Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

07. Thất giác chi

19/02/201108:10(Xem: 3321)
07. Thất giác chi

PHẬT PHÁPCĂN BẢN
ThíchĐứcThắng
BanTuThư Phật Học 2006

THẤTGIÁC CHI
(Saptabodhyaṅgāni)

Thấtgiácchi là hành pháp thứ sáu thuộc bảy hành pháp trong bamươi bảy phẩm trợ đạo. Thất giác chi còn gọi là ThấtBồ-đề phần, Thất đẳng giác chi, Thất biến giác chi, Thấtgiác phần, Thất giác ý, Thất giác chí, Thất giác chi pháp... Thất giác chi (Saptabodhyaṅgāni): Sapta ở đây là chỉ chosố bảy thuộc về số điếm; Bodhy có nghĩa là giác ngộ,tỏ rõ, hiều rõ; aṅgāni là chỉ cho chi phần. Vậy theo nguyênngữ của Saptabodhyaṅgāni thì được định nghĩa như là bảypháp có khả năng làm trợ duyên trong việc triển khai trítuệ giác ngộ cho hành giả để đạt đến Niết-bàn an vuigiải thóat.

ThấtGiác chi cũng là một hành pháp rất quan trọng đối với việctrợ duyên cho việc đưa hành giả từ chỗ khổ đau đếnchổ an vui giải thóat, sự quan trọng của nó không kém gìcác hành pháp trên. Ở đây qua bảy pháp giác chi này chúngta thấy có những pháp trùng hợp với những chi tiết củacác hành pháp trên như: Niệm, tinh tấn, định giác chi chúngđã từng hiện diện trong những hành pháp trên .... Nhưng vìchúng mang tính phổ quát, nên sự cần thiết của chúng trongmỗi hành pháp không thể không có được, nên sự hiện diệncủa chúng trở thành cần thiết cho mỗi hành pháp nói riêngvà cho tính phổ quát của chúng nói riêng. Vì vậy, nên đểtùy theo từng loại căn cơ của các hữu tình chúng sanh mà,đức Đạo sư chế ra nhiều hành pháp để làm trợ pháp trongphương pháp tu tập cho hành giả; vì nếu trong mỗi hành phápmà thiếu chúng thì sẽ không hiện khởi để đưa đến việcthành tựu trong tu tập của hành giả và, sẽ không đưa đếnkết quả như chúng ta mong đợi được; nên để tùy căn cơtừng người, hành giả hợp với pháp môn nào theo tên gọicủa các hành pháp thì, có thể theo đó mà tu tập; tuy đứngvề chi tiết có khác nhau, nhưng trên đại thể, về nội dungthì có nhiều chỗ giống nhau. Vì vậy, nên chúng ta sẽ thấytrong pháp môn “Thất giác chi" có nhiều chi tiết giống nhưcác chi tiết trong các hành pháp khác; không những các chi tiếtriêng trong hành pháp Thất giác chi tự chúng đã có sự sắpxếp vị trí khác nhau như trong Kinh-luận Đại tạng. Theo KinhTạp A-hàm 26, Kinh Phật thuyết Đại thừa tuỳ chuyển tuyênthuyết chư pháp quyền 2 (T. 15, p. 0777b) và Luận A-tỳ-đạt-maUẩn Túc quyển 9 (T.26, p. 494c) thì sự sắp xếp các chi tronghành pháp giống nhau, nhưng trong một số kinh-luận khác lạicó sự sắp xếp khác nhau về vị trí. Có lẽ đây cũng làdo sự sắp xếp tuỳ theo căn cơ đối tượng người nghe hay,đó là sự sắp xếp theo các quan điểm phát triển sau nàycủa Phật giáo qua các bộ phái. Ở đây người viết theosự sắp xếp của một số đông Kinh-Luận và, theo tiến trìnhhợp logic của tư tưởng mà giải thích chúng. Theo kinh TạpA-hàm 26 kinh 707 trang, 189c đức Đạo sư đã tóm tắc chứcnăng công hiệu của hành pháp Thất giác chi trong việc đốitrị những thối thất, chướng ngại che phủ tâm hành giảtrong lúc thực hành tu tập, đức Phật dạy:

“Cónăm chướng, năm cái, phiền não nơi tâm, có thể làm sútgiảm trí tuệ và làm phần chướng ngại, chẳng phải minh,chẳng phải chánh giác, chẳng chuyển hướng Niết-bàn. Nhữnggì là năm? Đó là tham dục cái, sân cái, thùy miên cái, trạohối cái, nghi cái. Năm cái này là che kín, là bao phủ, phiềnnão ở tâm, khiến cho trí tuệ bị suy giảm, là phần chướngngại, chẳng phải minh, chẳng phải đẳng giác, chẳng chuyểnhướng Niết-bàn.

“Nếulà bảy Giác chi, thì chẳng che kín, chẳng bao phủ, chẳngphiền não nơi tâm, tăng trưởng trí tuệ, là minh, là chánhgiác, chuyển hướng Niết-bàn.

Nhữnggì là bảy? Đó là Niệm giác chi, Trạch pháp giác chi, tinhtấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi,Xả giác chi. Như bảy Giác chi này chẳng che kín, chẳng baophủ, chẳng phiền não nơi tâm, tăng trưởng trí tuệ, làminh, là chánh giác, chuyển hướng Niết-bàn.”

Quanhững lời dạy trên thì hành pháp Thất giác chi trên tínhphổ quát của giá trị có những khả năng không những chỉđối trị các bệnh như che kín, bao phủ, tạo phiền não nơitâm mà, còn làm tăng trưởng trí tuệ, chuyển hướng hànhgiả đến Niết-bàn nữa. Và tiếp theo đức Đạo sư đưara những kết quả của giá trị thực tiễn khi hành giả thựchành Thất giác chi này, theo thứ tự trước sau để loạibỏ từ từ tất cả những pháp vô minh cấu uế làm mê mờchướng ngại hành giả trong bước đường tiến đến thanhtịnh giải thóat như Kinh 711 trong Tạp A-hàm 26 đức Đạosư đã dạy Vương tử Vô Úy:

“NếuBà-la-môn nào có một niệm thù thắng, quyết định thànhtựu; những việc đã làm từ lâu, những lời nói từ lâu,có thể tùy theo nhớ nghĩ, ngay lúc ấy tu tập Niệm giác chi.Khi Niệm giác chi đã tu tập rồi, thì niệm giác đầy đủ.Khi niệm giác đã đầy đủ rồi, thì có sự lựa chọn, phânbiệt, tư duy, lúc bấy giờ tu tập Trạch pháp giác chi. Khiđã tu tập Trạch pháp giác chi rồi, thì trạch pháp giác đầyđủ. Khi đã lựa chọn, phân biệt, suy lường pháp rồi, thìsẽ nỗ lực tinh tấn; ở đây, tu tập Tinh tấn giác chi. Khiđã tu tập Tinh tấn giác chi rồi, thì tinh tấn giác đầyđủ. Khi đã nỗ lực tinh tấn rồi, thì hoan hỷ sẽ sanh,xa lìa các tưởng về thức ăn, tu hỷ giác chi. Khi đã tu Hỷgiác chi rồi, thì hỷ giác đầy đủ. Khi Hỷ giác chi đãđầy đủ rồi, thì thân và tâm khinh an; lúc ấy tu Khinh angiác chi. Khi đã tu Khinh an giác chi rồi, thì khinh an giác sẽđầy đủ. Khi thân đã khinh an rồi, thì sẽ được an lạcvà khi đã an lạc rồi thì tâm sẽ định; khi ấy tu Địnhgiác chi. Khi đã tu Định giác chi rồi, thì định giác sẽđầy đủ, Khi định giác chi đã đầy đủ rồi, thì thamái sẽ bị diệt và tâm xả sanh ra; khi ấy tu Xả giác chi.Khi đã tu Xả giác chi rồi, thì xả giác sẽ đầy đủ. Nhưvậy, này Vô Úy, vì nhân này, duyên này mà chúng sanh thanhtịnh.”

Ởtrên theo đức Đạo sư thì, khi hành giả tu tập Thấtgiác chi theo thứ tự thì những kết quả chúng sẽ theo saunhững thực hành đó. Nếu hành giả tu tập thực hành mộtcách liên tục miên mật không gián đọan đầy đủ rồi thìtheo đó chúng ta sẽ đạt được những kết quả như mongmuốn ngay trong hiện tại. Nhưng cũng có một số kinh-luậnmỗi giác chi trong Thất giác chi có giá trị của riêng chínhnó trong việc thực hành chứ không cần phải thực hành hếtbảy giác chi theo thứ tự mới đưa đến kết quả như trongkinh Tạp A-hàm ở trên. Theo kinh Phật thuyết pháp thừa nghĩaquyết định 2, T. 17, p. 0657b đức Đạo sư dạy:

Thếnào là Thất giác chi? Phật dạy: Đó là Trạch pháp giác chi,niệm giác chi, tinh tấn giác chi, khinh an giác chi, định giácchi, xả giác chi, hỷ giác chi.

Thếnào là trạch giác chi? Là đối với các pháp, mà cóthể lựa chọn, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt,nhiếp phục tranh cãi.

Thếnào là niệm giác chi? Đối các pháp, chánh niệm tu tập,y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt, nhiếp phụctranh cãi.

Thềnào là định giác chi? Là thường phát khởi diệu huệ thanhtịnh, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch diệt, nhiếpphục tranh cãi.

Saogọi là tinh tấn giác chi? Đối với việc hành thiện, siêngnăng không giải đãi, y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịchdiệt, nhiếp phục tranh cãi.

Thếnào là khinh an giác chi? Đối với các pháp xa lìa thô trọng,điều phục thân tâm, y chỉ ly dục, y chỉ tư duy, y chỉ tịchdiệt, nhiếp phục tranh cãi.

Thếnào là xả giác chi? Đối với các pháp xa lìa phóng dật,khiến tâm tịch tịnh; y chỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉtịch diệt, nhiếp phục tranh cãi.

Thếnào là hỷ giác chi? Đối với các pháp mà sinh hỷ thọ, ychỉ tư duy, y chỉ ly dục, y chỉ tịch tịnh, nhiếp phụctranh cãi.

QuaKinh này cho chúng ta thấy sự sắp xếp các chi của chúng khônggiống như thứ tự của một số kinh luận khác. Mặc khácchúng cũng tự hòan thành kết quả cho chính cách tu tập củatự chúng. Còn theo A-tỳ-đạt-ma Uẩn túc luận 9, thì sựliên hệ chi tiết giữa các hành pháp trong Ba mươi bảy phẩmtrợ đạo là cần thiết vì tính phổ quát của chúng nênở đây, trong hành pháp Thất giác chi vẫn sử dụng các phápniệm, tinh tấn, định như những pháp đã được trình bàytrong các hành pháp trước, để nhờ đó làm pháp đối trịtùy theo những chi tiết cần thiết của chúng mà ứng dụng.Theo những lời dạy của đức Đạo sư.

1/Niệm giác chi (: Theo A-tỳ-đạt-ma Uẩn túc luận 9 thìNiệm giác chi trong Thất giác chi, khi hành giả muốn tu tậpthì phải dùng đến pháp quán Tứ niệm trụ (Tứ niệm xứ),Theo đức Đạo sư thì đệ tử của bậc Thánh đối trongthân, ngoài thân, trong ngoài thân phải trụ vào thân mà quán.Nếu ở đây chánh cần, chánh tri, chánh niệm đầy đủ thì, sẽ trừ được tham ưu thế gian, cùng nội ngoại của Thọ,tâm, pháp cũng đầy đủ như thân thì, sẽ có được sựtương ưng giữa vô lậu và tác ý. Các niệm theo niệm, chuyênniệm, ức niệm, không quên không mất, không trái, không lọt,không mất pháp tánh, tâm sáng tánh ghi nhớ, tất cả nói chungđều là niệm, cũng gọi là niệm căn, cũng gọi là niệmlực, cũng gọi là giác chi, cũng gọi là chánh niệm, chúngcó khả năng chấm dứt khổ. Các bậc hữu học đối vớicác hành như sở kiến của mình mà tư duy quán sát sẽ đạtcứu cánh, đối trong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối niết-bànvĩnh viễn thấy rõ công đức. Nếu là A-la-hán cùng tâm giảithóat, tư duy qúan sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có đượcsự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, các niệm tùy niệm,cho đến tâm minh, tánh nhớ đó gọi là Niệm giác chi. Khihành giả đã nhờ Tứ niệm trụ quán sát thân, thọ, tâmvà pháp trong ngoài bằng vào chánh cần chánh tri, chánh niệmbiết rõ được bộ mặt thật của các pháp, nên vấn đềtu tập phải có sự lựa chọn tiếp theo đó trong pháp tu củahành giả.

2/Trạch pháp giác chi: Tiếp theo là đệ tử của bậcThánh, phải thường biết như thật pháp nào thiện, pháp nàobất thiện; pháp nào có tội, pháp nào không tội; pháp nàođáng tu, pháp nào không đáng tu; pháp nào hạ liệt, pháp nàothắng diệu; pháp nào đen, pháp nào trắng; pháp đối địch,pháp duyên sinh. Nếu ở đây hành giả biết tất cả pháplà như thật, pháp nào thiện, pháp nào bất thiện cho đếnpháp duyên sinh thì sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậuvà tác ý; đối với sự lựa chọn đến chỗ kỳ cùng, khôngcòn lựa chọn được nữa; hiểu rõ, tỏ gần tỏ xa, thôngđạt tất cả, quán sát thông tuệ, tuệ hạnh sáng tỏ, gọichung là tuệ, cũng gọi là tuệ căn, cũng gọi là tuệ lực,cũng gọi là trạch pháp giác chi, cũng gọi là chánh kiến.Đối với Thánh đệ tử chúng có khả năng diệt hết khổ;đối với các hàng hữu học các hành như sở kiến của mìnhmà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong các hànhthấy rõ lỗi lầm, đối niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ côngđức. Nếu là A-la-hán cùng tâm giải thóat, tư duy quán sát,khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữavô lậu và tác ý, đối các pháp lựa chọn, cho đến Tỳ-bát-xa-na(vipaśyanā: quán pháp) là dùng trí tuệ nhất tâm quán pháp,đó gọi là Trạch pháp giác chi. Sau khi hành giả đã lựachọn pháp tu cho mỗi người rồi thì, cần phải có sự siêngnăng nổ lực trong pháp tu của mình.

3/:Tinh tấn giác chi: Tiếp đến đệ tử bậc Thánh, saukhi đã biết lựa chọn, biết pháp nào thiện pháp nào ácrồi trong thực hành chỉ ác hành thiện thì phải tinh tấndùng phương pháp Tứ chánh cần để tu tập. Vì muốn đọantrừ các pháp ác, bất thiện đã sinh ra, nên siêng năng tinhtấn kiểm sóat tâm, giữ gìn tâm. Vì muốn cho cácpháp ác bất thiện chưa sinh sẽ không sinh, nên phải khởilòng siêng năng tinh tấn kiểm sóat tâm, giữ gìn tâm. Vì muốnpháp lành chưa sinh khiến sinh, nên phải khởi lòng siêng năngtinh tấn trong việc khởi lên ý nghĩ nên hay không nên và,đem áp dụng vào trong việc làm nên hay không nên trong việckiểm sóat tâm và giữ gìn tâm. Vì muốn những việc thiệnđã phát sinh trong việc nuôi lớn vững bền thêm không khiếntâm quên, và muốn làm tăng trưởng rộng lớn trí tuệ tácchứng nên hành giả phát khởi lòng mong muốn siêng năng nổlực tinh tấn kiểm sóat tâm mình, giữ gìn tâm mình lúc nàocũng thanh tịnh. Khi hành giả theo pháp tu Tứ chánh cần thìsẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý; nhữngnổ lực tinh tấn, mạnh mẽ, kiên cường, hừng hực khó kiềm,gắng ý không dừng, tất cả đều gọi là tinh tất cả, cũnggọi là tinh tấn căn, cũng gọi là tinh tấn lực, cũng gọilà tinh tấn giác chi, cũng gọi là chánh cần. Đối với Thánhđệ tử chúng có khả năng diệt hết khổ; đối với cáchàng hữu học, các hành như sở kiến của mình mà tư duyquán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong các hành thấy rõlỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công đức. Nếulà A-la-hán cùng tâm giải thóat, tư duy qúan sát, khiến đạtcứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậu vàtác ý, mọi nổ lực tinh tấn, cho đến gắng ý không dừngnghỉ, đó gọi là Tinh tấn giác chi.

4/Hỷ giác chi:Khi Thánh đệ tử đã nổ lực tinh tấnthực hành những pháp mà mình đã chọn rồi qua chỉ ác hànhthiện rồi nhờ lúc cùng nhau niệm Phật như vậy thì thamkhông trói buộc tâm, sân không trói buộc tâm, si không tróibuộc tâm. Đối với Như lai, tâm hành giả ngay thẳng thìsẽ đạt được nghĩa và pháp oai thế; đối với Như laicó khả năng dẫn khởi hân hoan, nhờ hân hoan nên sinh tâmhoan hỉ; khi được hoan hỉ thì thân an; thân an thì sẽ hưởnglạc; được an lạc nên tâm định. Khi tâm hành giả địnhrồi thì đối với các loài hữu tình không bình đẳng sẽtrụ vào bình đẳng, đối với các loài hữu tình có nãohại sẽ trụ vào không não hại và, sẽ được dự vào dòngpháp mà tu tập tùy theo niệm đối với chư Phật, cho đếntác chứng cứu cánh Niết-bàn.

Lạinữa hành giả khi cùng nhau niệm chánh pháp, tức là chỉ chochánh pháp của Phật khéo nói hiện tại, mát mẻ đúng thời,hướng dẫn trực quán khiến bậc trí giả nội chứng; hànhgiả nhờ đó lúc cùng nhau niệm pháp như vậy thì tham khôngtrói buộc tâm, sân không trói buộc tâm, si không trói buộctâm. Đối với chánh pháp tâm hành giả ngay thẳng, nhờ tâmngay thẳng nên được nghĩa và pháp oai lực; đối với chánhpháp có khả năng dẫn khởi hớn hở, nhờ hớn hở nên sinhtâm hoan hỉ; nhờ hoan hỉ nên thân an; nhờ thân an nên hưởnglạc; nhờ an lạc nên tâm định. Khi tâm hành giả định rồithì đối với các loài hữu tình không bình đẳng sẽ trụvào bình đẳng, đối với các loài hữu tình có não hạisẽ trụ vào không não hại và, sẽ được dự vào dòng pháp.Đối với chánh pháp, nhờ tu tập tùy niệm nên cho đến cóthể tác chứng cứu cánh Niết-bàn.

Lạinữa, hành giả khi cùng nhau niệm Tăng già, tức là chỉ chođệ tử của đức Phật đã thọ cụ túc giới, đầy đủdiệu hạnh, hành động chất trực, thực hành như lý, thựchành pháp theo pháp Phật dạy, thực hành hòa kính. Hơn nữađệ tử của Phật có hướng đến dự lưu, có quả dự lưu,có quả nhất lưu, có hướng đến không trở lại (bất hòan),có quả bất hòan, có hướng đến A-la-hán, có quả a-la-hán.Như vậy gồm có Tứ song, Bát chích, Bổ-đặc-già-la. Cũngvậy Tăng già, đầy đủ giới, đầy đủ định, đầyđủ tuệ, đầy đủ giải thóat, đầy đủ giải thóat trikiến, đáng thỉnh đáng đê đầu, đáng cung kính ruộng phướcvô thượng, nơi đởi nên cúng dường. Đệ tử của bậcThánh nhờ lúc cùng nhau niệm Tăng như vậy thì tham không tróibuộc tâm, sân không trói buộc tâm, si không trói buộc tâm.Đối với Tăng già tâm hành giả ngay thẳng, nhờ tâm ngaythẳng nên được nghĩa và pháp oai lực; đối với chánh phápcó khả năng dẫn khởi hớn hở, nhờ hớn hở nên sinh tâmhoan hỉ; nhờ hoan hỉ nên thân an; nhờ thân an nên hưởnglạc; nhờ an lạc nên tâm định. Khi tâm hành giả định rồithì đối với các loài hữu tình không bình đẳng sẽ trụvào bình đẳng, đối với các loài hữu tình có não hạisẽ trụ vào không não hại và, sẽ được dự vào dòng pháp.Đối với Tăng già nhờ tu tập tùy niệm, nên cho đến cóthể tác chứng cứu cánh Niết-bàn.

Lạinữa, hành giả khi cùng nhau niệm giới, tức là chỉ cho hànhgiả giữ giới thanh tịnh, không khuyết không thủng, khôngtạp không nhơ, có thể nhận sự cúng dường không rõ ràng,khéo cứu cánh, khéo thọ trì, được người trí khen ngợi,thường không hủy báng. Đệ tử bậc Thánh nhờ lúc cùngnhau niệm giới như vậy thì tham không trói buộc tâm, sânkhông trói buộc tâm, si không trói buộc tâm. Đối với giớitâm hành giả ngay thẳng; nhờ tâm ngay thẳng nên được nghĩavà pháp oai lực; đối với chánh pháp có khả năng dẫn khởihớn hở, nhờ hớn hở nên sinh tâm hoan hỉ; nhờ hoan hỉnên thân an; nhờ thân an nên hưởng lạc; nhờ an lạc nêntâm định. Khi tâm hành giả định rồi thì đối với cácloài hữu tình không bình đẳng sẽ trụ vào bình đẳng, đốivới các loài hữu tình có não hại sẽ trụ vào không nãohại và, sẽ được dự vào dòng pháp. Đối với giới nhờtu tập tùy niệm, nên cho đến có thể tác chứng cứu cánhNiết-bàn.

Lạinữa, hành giả khi cùng nhau niệm Bố thí, tức là hiện tạihành giả khéo được thắng lợi, tuy sống vô lượng nơicáu bẩn triền phược trong chúng sanh, nhưng tâm xa lìa tấtcả cáu bẩn, có thể thực hành bố thí. Tuy ở tại gia, nhưngcó thể không đắm nhiễm vào của cải châu báu; ra tay bốthí, làm tế tự lớn, cúng dường ruộng phước, ban ân đầyđủ, ban vui khắp cả. Đệ tử bậc Thánh nhờ lúc cùng nhauniệm bố thí như vậy thì tham không trói buộc tâm, sân khôngtrói buộc tâm, si không trói buộc tâm. Đối với giới tâmhành giả ngay thẳng; nhờ tâm ngay thẳng nên được nghĩavà pháp oai lực; đối với bố thí có khả năng dẫn khởihớn hở, nhờ hớn hở nên sinh tâm hoan hỉ; nhờ hoan hỉnên thân an; nhờ thân an nên hưởng lạc; nhờ an lạc nêntâm định. Khi tâm hành giả định rồi thì đối với cácloài hữu tình không bình đẳng sẽ trụ vào bình đẳng, đốivới các loài hữu tình có não hại sẽ trụ vào không nãohại và, sẽ được dự vào dòng pháp. Đối với bố thínhờ tu tập tùy niệm, nên cho đến có thể tác chứng cứucánh Niết-bàn.

Lạinữa, hành giả khi cùng nhau niệm chư Thiên, tức là chỉ choTứ đại vương chúng thiên, trời Ba mươi ba, Dạ-ma-thiên,Đổ-sử-đa thiên, Lạc biến hóa thiên, Tha hóa tự tại thiên.Chư thiên như vậy, thành tựu tín, giới, văn, xả, tuệ nênmất từ chỗ này được sinh về những cõi trời kia hưởngmọi sự khoái lạc. Hành giả chúng ta cũng có tín, giới,văn, xả, tuệ, cũng sẽ được sinh về những chỗ kia, cùngcác thiên chúng đồng hưởng khoái lạc. Các hành giả đệtử của bậc Thánh nhờ cùng nhau niệm Thiên như vậy thìtham không trói buộc tâm, sân không trói buộc tâm, si khôngtrói buộc tâm. Đối với giới tâm hành giả ngay thẳng; nhờtâm ngay thẳng nên được nghĩa và pháp oai lực; đối vớichư thiên có khả năng dẫn khởi hớn hở, nhờ hớn hở nênsinh tâm hoan hỉ; nhờ hoan hỉ nên thân an; nhờ thân an nênhưởng lạc; nhờ an lạc nên tâm định. Khi tâm hành giảđịnh rồi thì đối với các loài hữu tình không bình đẳngsẽ trụ vào bình đẳng, đối với các loài hữu tình cónão hại sẽ trụ vào không não hại và, sẽ được dự vàodòng pháp. Đối với chư thiên nhờ tu tập tùy niệm, nêncho đến có thể tác chứng cứu cánh Niết-bàn. Hành giảlúc tu tập lục tùy niệm như vậy rồi thì sẽ được sởhữu tương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm hân hoan tột cùng,hân hoan hiện hữu, tính loại hân hoan, thích ý vui ý; tínhloại hoan hỷ vui hòa hợp không còn phân biệt ... tất cảgọi chung đều là hỉ, cũng gọi là hỉ giác chi. Đối vớiThánh đệ tử chúng có khả năng diệt hết khổ; đối vớicác hàng hữu học, các hành như sở kiến của mình mà tưduy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trong các hành thấyrõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấy rõ công đức.Nếu là A-la-hán cùng tâm giải thóat, tư duy qúan sát, khiếnđạt cứu cánh và sẽ có được sự tương ưng giữa vô lậuvà tác ý, tâm hoan hỉ tột cùng, cho đến tánh hoan hỉ thìđó gọi là Hỉ giác chi.

5/Khinh an giác chi: Tiếp tục hành giả nhờ tâm tánh hoanhỉ đang hiện có, hành giả nhập vào sơ thiền, ngôn ngữlúc bấy giờ dừng nghỉ. Nhờ duyên này mà các pháp kháccũng yên nghỉ, đó gọi là trạng thái thuận khinh an thứnhất; khi nhập vào đệ nhị thiền, tầm và từ (giác, quán)yên nghỉ, nhờ duyên này mà các pháp khác cũng yên nghỉ,đó dọi là trạng thái thuận khinh an thứ hai; khi hành giảnhập vào đệ tam thiền; các hỉ ở đây bấy giờ cũng yênnghỉ, nhờ duyên này các pháp khác cũng lặng yên, đó làtrạng thái thuận khinh an thứ ba; khi nhập vào đệ tứ thiền,hơi thở ra vào lặng yên, nhờ duyên này các pháp khác cũngan nghỉ, đó là trạng thái thuận khinh an thứ tư; tiếp tụclúc nhập vào diệt thọ tưởng định, ở đây tưởng thọvắng bặt nhờ duyên này mà các pháp khác cũng không hiệnhữu, đó gọi là trạng thái thuận khinh an thứ năm và, cũngcó khinh an thượng diệu thứ sáu là tối thắng tối thượng.Khinh an này là tối thượng tói diệu không có khinh an nàokhác vượt qua nó. Vì sao vậy? Vì tâm từ tham lìa nhiễm màgiải thóat và, từ sân, si lìa khỏi nhiễm mà giải thóat,nên gọi đây là trạng thái thuận khinh an thứ sáu. Hành giảtư duy về trạng thái này thì sẽ sở hữu được mọi sựtương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm nhẹ nhàng, tánh nhẹnhàng loại nhẹ nhàng, gọi chung là khinh an, cũng gọi là khinhan giác chi. Đối với Thánh đệ tử chúng có khả năng diệthết khổ; đối với các hàng hữu học, các hành như sởkiến của mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đốitrong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễnthấy rõ công đức. Nếu là A-la-hán cùng tâm giải thóat,tư duy qúan sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sựtương ưng giữa vô lậu và tác ý; thân, tâm, tính, loại khinh an, đó gọi là khinh an giác chi.

6/Định giác chi: Khi hành giả nhờ vào sơ thiền, nhịthiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biênxứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ và Diệttận định thì sẽ diệt trừ tận gốc rễ của các lậu.Vì khi hành giả an trú vào sơ thiền thì trước hết nhờvào tướng trạng các hành mà xa lìa pháp dục ác bất thiện,có tầm có từ và, nhờ xa lìa này mà hỉ lạc sinh ra. Nếuở sơ thiền mà hành giả an trụ đầy đủ thì hành giảsẽ không còn tư duy về tướng trạng các hành nữa mà chỉtư duy về chỗ đạt được, chỗ hướng về sắc, thọ, tưởng,hành và, thức mà thôi. Ở đây các pháp này não hại chúngsanhnhư là bệnh họan, như ung nhọt, như tên độc, chúnglà vô thường, khổ, không, phi ngã. Hành giả đối với phápnày tâm vừa ghét vừa lo sâu xa, sợ hãi đình chỉ, sau đónhiếp tâm đưa về giới vức cam lồ, tư duy cõi này là tịchtĩnh vi diệu, xả bỏ tất cả trên nền tảng ái hết lìanhiễm, vĩnh viễn tịch diệt Niết-bàn. Giống như xạ sưgiỏi, hay học trò của ông, trước hết học bắn ngườibằng cỏ, đất bùn ở gần; sau đó mới có thể bắn vậtkiên cố lớn ở xa được. Hành giả cũng vậy, trước phảinhờ tướng trạng các hành như vậy mà xa lìa pháp dục ácbất thiện, có tầm có từ; nhờ xa lia nên hỉ lạc sinh. Nếuhành giả an trụ vào sơ thiền đầy đủ thì sẽ không tưduy về các tướng trạng các hành như vậy mà chỉ tư duyvề chỗ đạt được, chỗ hướng về sắc, thọ, tưởng,hành và, thức mà thôi. Ở đây các pháp này não hại chúngsanh như là bệnh họan, như ung nhọt, như tên độc, chúnglà vô thường, khổ, không, phi ngã. Hành giả đối với phápnày tâm vừa ghét vừa lo sâu xa, sợ hãi không tạo tác nhân,sau đó nhiếp tâm đưa về giới vức cam lồ, tư duy cõi nàylà tịch tĩnh vi diệu, xả bỏ tất cả trên nền tảng áihết lìa nhiễm, vĩnh viễn tịch diệt Niết-bàn. Khi hành giảbiết như vậy, thấy như vậy liền từ tâm dục lậu đượcgiải thóat, cũng từ hữu lậu và vô minh lậu tâm đượcgiải thóat; đã giải thóat rồi thì có thể tự nhận thứcrằng: Ta được giải thóat, sự sanh của ta đã dứt, phạmhạnh đã lập, việc cần đã làm xong, không còn tái sinh đờisau nữa. Ở đây đề cập về an trụ nhị thiền thì, trướchết cũng nhờ vào tướng trạng các hành, nhưng tầm từ trởnên tịch tĩnh, bên trong tâm tịnh một mực hướng về tựtánh, lúc này không còn tầm từ nữa, nhờ định là hỉ lạcsinh ra. Nếu an trụ đầy đủ vào nhị thiền thì bấy giờhành giả không còn tư duy về tướng trạng các hành nói cũnggiống như trên cho đến vô sở hữu xứ. Khi hành giả nhậpvào vô sở hữu và an trụ đầy đủ vào vô sở hữu xứthì lúc này không còn tư duy về tướng trạng các hành, màchỉ tư duy về chỗ đạt được, chỗ hướng về thọ, tưởng,hành và, thức mà thôi, cho đến nói đầy đủ như trên và,đến tưởng định có thể hòan thành xong những việc đángnên làm như vậy. Tiếp đến là Phi tưởng phi phi tưởng xứcùng Diệt tận định, việc xuất nhập định trong tu tậpcủa hành giả cũng như bảy định trên, lúc này cũng sẽcó được sự tương ưng giữa vô lậu và tác ý, an trụ tâm,an trụ bình đẳng cho đến tâm chỉ còn duy nhất một tánhcảnh, gọi chung là định, cũng gọi là định căn, cũng gọilà định lực, cũng gọi là định giác chi, cũng gọi là chánhđịnh. Đối với Thánh đệ tử chúng có khả năng diệt hếtkhổ; đối với các hàng hữu học, các hành như sở kiếncủa mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh; đối trongcác hành thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnh viễn thấyrõ công đức. Nếu là A-la-hán như tâm giải thóat, tư duyqúan sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sự tươngưng giữa vô lậu và tác ý, tâm an trụ bình đẳng, cho đếntâm chỉ còn tánh cảnh duy nhất, thì đó gọi là định giácchi.

7/Xả giác chi: Đến đây, hành giả nhờ tư duy về đọangiới, ly giới, diệt giới trong những định trên và, cũngnhờ tâm phát khởi tính bình đẳng, tâm trở nên tánh chínhtrực, tâm không còn kỉnh giác mà an trụ vào tính tịch tĩnh.Lúc bấy giờ hành giả tự nghĩ: “nay ta nên đối với cácpháp thuận tham, thuân sân, thuận si mà xa lìa tham, sân, si,nhờ tâm phát khởi tính bình đẳng, tâm trở nên tính chánhtrực, tâm không còn kỉnh giác nữa, mà an trụ vào tính tịchtĩnh.“ Lại tự nghĩ: “Nay ta nên đối với các pháptham, sân, si, tâm không còn nhiếp thọ; do tâm phát khởi tínhbình đẳng, tâm trở nên tính chánh trực, tâm không cảnhgiác mà an trụ vào tính tịch tĩnh.“ Ở đây hành giả nhờxem xét tư duy sáu pháp thuận xả mà có được sự tươngưng giữa vô lậu và tác ý, tâm trụ vào tính bình đẳng,tâm trụ vào tính chánh trực, tâm không còn cảnh giác màtrụ vào tính tịch tĩnh, ở đây gọi chung là xả, cũng gọilà xả giác chi. Đối với Thánh đệ tử chúng có khả năngdiệt hết khổ; đối với các hàng hữu học, các hành nhưsở kiến của mình mà tư duy quán sát sẽ đạt cứu cánh;đối trong các hành thấy rõ lỗi lầm, đối Niết-bàn vĩnhviễn thấy rõ công đức. Nếu là A-la-hán như tâm giải thóat,tư duy qúan sát, khiến đạt cứu cánh và sẽ có được sựtương ưng giữa vô lậu và tác ý, tâm trụ vào tính bìnhđẳng, tâm trụ vào tính chánh trực, tâm không còn kỉnh giácmà trụ vào tính tịch tĩnh thì, đó gọi là xả giác chi.

Quanhững kinh-luận mà chúng tôi đã trích dẫn trên, chúng chohành giả chúng ta một cái nhìn duyên khởi hơn trong vấn đềtu tập để đối trị với ba độc tham, sân, si trên cơ bảnbằng cách ly tham, sân, si để đưa đến giác nộ giải thóatbằng vào sự tu tập theo thứ tự từ giác chi thứ nhất chođến giác chi thứ bảy trong liên đới hỗ tương cần thiếtcho nhau; nhưng mặc khác mỗi giác chi tự chúng tự hòan thànhriêng cho mỗi thứ trong tu tập chính chúng như chính đứcĐạo sư đã dạy trong Tương Ưng V theo Tạng hệ Pàli: "Tutập một giác chi đã có thể thành tựu mục đích của đờisống phạm hạnh, huống nữa là tu tập cả Thất giác chi".Vì chính ngay trong mỗi một giác chi chúng đã hiện diện nhânvà duyên một cách đầy đủ qua sự cần thiết đủ đểpháp đó hiện hữu một cách trọn vẹn bảy chi trong mộtchi; và ngược lại một chi trong bảy chi, nếu thiếu mộttrong bảy chi đó thì tự chúng không hiện hữu để hòan thànhkết quả. Ngay trong chánh niệm của niệm giác chi đã có trạchpháp giác chi đã có tinh tấn giác chi, đã có hỷ giác chi,đã có khinh an giác chi, đã có định giác chi và, đã có xàgiác chi rồi; vì nếu thiếu xả thì không thể có đượcchánh niệm, thiếu trạch pháp giác chi thì sẽ không có chánhniệm, thiếu tinh tấn giác chi thì sẽ không có chánh niệmgiác chi, thiếu hỷ giác chi thì sẽ không có chánh niệm giácchi, thiếu khinh an giác chi thì sẽ không có chánh niệm giácchi rồi, và cứ như thế nếu thiếu đi một trong bảy nhânvà duyên của bày giác chi này thì chánh niệm giác chi khônghiện hữu để đưa đến kết quả thành công. Do đó Sựthành tựu trong tu tập của hành giả qua một giác chi nàođó cũng chính là sự thành tựu của chính bảy giác chi đồnglúc. Đó chính là mặc sâu xa vi tế của bộ mặt duyên khởihiện quán theo quan điểm đặc thù của Phật giáo theo bảnthể luận còn theo mặt hiện tượng luận sai biệt của cácpháp thì có bảy chi pháp, để từ đó hành giả cứ theo thứtự thời gian mà hòan thành theo thứ lớp tuần tự của chúng.Đây chính là đặc điểm khế cơ khế lý trong phương phápgiáo dục và tu tập của đạo Phật.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/12/201203:38(Xem: 15380)
Là người mới bắt đầu học Phật, tôi nhận thấy quyển sách nhỏ này thể hiện tốt tinh thần vừa giáo dục vừa khai sáng. Mặc dù đạo Phật có bề dày lịch sử phong phú, đầy những giá trị, điều cần thiết đối với người học Phật ngày nay vẫn là làm thế nào để ứng dụng lời đức Phật dạy vào đời sống hàng ngày. Quyển 100 điều đạo đức tại gia này giúp tôi hiểu tầm ảnh hưởng của đạo Phật đối với cuộc sống thường nhật của con người. Nó có thể được xem như quyển sổ tay hướng dẫn chúng ta sống cuộc đời theo chánh pháp.
15/01/201109:42(Xem: 10407)
Điều làm cho một người trở thành một Phật tử chân chính là người ấy tìm nơi nương tựa ở Đức Phật, Giáo pháp, và chư Thánh Tăng - gọi là Quy Y Tam Bảo.
11/10/201001:57(Xem: 2314)
BA PHÁP ẤN - Edward CONZE - Bản dịch Hạnh viên
06/11/201014:48(Xem: 3554)
Bát Chánh Đạo rất dễ nhớ, nhưng ý nghĩa của chúng thâm sâu và đòi hỏi một sự hiểu biết về nhiều lãnh vực liên quan trong giáo lý của Đức Phật.
27/05/201201:35(Xem: 6820)
Trải qua nửa thế kỷ thuyết pháp độ sinh, Đức Đạo sư đã hóa độ đủ mọi hạng người, không phân biệt màu da, chủng tộc, giai cấp, sang hèn. Những đệ tử được Thế Tôn hóa độ, do căn cơ trình độ, tuổi tác, giới tính bất đồng, vì thế được chia thành 7 nhóm và được gọi là 7 chúng đệ tử của Phật. Trong đó, hai nhóm đầu là Ưu bà tắc và Ưu bà di thuộc hàng đệ tử tại gia; năm nhóm sau là Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na, Tỷ kheo và Tỷ kheo ni thuộc hàng đệ tử xuất gia. Trong bài này, chúng tôi sẽ tuần tự trình bày những giới pháp mà mỗi chúng đệ tử phải lãnh thọ, hành trì trên lộ trình tiến đến giải thoát.
01/02/201111:31(Xem: 8186)
Phật Giáo là một tôn giáo có khoảng 300 triệu tín đồ trên khắp thế giới. Danh từ Phật Giáo (Buddhism) phát nguồn từ chữ "buddhi", có nghĩa "giác ngộ", "thức tỉnh".
23/10/201022:03(Xem: 4832)
Trên đời này có những người có chánh kiến, tin rằng sự bố thí cúng dường sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp; các hành vi thiện ác đều dẫn đến quả báo; đồng thời cũng tin rằng có những người chân chánh hành trì Chánh pháp, tuyên bố những điều do tự mình thể nghiệm và chứng ngộ. Do nguyên nhân chánh kiến này mà một số loài hữu tình sau khi mệnh chung được sinh vào thiện thú, cõi đời này (Trung Bộ kinh I)
02/02/201108:54(Xem: 3160)
Tập sách này gồm có những bài viết đơn giản về Phật Pháp Tại Thế Gian, Cốt Tủy Của Ðạo Phật, Vô Thượng Thậm Thâm Vi Diệu Pháp, những điều cụ thể, thiết thực...
05/04/201317:10(Xem: 206)
Để thảo luận vấn đề thường được nhiều người hỏi: sự khác nhau giữa đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy là gì? Để hiểu được điều này chính xác, chúng ta hãy ôn lại lịch sử của đạo Phật và tìm nguồn gốc của đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy.
09/04/201605:02(Xem: 8629)
Đôi lời về Xá Lợi Phật_Lạt Ma Zopa Rinpoche_Hồng Như dịch, Bảo Tháp thờ Xá Phật còn sót lại ở Thành Tỳ Xá Ly, Ấn Độ (hình phái đoàn hành hương Phật tích Ấn Độ của Tu Viện Quảng Đức tháng 11-2006)