dharma-smṛty-upasthāna; Pāli: dhammesu dhammānupassiviharati ātāpi sampajāno satima.) còn gọi là pháp niệm xứ,tức là quán tất cả các pháp đều nương vào nhân duyênmà sinh khởi, nên sự hiện hữu của chúng là không có tựtánh, và tất cả những cộng tướng khác cũng được quánsát như vậy, để đối trị bệnh chấp ngã điên đảo.

TheoTrung A-hàm 24, (Đ. 1, tr. 582) thuộc Hán tạng thì, gọi là kinh Niệm xứ chứ không gọi là Niệm trụ. Bốn niệm xứlà tên gọi khác của niệm trụ. Bốn niệm xứ là quán thânnhư thân, quán thọ như thọ, quán tâm như tâm và quán phápnhư pháp.

Theođức Đạo sư dạy thì:

Quánthân như thân là Tỳ-kheo khi nào đi thì biết mình đang đi,khi nào đứng thì biết mình đang đứng, khi nào ngồi thìbiết mình đang ngồi, khi nào nằm thì biết mình đang nằm,khi nào ngủ thì biết mình đang ngủ, khi nào thức thì biếtmình đang thức, khi nào ngủ say thì biết mình đang ngủ say.

Biếtrõ chính xác khi vào khi ra, khi co khi duỗi, khi cúi khi ngẩng,oai nghi chững chạc, khéo khoác tăng-già-lê và cầm bát; đi,đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói năng, im lặng đều biếtrõ chính xác.

Khisanh niệm ác bất thiện, liền niệm điều thiện để đốitrị, đoạn trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ. Răng ngậm khít lại,lưỡi ấn lên khẩu cái, dùng tâm trị tâm, đối trị, đoạntrừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ.

Niệmhơi thở vào thì biết niệm hơi thở vào, niệm hơi thở rathì biết niệm hơi thở ra. Thở vào dài thì biết thở vàodài, thở ra dài thì biết thở ra dài. Thở vào ngắn thì biếtthở vào ngắn, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn. Học toànthân thở vào, học toàn thân thở ra. Học thân hành tĩnh chỉthở vào, học khẩu hành tĩnh chỉ thở ra.

Hỷlạc sinh do ly dục, thấm nhuần thân thể, phổ biến đầykhắp; biến trong thân thể không đâu không có. Như ngườihầu tắm, bỏ bột tắm đầy chậu, nước hòa thành bọt,nước thấm vào thân, phổ biến sung mãn, không đâu khôngcó. Cũng vậy, Tỳ-kheo có hỷ lạc do ly dục nhuần thấm thânthể, phổ biến đầy khắp; biến trong thân thể, hỷ lạcsanh nhờ ly dục không đâu không có. Tỳ-kheo có hỷ lạcnhờ định sanh, nhuần thấm thân thể, phổ biến dầy khắp;biến trong thân thể, hỷ lạc nhờ định sanh không đâu khôngcó. Cũng như suối trên núi, trong sạch không nhơ, nước từbốn phương chảy đến đổ vào tự nhiên, từ đáy suối,nước tự vọt lên, chảy tràn ra ngoài, thấm ướt cả núi,phổ biến đầy khắp, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheocó hỷ lạc nhờ định sanh thấm nhuần thân thể, phổ biếnđầy khắp; biến trong thân thể, hỷ lạc do định không đâukhông có.

Tỳ-kheocó lạc do ly hỷ nhuần thấm thân thể, phổ biến đầy khắp;biến trong thân thể, lạc sanh do ly hỷ không đâu không có.Như các thứ sen xanh, hồng, đỏ, trắng sanh ra từ nước,lớn lên trong nước, ở dưới đáy nước, rễ, hoa, lá, cọngthảy đều thấm nhuần, phổ biến đầy khắp, không đâukhông có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có lạc do ly hỷ nhuần thấmthân thể, phổ biến đầy khắp, biến trong thân thể, lạcdo ly hỷ không đâu không có.

Tỳ-kheoở trong thân này được biến mãn với tâm thanh tịnh, ý giải,thành tựu an trụ; ở trong thân này tâm thanh tịnh không đâukhông biến khắp. Như có một người trùm một cái áo rộngbảy hoặc tám khuỷu tay, từ đầu đến chân, thì khắp cảthân đều được phủ kín. Cũng vậy, Tỳ-kheo ở trong thânnày với tâm thanh tịnh, không đâu không có.

Tỳ-kheoniệm quang minh tưởng, khéo thọ trì, nhớ rõ điều niệm;như phía trước, phía sau cũng vậy; ngày cũng như đêm, đêmcũng như ngày; dưới cũng như trên, trên cũng như dưới. Nhưvậy tâm không điên đảo, tâm không bị ràng buộc, tâm tựsáng tỏ, không khi nào còn bị bóng đen che lấp.

Tỳ-kheokhéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, nhưngười ngồi quán sát kẻ nằm, rồi nằm quán sát kẻ ngồi.Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm,cũng giống như vậy.

Tỳ-kheotùy theo những chỗ trong thân, tùy theo tính chất tốt xấutừ đầu đến chân quán thấy thảy đều đầy dẫy bấttịnh: ‘Trong thân này của ta có tóc, lông, móng, răng, dadày, da non, thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già,ruột non, lá lách, dạ dày, phân, não và não căn, nước mắt,mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờmdãi, nước tiểu’. Như một cái bồn chứa đủ hạt giống,ai có mắt sáng thì thấy rõ ràng: ‘Đây là hạt lúa, hạtgạo, kia là hạt cải, cỏ, rau’. Cũng vậy, Tỳ-kheo tùy theonhững chỗ trong thân, tùy theo tính chất tốt xấu, từ đầuđến chân, quán thấy thảy đều đầy dẫy bất tịnh: ‘Trongthân này của ta có tóc, lông, móng, răng, da dày, da non, thịt,gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già ruột non, lá lách,dạ dày, phân, não và não căn, nước mắt, mồ hôi, nướcmũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờm dãi, nước tiểu’.Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm,cũng giống như vậy.

Tỳ-kheoquán sát giới trong thân rằng: ‘Trong thân này của ta cóđịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới,thức giới’. Như gã đồ tể mổ bò, lột hết bộ da, trảilên mặt đất, phân thành sáu đoạn. Cũng vậy, Tỳ-kheo quáncác giới trong thân rằng: ‘Trong thân này của ta có địagiới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thứcgiới’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớđiều niệm, cũng giống như vậy.

Tỳ-kheoquán xác chết, mới chết từ một hai ngày đến sáu bảyngày, đang bị quạ diều bươi mổ, sài lang cấu xé, hoặcđã hỏa thiêu, hay đã được chôn lấp, đang bị rửa náthư hoại. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đềucó những trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheokhéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũnggiống như vậy.

Tỳ-kheonhư từng thấy trong nghĩa địa, hài cốt xám xanh, rữa nátgần hết, xương vải khắp đất. Quán rồi tự so sánh: ‘Thânta cũng thế, đều có những trường hợp này, không sao tránhkhỏi,’ Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớđiều niệm, cũng giống như vậy.

Tỳ-kheonhư từng thấy trong nghĩa địa, da, thịt, máu, huyết tiêucả, chỉ còn xương dính gân. Quán rồi tự so sánh: ‘Thânta cũng thế, đều có trường hợp này, không sao tránh khỏi’.Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm,cũng giống như vậy.

Tỳ-kheonhư từng trong nghĩa địa thấy xương rời từng đốt, rảirác khắp nơi, xương chân, xương đùi, xương đầu gối, xươngbắp vế, xương sống, xương vai, xương cổ, xương sọ, mỗithứ một nơi. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đềucó những trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheokhéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũnggiống như vậy.

Tỳ-kheonhư từng thấy trong nghĩa địa, xương trắng như vỏ ốc,xanh như lông chim bồ câu, đỏ như màu máu, mục nát bể vụn.Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta rồi cũng thế, đều có nhữngtrường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheo khéo giữtướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống nhưvậy. Tỳ-kheo như vậy, những phương pháp quán trên là quánnội thân như thân; quán ngoại thân như thân; lập niệm tạithân, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi làTỳ-kheo quán thân như thân.

Quánthọ như thọ là Tỳ-kheo khi thọ nhận cảm giác lạc liềnbiết đang thọ nhận cảm giác lạc, khi thọ nhận cảm giáckhổ liền biết đang thọ nhận cảm giác khổ, khi thọ nhậncảm giác không lạc không khổ liền biết đang thọ nhậncảm giác không lạc không khổ. Khi thân thọ nhận cảm giáclạc, thân thọ nhận cảm giác khổ, thân thọ nhận cảm giáckhông lạc không khổ; khi tâm thọ nhận cảm giác lạc, tâmthọ nhận cảm giác khổ, tâm thọ nhận cảm giác không lạckhông khổ; cảm giác lạc khi ăn, cảm giác khổ khi ăn, cảmgiác không lạc không khổ khi ăn; cảm giác lạc khi không ăn,cảm giác khổ khi không ăn, cảm giác không lạc không khổkhi không ăn; cảm giác lạc khi có dục, cảm giác khổ khicó dục, cảm giác không khổ không lạc khi có dục; cảm giáclạc khi không có dục, cảm giác khổ khi không có dục, cảmgiác không lạc không khổ khi không có dục. Tỳ-kheo như vậy,quán nội thọ như thọ, quán ngoại thọ như thọ, lập niệmtại thọ, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọilà Tỳ-kheo quán thọ như thọ.

Quántâm như tâm là Tỳ-kheo có tâm tham dục thì biết đúng nhưthật có tâm tham dục, có tâm không dục thì biết đúng nhưthật là có tâm không dục. Khi có sân hay không sân, có sihay không si, có ô uế hay không ô uế, có hợp hay có tan, cóthấp hay có cao, có nhỏ hay có lớn; tụ hay không tụ, địnhhay không định, giải thoát hay không giải thoát. Cũng nhưvậy, có tâm giải thoát thì biết đúng như thật có tâm giảithoát; có tâm không giải thoát thì biết đúng như thật làcó tâm không giải thoát. Tỳ-kheo như vậy, quán nội tâm nhưtâm, lập niệm tại tâm, có tri, có kiến, có minh, có đạt.Như vậy là Tỳ-kheo quán tâm như tâm.

Quánpháp như pháp là Khi con mắt duyên sắc, sinh nội kết, nếuTỳ-kheo bên trong thật có kết thì biết đúng như thật làbên trong có kết; bên trong thật không có kết thì biết đúngnhư thật là bên trong không có kết. Nội kết chưa sinh, bâygiờ sinh, biết đúng như thật. Nội kết đã sinh và đượcđoạn trừ, không sinh lại nữa, biết đúng như thật. Vớitai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng giống như vậy. Khi ý duyênpháp, sinh nội kết, nếu Tỳ-kheo bên trong thật có kết thìbiết đúng như thật là bên trong có kết, bên trong không cókết thì biết đúng như thật là bên trong không có kết, nộikết chưa sinh bây giờ sinh; biết đúng như thật nội kếtđã sinh và đã được đoạn trừ, không sinh lại nữa, biếtđúng như thật.

Bêntrong thật có ái dục thì biết đúng như thật là đang cóái dục, bên trong thật không có ái dục thì biết đúng nhưthật là không có ái dục. Ái dục chưa sinh nay sinh, biếtđúng như thật. Ái dục đã sinh và đã được đoạn trừ,không sinh lại nữa, biết đúng như thật. Với sân nhuế,thùy miên, điệu hối và nghi cũng giống như vậy. Bên trongthật có nghi, biết đúng như thật là đang có nghi; bên trongthật không có nghi, biết đúng như thật là không có nghi.Nghi chưa sinh, nay đã sinh, biết đúng như thật. Nghi đã sinhvà đã được đoạn trừ, không sinh lại nữa, biết đúngnhư thật.

Bêntrong thật có niệm giác chi thì biết đúng như thật là cóniệm giác chi; bên trong thật không có niệm giác chi thì biếtđúng như thật là không có niệm giác chi. Niệm giác chi chưasinh nay sinh, biết đúng như thật. Niệm giác chi đã sinh thìghi nhớ không quên, không suy thoái, tu tập càng lúc càng tăngtrưởng, biết đúng như thật. Với trạch pháp, tinh tấn,hỷ, khinh an, định và xả cũng giống như vậy. Bên trong thậtcó xả giác chi thì biết đúng như thật là đang có xả giácchi, bên trong thật không có xả giác chi thì biết đúng nhưthật là không có xả giác chi. Xả giác chi chưa sinh nay sinh,biết đúng như thật, xả giác chi đã sinh thì ghi nhớ khôngquên, không suy thoái, tu tập càng lúc càng tăng trưởng, biếtđúng như thật. Tỳ-kheo như vậy quán nội pháp đúng nhưpháp, quán ngoại pháp đúng như pháp, lập niệm tại pháp,có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheoquán pháp như pháp, nghĩa là quán Bảy giác chi.

NếuTỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào trụ Bốn niệm xứ thì lâu nhất trongvòng bảy năm, nhất định sẽ chứng được một trong haiquả: hoặc chứng Cứu cánh trí ngay trong hiện tại, hoặcchứng A-na-hàm nếu còn hữu dư. Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nàoluôn luôn trong từng khoảnh khắc lập tâm chánh trú nơi Bốnniệm xứ thì nếu buổi sáng thực hành như vậy, nhất địnhbuổi tối liền được thăng tiến. Nếu buổi tối thực hànhnhư vậy, nhất định sáng hôm sau sẽ được thăng tiến.

Trênlà phương pháp tu tập Bốn niệm trụ (xứ) quán được chúngtôi tóm lược đầy đủ từ trong kinh Niệm xứ văn hệ Hántạng thuộc Thinh văn thừa trong Trung A-hàm mà đức Đạo sưđã dạy cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni khi Ngài còn tại thế.Ở đây tuy đức Đạo sư chỉ dạy cho hàng xuất gia, nhưnghàng tại gia chúng ta cũng có thể tu tập phương pháp này,nếu mọi người nổ lực thực hành trong miên mật thì, sựthành công đối với chúng ta cũng không phải là chuyện khó.Vì đây, cũng chỉ là một phương pháp thiền định của hiệnquán tự thân mỗi chúng ta đối với cuộc sống mà thôi.

Ngoàira, nếu chúng ta muốn tìm hiểu rộng sâu hơn nữa thì chúngta cũng có thể tìm hiểu và y cứ vào Câu-xá luận quyển23 thì, pháp tu tập tứ niệm trụ lệ thuộc vào tự tướng(tướng riêng) và cọng tướng (tướng chung) y vào thứ tựbốn nơi thân, thọ, tâm và pháp mà quán chiếu; nhưng tronglãnh vực này mỗi phạm trù có tự tánh riêng của chúng.Như tự tánh của thân là bốn đại chủng sắc đã tạo ranó, còn cọng tướng là chỉ cho tánh cộng thông của cácpháp, tức là tánh của tất cả các pháp đều vô thường,khổ, không, vô ngã.

Vềthể của tứ niệm trụ thì mỗi phạm trù nó có ba loại,gọi là ba niệm trụ:

a/Tự tánh niệm trụ, còn gọi là tự tánh niệm xứ: Là dùngba tuệ văn, tư, tu làm thể thường quán sát thân, thọ, tâmvà pháp.

b/Tương tạp niệm trụ, còn gọi là cộng niệm xứ: Dùng tâm,tâm sở cùng với tuệ đồng lúc tồn tại làm thể, ở đâychỉ cho mọi tác dụng của tinh thần.

c/Sở duyên niệm trụ, còn gọi là duyên niệm xứ: Lấy tuệlàm đối tượng của sở duyên, tức chúng ta lấy bốn phạmtrù thân, thọ, tâm và pháp làm thể.

Quánpháp của tứ niệm trụ, chúng ta có thể phân ra làm hai loạibiệt tướng và tổng tướng:

1/Biệt tướng niệm trụ: là chỉ cho mỗi quán pháp riêng củatứ niệm trụ.

2/Tổng tướng niệm trụ: là chỉ cho quán pháp chung cho tứniệm trụ.

Hơnnữa trong tứ niệm trụ thì, ba phạm trù trước thuộc vềtạp duyên, còn pháp niệm trụ thứ tư thì, chung cho tạp duyêncùng không tạp duyên. Nên chỉ có quán pháp niệm trụ mớigọi là bất tạp duyên; đối với thân, thọ, tâm và phápthì, hoặc là hợp duyên quán hai phạm trù, hay ba phạm trù,hoặc hợp duyên quán chung cả bốn phạm trù thì, gọi làtạp duyên. Ở đây hành giả nếu tu tập tạp duyên pháp niệmtrụ thì, có thể vào được vị của tứ thiện căn, tứclà hành giả đã hòan thành phàm vị của mình để bắt đầuchuẩn bị đi vào Thánh vị của kiến đạo.

Vàcũng theo đại thừa A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận quyển 10thì, Tứ niệm trụ này chúng ta có thể theo thứ tự phốihợp với Tứ thánh đế: Tức là thân niệm trụ kết hợpvới khổ thánh đế, thọ niệm trụ có thể kết hợp vớitập thánh đế, tâm niệm trụ có thể kết hợp với diệtthánh đế và, pháp niệm trụ có thể kết hợp với đạothánh đế để quán sát trong việc thanh tu ba nghiệp thân khẩuý trừ khổ đạt vui trong hiện quán.

Tómlại, pháp quán Tứ niệm trụ, dù là Tiều thừa hay Đạithừa trên phương pháp, tức chỉ cho sự tướng tuy có cạnsâu, có nhanh có chậm, nhưng trên bình diện thể cứu cánhthì cũng như nhau. Hành giả sẽ đạt được cứu cánh nếunhững những nổ lực thực hành tu tập của chúng ta luônđặt trên chiều miên mật trong hiện quán thì chính như đứcĐạo sư đã dạy: “Luôn luôn trong từng khoảnh khắc lậptâm chánh trú nơi Bốn niệm xứ thì nếu buổi sáng thựchành như vậy, nhất định buổi tối liền được thăng tiến.Nếu buổi tối thực hành như vậy, nhất định sáng hôm sausẽ được thăng tiến.” Ở đây đức Đạo sư muốn nóiđến sự thăng tiến đạt đến kết quả của cứu cánh Niết-bànan vui giải thoát trong hiện quán.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/11/2022(Xem: 505)
Đức Phật thuyết giảng giáo nghĩa Đại thừa vì tám lý do, được nêu lên ở trong bài kệ của Đại thừa trang nghiêm kinh luận: "Bất ký diệc đồng hành Bất hành diệc thành tựu Thể, phi thể, năng trị Văn dị bát nhân thành". Bài kệ này nêu lên tám lý do, tám bằng chứng kinh điển Đại thừa là do đức Phật nói chứ không phải là ai khác. Hàng Thanh văn không đủ khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Hàng Duyên giác không có khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Bồ tát cũng chưa đủ sự toàn giác để nói kinh điển Đại thừa. Còn đối với ngoại đạo thì đương nhiên không thể nói được một từ nào ở trong kinh điển Đại thừa. Có nhiều vị cố chấp, thiên kiến nói rằng kinh điển Đại thừa do ngoại đạo tuyên thuyết; nói như vậy là hồ đồ, không có luận cứ. Tu tập đến cỡ như hàng Thanh văn, hàng Duyên giác mà còn không nói được kinh điển Đại thừa thì làm gì cái đám ngoại đạo chấp ngã, chấp trước, chấp danh, chấp lợi mà nói được kinh điển Đại thừa. Cho nên nói kinh điển Đại thừa do ngoại đạo nói, đó
02/11/2022(Xem: 837)
Bấy giờ, tôi khoảng chín tuổi, một hôm đi xem đưa đám tang ông Võ Hờ trong xóm, thấy mọi người đi sau đám tang đều khóc nức nở và tức tối. Thấy họ khóc, tôi cũng khóc, nhưng bấy giờ tôi không biết tại sao tôi lại khóc như vậy.
31/10/2022(Xem: 599)
SOTAPATTI, quả vị Dự lưu, là cấp bậc đầu tiên trong bốn cấp bậc giác ngộ được đề cập trong Phật giáo Sơ kỳ. Tên gọi của quả vị nầy là từ ý nghĩa của một hành giả nhập vào dòng chảy không thối chuyển (sotāpanna, thánh Dự lưu) đưa đến giải thoát hoàn toàn. Dòng chảy nầy chính là đường thánh tám chi (Bát chi Thánh đạo, SN 55:5, kinh Sāriputta), là dòng sông hướng đến Niết-bàn cũng giống như sông Hằng chảy ra biển cả (SN 45:91, kinh Phương đông). Thời gian cần thiết để dòng sông nầy tiến đến mục tiêu tối hậu là tối đa bảy kiếp sống, không kiếp nào tái sinh trong cõi giới thấp hơn cõi người (SN 55:8, kinh Giảng đường bằng gạch).
29/10/2022(Xem: 1090)
Nhận tin nhắn trễ trên Viber sau khi đã ra khỏi nhà, và mãi đến trưa con mới trở về nên con chỉ nghe lại bài phỏng vấn này do TT Thích Nguyên Tạng có nhã ý cho chúng đệ tử học hỏi thêm giáo lý Phật Pháp trước khi Ngài trở về trú xứ Hoa Kỳ sau 3 tuần tham dự Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư và Lễ Mừng 32 năm Khai Sơn Tu Viện Quảng Đức, vào trước giờ có pháp thoại của Tổng Vụ Hoằng Pháp và Giáo Dục của Giáo Hội Úc Châu cùng ngày. Tuy nhiên với sự ngưỡng mộ của con đối với bậc cao tăng trí tuệ viên minh, diệu huyền thông đạt như Ngài, mà những lời Ngài trình bày qua những kinh nghiệm tu chứng hành trì, hạnh giải tương ưng thu thập được trong suốt hơn 46 năm qua đã khiến con phấn chấn tu tập hơn, hầu đạt được mục đích tối cao mà Đức Phật đã truyền trao nên con đã nghe lại đôi lần vào hôm nay để có thể uống được cam lồ qua những lời đáp trao đổi Phật Pháp. Thành kính tri ân TT Thích Nguyên Tạng và HT Thích Đồng Trí và kính xin phép cho con chia sẻ lại những gì con đã học được.
13/07/2022(Xem: 4167)
Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .
15/06/2022(Xem: 4121)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
23/03/2022(Xem: 1618)
Tác ý là sự quyết định của tâm. Tác ý có thể xấu hay tốt, thiện hay bất thiện. Tác ý sanh lên trong lúc nào? Tác ý có thể sanh lên từ cảm giác nhưng cũng có thể sanh lên từ sự suy tưởng hay suy nghĩ của mình. Như vậy, làm thế nào để biết chắc chắn đó là tác ý? Tác ý là một cảm giác mạnh sinh khởi trong một con người. cảm giác mạnh này thôi thúc người đó phải hành động để giải quyết vấn đề. Cảm giác này được coi là tác ý vậy...
10/12/2021(Xem: 2615)
Trong một kiếp nhân gian, mọi chúng sinh đều khởi đầu từ sinh và kết thúc ở diệt. Có sinh, phải có diệt. Diệt là chấm dứt để trở về với cát bụi, khép kín một vòng sinh lão bệnh tử. Tứ là sự chết, sự kết thúc. Trong Kinh Tử Pháp ( Tạp A Hàm, quyển 6, số 121, 雜阿含經 第6卷,一二一,死法), Phật dạy các đệ tử chánh tư duy về vô thường trong sinh tử để không dính mắc, không chấp giữ mà đạt đến giác ngộ Niết Bàn.
27/11/2021(Xem: 1695)
Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938 – 2003) đã để lại nhiều tác phẩm lớn, vừa có giá trị Phật học, vừa có giá trị văn học. Một tác phẩm trong những tháng cuối của cuộc đời Ni Trưởng là tập thơ Ngọa Bệnh Ca, được sáng tác trong thời gian nằm bệnh vào đầu năm 2003. Rồi cuối năm 2003, Ni Trưởng tử nạn trong một tai nạn giao thông. Bài viết nảy sẽ ghi lại những suy nghĩ về bài thơ “Người Gỗ” trong thi tập Ngọa Bệnh Ca của Ni Trưởng. Trong bài chỉ là các suy nghĩ rời, từ một người không có thẩm quyền nào, cả về Phật học và văn học.
24/11/2021(Xem: 2117)
Tôi nhớ lại có lần Nữ cư sĩ Clair Brown, Giáo sư Tiến sĩ từ Trường đại học California – Berkeley (UC Berkeley) đã đề cập với tôi về một thứ gọi là “Kinh tế học đạo Phật” (Buddhist economics).
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,283,539