9. Nghi Thành phục

05/04/201318:25(Xem: 5851)
9. Nghi Thành phục

Pháp Sự Khoa Nghi
( 3 tập)

Soạn dịch giả: THÍCH GIẢI HÒA

Chùa Quang Thiện, California, USA
Ấn hành 2002

--- o0o ---

TẬP II

9. NGHI THÀNH PHỤC

(Cấp Thượng tọa và Đại Đức)

* Tiết thứ làm nghi:

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Hiếu đồ tang quyến,

Mời đến trước đây,

Tất cả đều quỳ,

Đốt hương mặc niệm ...

- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH - VỊNH KHAI DIÊN:

Kính bạch Tân tịch Thượng tọa giác linh:

Giaó hóa bao năm quá nhọc nhằn,

Công ơn thầy Tổ chẳng chi bằng.

Kế thừa ngày trước truyền y bát,

Đạo nghĩa hôm nay nhận áo khăn!

- TẢ BẠCH XƯỚNG:

Dâng hương lên án cúng dường,

Cúi lễ giác linh ba lạy.

Tất cả thứ tự lại quỳ,

Một lòng chí thành làm lễ.

- TÁN HƯƠNG:

Giới, định, tuệ hương, giải thoát hương,

Cùng hương tri kiến qúi khôn lường,

Mây hương tỏa khắp và ngào ngạt,

Đệ tử thành tâm nguyện cúng dường.

- CHỦ LỄ QUỲ BẠCH:

Chúng tôi nghe rằng:

Khắp cả đất trời cùng cả kim cổ,

Nho hay Thích, trời hay người,

Ai ai cũng đều tôn trọng,

Đó là hiếu đạo vậy.

Do đó,

Nên từ xưa tới nay,

Dù là đời hay là đạo,

Đối với các bậc sanh thành dưỡng dục,

Đều có lễ, có nghĩa,

Có thứ, có tự rõ ràng,

Không ai dám trái.

Phàm ơn còn ghi nhớ,

Tức hiếu còn tôn thờ.

Tuy nhiên,

Đời có ba nghĩa,

Nhưng thầy không vào nghĩa "Ngũ luân";

Đạo có bốn ơn,

Nên Phật có dạy câu "Tổng báo".

Hôm nay buổi đầu tang lễ,

Hiếu phục trước phải cử hành.

Cúi mong Tân tịch Bổn sư

... đường thượng, Thượng tọa giác linh.

Hãy dùng:

Tha tâm cảm cách,

Từ nhãn chiếu lâm,

Xét soi bốn chúng thành tâm,

Cúi đầu một lòng thọ phục.

Than ôi!

Đài Nghê nay còn đó!

Tiếng thầy bặt âm hao.

Biết rằng sanh tử huyễn,

Ly biệt khổ dường nào!

- TẢ BẠCH XƯỚNG:

Sơ hiến trà - Lễ ba lạy - Cùng quỳ.

- KỆ TRÀ:

Y vàng thay áo trắng,

Tang khó phủ đầu xanh.

Trước linh đài thọ phục,

Đền đáp nghĩa sanh thành!

- CHỦ LỄ HẠ PHỦ XÍCH – TUYÊN PHÁP NGỮ:

Chúng tôi thiết nghĩ rằng:

Phàm là thầy, là mô, là phạm,

Nên phải kính, phải thờ.

Vì thầy vẹt ta mây mờ.

Chỉ ta trời sáng.

Do vậy,

Đã học đạo thầy,

Phải nhớ ơn thầy.

Nay thọ tang chế,

Ghi tạc lòng đây!

- CHỦ LỄ XƯỚNG SỚ:

Trước đài hoa khể thủ,

Dưới chiếu cỏ hồ quỳ,

Xin mạo muội cung duy,

Dâng sớ văn bái bạch.

Duy nguyện Tôn sư cảm cách,

Từ bi tác đại chứng minh.

- TUYÊN ĐỌC VĂN SỚ:

Nam mô ... đường thượng Tân tịch Bổn sư Thượng tọa giác linh!

Chúng tôi nghe rằng:

Thế Tôn nhập diệt,

Tang sự cử hành,

Theo nghi trượng Thánh vương;

Thích tử lâm chung,

Hiếu diên thiết lập,

Theo tang nghi thế đế.

Xưa nay như thế,

Đạo, tục, cùng tuân.

Sớ rằng:

Nay có đệ tử Tỳ kheo Thích ... cùng hiếu quyến môn đồ, Tăng Ni Phật tử chùa ... ở xã ... huyện ... tỉnh ...

Giờ này rất đau lòng, vì Tôn sư:

Tuổi đời đã lớn,

Lạp đạo lại cao.

Nên, tứ đại bì lao,

Ngũ căn suy nhược.

Cho dù:

Linh đơn Biển Thước,

Khó chống sứ già.

Hay, diệu dược Kỳ Bà,

Khôn xua thần chết.

Tôn sư,

Nay, hóa duyên đã kết,

Thầy, thân gởi liên bang.

Giờ, huyễn thể đã tàn,

Con, thân mang ma phục!

Vì vậy,

Tuân theo đường tục,

Thiết lễ thọ tang.

Đau đớn thay! Áo chế thân choàn,

Thương tiếc bấy! Khăn tang đầu đội.

Mất còn bối rối,

Đi ở băn khoăn!

Ngửa mong linh giác Thiền Tăng,

Dủ ánh quang minh từ giám!

Than ôi!

Trước linh sàng tinh thần dễ cảm,

Trong trượng thất diện mục khó tìm!

Quan tài cất ngọc nằm im,

Long vị cẩn vàng đứng vững.

Mong rằng:

Nhiệm mầu cảm ứng,

Khó nghĩ khôn lường!

Nên vội vàng:

Nghiêm tịnh đạo trường,

Cung hành tang sự.

Nay thời:

Nhạc thiền vừa cử,

Lễ đạo đã bày,

Dâng sớ văn này,

Cúi đầu bái bạch:

Nam mô ... đường thượng, nối dòng pháp Lâm Tế đời thứ ... húy thượng ... hạ ..., hiệu ...

Tân tịch Thượng tọa Bổn sư giác linh, tác đại chứng minh!

Phục nguyện:

Thần về Tây vức,

Tiêu dao chín phẩm sen vàng;

Thân gởi Nam bang,

An nghỉ nghìn thu tháp trắng!

Độ sanh nguyện thầy đã sẵn,

Tiếp vật lòng chúng đang chờ.

Mong sao biển khổ có bờ,

Thuyền từ không đáy.

Cúng dường ba lạy,

Đền đáp bốn ơn!

Cẩn sớ.

Nay ngày ... tháng ... năm ... PL. 254 ...

Sa môn Thích ... hòa nam thượng sớ.

- TẢ BẠCH XƯỚNG:

Á hiến trà - Lễ ba lạy – Cùng quỳ.

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Hiếu quyến môn đồ,

Cúi đầu thọ phục.

(chủ lễ phát tang phục)

- KỆ TRÀ:

Hôm nay trông núi Đẩu,

Năm xưa bát y truyền,

Trước linh đài thọ phục,

Lòng đau đớn vô biên!

- TỤNG:

Tiêu tai cát tường thần chú ... (7 lần)

- TẢ BẠCH XƯỚNG:

Chung hiến trà - Lễ ba lạy – Cùng quỳ.

- KỆ TRÀ:

Giới thân non chưa nặng,

Pháp nhũ biển nào sâu,

Khăn khó đầu xanh quấn,

Biết bao nỗi đau sầu!

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Lễ nghi thọ phục,

Giờ đã viên hòan,

Quí vị môn tang,

Lễ thành ba lạy.

- HỒI HƯỚNG:

Tiêu diêu kim thế giới v.v...

Nguyện tiêu ...

Nguyện sanh ...

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/08/2013(Xem: 10782)
Thiết nghĩ, Phật Giáo Việt Nam cần nghiên cứu và có quy định thống nhất về phẩm phục của tu sĩ, sao cho vừa hội nhập được với Phật giáo quốc tế, Phật giáo khu vực, vừa giữ được bản sắc truyền thống Phật giáo VN.
16/08/2013(Xem: 21073)
Mao_HiepChuongNói đến pháp phục của Phật giáo, chúng ta thường đề cập đến pháp phục của người xuất gia, bao gồm pháp phục nghi lễ và pháp phục thường nhật. Pháp phục Phật giáo được xem là hình thức thể hiện thân giáo, đó là pháp tướng bên ngoài của người xuất gia nên các chế tài trong luật nghi quy định rất rõ về các hình thức của pháp phục.
25/07/2013(Xem: 29793)
Bộ Hồng Danh Lễ Sám nầy được dịch từ bản chữ Hán trong Tục Tạng Kinh – Tập I, Ấn Độ soạn thuật. Bản chính mang danh tựa là “Phật Thuyết Phật Danh Kinh,” gồm 30 quyển. Trong đó, từng đoạn từng đoạn, Phật thuyết nhơn quả báo ứng, nghiệp lực, tội khổ của chúng sanh đã tạo, đương tạo… rồi nói đến Hồng Danh các đức Phật, Bồ Tát, La Hớn, Tổ Sư v.v… Về các bài kinh văn trường hàng, chư Tổ về sau có thêm vào văn sám nguyện, trong Từ Bi Tam Muội Thủy Sám, trong Lương Hoàng Sám, trong Dược Sư Sám… Chúng tôi nhận xét nếu đề “Phật Thuyết Phật Danh Kinh” thì phải thuần là danh hiệu Phật, nhưng trong ấy lại có nhiều danh hiệu Bồ Tát, La Hớn, Tổ Sư… do đó, nên chúng tôi xin đổi lại là “Đức Phật Nói Kinh Hồng Danh Lễ Sám quyển thứ nhất, quyển thứ hai v.v… ”
25/07/2013(Xem: 27810)
Đời hiện tại thường xuyên bị sự khó khăn, tai nạn, bịnh hoạn trầm trọng, như thế là do đâu? Chính do mỗi người tạo nhiều nhơn ác trong đời quá khứ, hoặc nhiều kiếp về trước đã gieo nhơn đen tối, nặng nề khổ đau, nên đời hiện tại mang thân mạng nầy mới chịu nhiều tai biến, nghiệp chướng nặng nề, tham giận kiêu căng, si mê lầm lạc. Trong Kinh Nhơn Quả, đức Phật đã dạy: “Muốn biết nhơn đời trước của mình ra sao thì cứ nhìn thẳng những việc mình đang lãnh thọ trong đời này; muốn rõ quả báo kiếp sau của mỗi người thế nào, thì cứ xem các nhơn mỗi người tạo tác trong đời nầy.” Nguyên văn: “Dục tri tiền thế nhơn, kim sanh thọ giả thị; yếu tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị.”
25/07/2013(Xem: 38041)
Chúng sinh sanh trưởng trong đời mạt phát hầu hết nghiệp nặng phước nhẹ, chướng sâu huệ cạn, trọn cuộc đời gặp nhiều khổ đau, thân tâm loạn động, ngay cả hàng xuất gia cũng lại như vậy. Thế nên trên đường đời, đường đạo đều gặp rắc rối giống nhau, thân tâm khổ lụy. Trong Kinh Địa Tạng có câu “Mạt thế chúng sinh nghiệp lực thậm đại, năng địch Tu Di, năng thâm cự hải, năng chướng thánh đạo…” nghĩa là chúng sanh ở đời rốt sau của giáo pháp, sức nghiệp vĩ đại, so sánh có thể cao như núi Tu Di, sâu rộng như biển cả, nó thường hay ngăn chận con đường lên quả Thánh…
22/06/2013(Xem: 19737)
Tại Hoa Kỳ, nhiều người xem bồ công anh là thần dược có tác dụng điều trị bệnh sưng loét bao tử, ung độc, đặc biệt là ung thư vú. Ở nước ta, bồ công anh mọc hoang dại ở các vùng như Đà Lạt, Tam Đảo, Sa Pa và cũng được trồng để lấy lá làm thuốc. Bồ công anh còn chứa nhiều chất sắt tương đương trong rau dền, hàm lượng vitamin A cao gấp bốn lần rau diếp và rất giàu các nguyên tố vi lượng như manhê, potassium, calcium, sodium và nhất là vitamin C, B.Ngoài ra bồ công anh còn chứa protein, chất béo, tinh bột... Theo y học cổ truyền, một số dược tính của bồ công anh như sau:
05/06/2013(Xem: 26354)
Từ “Công văn” trước đây được dùng trong công việc hành chánh của nhà nước gồm những văn kiện của các Bộ, Ty, Sở đối với chính quyền thuộc địa, hay dưới các chế độ quân chủ chuyên chế. Cho tới ngày nay không ai rõ từ này đã ảnh hưởng vào trong sinh hoạt Phật giáo từ lúc nào.
05/06/2013(Xem: 15553)
Nguyện dâng hương mầu nầy Cúng dường tất cả Phật Tôn Pháp, chư Bồ Tát Thinh Văn và Duyên Giác Cùng các bậc Thánh Hiền Duyên khởi đài sáng chói
29/05/2013(Xem: 13296)
Chúng ta đang sống trong những ngày rộn ràng của đại lễ Phật Đản, một lễ hội văn hoá tâm linh mang tầm thế giới. Nhân dịp này, tôi xin lược ghi một số nhận xét về sự liên quan giữa âm nhạc Phật giáo và âm nhạc dân tộc, xem như góp một bông hoa nhỏ kính mừng ngày lễ hội tôn giáo trọng đại mà cả nước đang nô nức đón mừng.
22/04/2013(Xem: 29426)
Bộ sách này có thể gọi là kinh "Khóa Hư" vì là cả một đời thực nghiệm về chân lý sinh tồn của tác giả. Tác giả là một vị vua khai sáng ra triều đại nhà Trần, oanh liệt nhất trong lịch sử dân tộc, ba phen đánh đuổi quân xâm lăng Mông Nguyên, từng chinh phục thế giới từ Á sang Âu "đi đến đâu cỏ không mọc lên được".