Những bài kệ hô Thiền

24/10/201016:44(Xem: 7906)
Những bài kệ hô Thiền

 

NHỮNG BÀI KỆ CANH

Những bài kệ canh dưới đây áp dụng vào mùa An Cư, Kiết Hạ hằng năm của của Chư Tăng, hoặc trong trường hợp khai Đại Giới Đàn của xưa và nay. Đặc biệt với cuộc sống ở hải ngoại không đủ điều kiện thời gian nhất là lớp trẻ, nên đã phải tổ chức các khóa tu học ngắn hạn chỉ gồm nửa ngày và nửa đêm để phù hợp với thời gian của những bài kệ.

Trong một đêm được chia ra làm năm thời, mỗi thời có một ý nghĩa khác nhau và cũng là để cảnh tỉnh người xuất gia, nhất là trong những lúc an cư, cấm túc cần phải thực hiện đầy đủ hơn theo những bài kệ của 5 canh dưới đây:

CANH MỘT:

Nhứt canh dĩ đáo thượng thiền sàng,
Tam nghiệp tịnh trừ đổ thánh nhan.
Thâm tín Phật ngôn hằng niệm Phật,
Chỉ tu nhứt hướng vãng Tây Phương. (1)
Ngưỡng lao đại chúng các các nhứt tâm niệm Phật.

CANH HAI:

Nhị canh dĩ đáo lự hư không,
Thỉ giác phù sanh nhứt mộng trung.
Niệm Phật nhứt tâm vô gián đoạn,
Viên minh nhứt điểm tận linh thông.
Ngưỡng lao đại chúng các các nhứt tâm niệm Phật.

CANH BA:

Tam canh dĩ đáo khiển thùy ma,
Thấu khẩu liên tâm tọa kiết già.
Niệm Phật nhứt tâm vô tạp tưởng,
Công thành quả mãn kiến Di Đà,
Ngưỡng lao đại chúng các các nhứt tâm niệm Phật.

CANH TƯ:

Tứ canh dĩ đáo tấn diên sanh,
Tịch mặc tâm đầu diễn Phạm thanh.
Phật quốc phi diêu thiên bất viễn,
Nguyên lai chỉ tại nhứt tâm thành.
Ngưỡng lao đại chúng các các tỉnh tâm niệm Phật.

CANH NĂM:

Ngũ canh dĩ đáo pháp môn khai,
Phổ nguyện đồng đăng bát nhã đài.
Liễu triệt Tam thừa dung Nhị đế.
Cao huyền huệ nhựt tịnh vân mai (mê).
Ngưỡng lao đại chúng các các tỉnh tâm niệm Phật.

Trong 5 bài kệ trên, ý nghĩa và văn tự có khác nhau theo từng canh một, nhưng điệu giọng và cách thức cũng y như nhau; gồm 3 câu bạch, 1 câu nói: Câu 1, 2, 4 điệu bạch, câu 3 điệu nói và câu cuối cùng là câu “Ngưỡng lao…) tương tự như câu nói.

Ghi chú:

(1) 3 chữ vãng Tây Phương có vị đổi thành 3 chữ “nhập Linh Sơn”. Ngoài ra có Ngài lại thêm nguyên một câu sau đây “Sanh tử sự đại tấn tốc vô thường” trước câu thứ 5 tức câu “Ngưỡng lao…” với mục đích nhắc nhở người tu hành luôn nhớ đến sanh tử, vô thường…

Thông thường chỉ hô Canh Một và Canh Năm mà thôi. Riêng trong khóa tu ngắn hạn nầy, các vị hô canh đã hô cả 5 canh để Phật tử chúng dễ dàng tham cứu.

Kính chúc quý vị thân tâm an lạc khi nghe Điệu Hô Canh của điệu thức Phật Giáo Huế.

source: phoquang.org

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/02/2013(Xem: 8527)
Rừng thiền vắng bóng hạc vàng, Biển trần vượt khỏi muôn ngàn phong ba, Người đi dấu vết chưa nhoà,
05/02/2013(Xem: 17942)
Bắt nguồn sâu xa từ kinh Cứu Bạt Diệm Khẩu Đà-la-ni do đại sư Bất Không phiên dịch và truyền bá ở Trung Quốc vào đời Đường, phép cúng thí thực có mục đích đem tình thương bao la cứu độ loài ngạ quỷ lang thanh khổ sở giữa chốn u minh. Sang đời Tống, đại sư Bất Động tham cứu thêm các kinh điển Mật tông khác, diễn dịch thành phép Tiểu thí thực. Vì đại sư tu tập ở núi Mông Sơn, nên phép này được gọi là Tiểu Mông Sơn và được thực hành hàng ngày như một khoa nghi thiết yếu của Mật tông. Qua các đời Nguyên, Minh, khoa nghi này dần biến đổi, pha trộn với nghi thức của các tông phái khác, chen thêm phần văn thí thực, triệu thỉnh vào phần trì chú biến thực, siêu độ, thể hiện trọn vẹn lòng từ bi vô lượng của Phật giáo, nhằm cứu độ mọi chúng sinh còn trôi nổi lạc loài trong Bà đường dữ. Khoa nghi này truyền sang nước ta đã lâu đời, thường được gọi là nghi thức đăng đàn chẩn tế, do các cao tăng làm sám chủ.
06/01/2013(Xem: 21398)
Tụng Kinh Niệm Phật (Tụng là đọc, Niệm là nhớ) là miệng đọc tâm nhớ, tâm và miệng hợp nhất, nhất tâm đọc và nhớ lời Kinh và Danh Hiệu của Phật. Tụng Kinh Niệm Phật của hàng xuất gia hay tại gia để tỉnh thức tâm linh, và kiến tạo cho chính mình một cuộc sống ôn hòa. Lợi ích của sự Tụng Kinh Niệm Phật, ngoài công đức cho kẽ còn người mất, còn nói lên NẾP SỐNG ĐẠO. Nếp sống cố hữu của tổ tiên chúng ta là Tụng Kinh Niệm Phật để tích phước đức cho con cháu, mai này chúng sẽ được phú quý vinh hoa. Hơn nữa, sự Tụng Kinh Niệm Phật còn đem lại nhiều lợi ích thiết thực như sau: * Tụng Kinh Niệm Phật giữ cho tâm được an lành, để dễ cảm thông với các Đấng Thiêng Liêng. Tụng Niệm rất dễ dàng huân tập các điều suy nghĩ tốt vào tâm thức.
15/12/2012(Xem: 9213)
Những Ngày Lễ Vía Phật và Bồ Tát, 01/01 Vía Di Lặc 15/01 Lễ Thượng Nguyên 08/02 Phật Thích Ca Xuất Gia 15/02 Phật Thích Ca nhập Niết Bàn 19/02 Quan Thế Âm Giáng Sanh 21/02 Phổ Hiền Giáng Sanh 06/03 Ca Diếp Tôn Giả 16/03 Phật Mẫu Chuẫn Đề
02/11/2012(Xem: 6488)
Phật giáo không có một số nghi lễ như những tôn giáo khác. Nghi lễ, với việc thực hiện phức tạp và rườm rà, không có vị trí trong Phật giáo. Chúng ta không tìm thấy bất cứ trường hợp nào ở trong kinh điển Pāli, ở đó Đức Phttp://quangduc.com/siteadmin/post?page=25&pageID=49826hật đặt ra những luật lệ và phương cách thực hiện các nghi lễ dành cho người tại gia. Cá nhân mỗi người thực hiện hay không thực hiện các nghi lễ là tùy ý. Có một điều duy nhất mà mỗi người cần phải cân nhắc, đó là việc thực hành nghi lễ của mình không được trái ngược với giáo pháp của Đức Phật.
30/10/2012(Xem: 15636)
Để thành tựu được lễ dâng y kathina, người thí chủ cần phải có sự hiểu về tấm y gọi là “Y Kathina” và nghi thức làm lễ dâng y kathina đến chư Tỳ khưu Tăng.
18/10/2012(Xem: 7035)
Nghi lễ theo Phật giáo nói chung có rất nhiều, nhưng có thể tóm gọn nghi lễ đối với đời người thì có ba nghi lễ chính yếu, đó là lễ quy y Tam bảo và thọ trì năm giới cấm, lễ hằng thuận và lễ cầu siêu khi một người qua đời.
05/10/2012(Xem: 7087)
Phận làm người xuất gia, việc đi cúng dường như xuất hiện đồng thời với chí nguyện phụng Phật, độ sanh. Đi cúng là đi đến nhà cư sĩ, đơn giản thì để chứng minh, chú nguyện cho một sở cầu nào đó của họ. Phức tạp hơn là thực hiện một lễ nghi nào đó như cầu an, cầu siêu, an vị Phật hay cúng nhà mới v.v…
03/10/2012(Xem: 8140)
NGHI BÁO TIẾN Cúng dường chung thất Thượng tọa HUYỀN ẤN, Trụ trì chùa BÍCH LIÊN
30/08/2012(Xem: 8004)
Chơn quyền diệu mật, Thị hóa tích ư nhơn thiên, Thể tánh viên minh, Khế huyền cơ ư Phật Tổ. Cung duy: Sắc tứ Thập Tháp phương trượng, Phước Huệ tự tổ, Quốc sư Tôn giả, tác đại chứng minh! Dữ: Tổ ấn thiền tâm, Hoán Bích môn trung, Diệu kham di chúc Vị nhơn bồi Phật chủng, Thiên đồng từ hạ, Mật phú tâm tôn. Ức tích... Tôn ông: Trần duyên thác chất Mộng trạch thê thần,