Kinh Hạnh Trẻ Thơ

04/04/201320:35(Xem: 5635)
Kinh Hạnh Trẻ Thơ

KINH TỤNG HẰNG NGÀY

TỔNG HỢP 49 KINH CĂN BẢN CỦA HAI TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG

Tỳ-kheo Thích Nhật Từ
biên soạn

---o0o---

KINH HẠNH TRẺ THƠ

Thứ ba mươi chín

Lúc bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp rằng: “Nay Như Lai sẽ giảng dạy cho ông và đại chúng nghe về hạnh trẻ thơ.” O

***

- Nầy thiện nam tử ! Chẳng có thể đứng dậy, đi tới, đi lui, nói chuyện, đây gọi là trẻ thơ. Cũng vậy, Đức Như Lai không còn khởi dậy phiền não, vì Như Lai trọn chẳng khởi các pháp tướng. Cũng chẳng thể đứng dừng, vì Như Laichẳng chấp trước tất cả pháp. Chẳng thể đến vì thân hành của Như Lai không có lay động. Cũng chẳng thể đi vì Như Lai đã đạt được Niết-bàn. Chẳng thể nói, vì Như Lai dầu nói pháp cho tất cả chúng sanh nhưng thật ra không chỗ nói. Vì có chỗ nói thời gọi là pháp hữu vi. Lại không ngôn ngữ, như trẻ thơ ngôn ngữ chưa rõ, dầu có ngôn ngữ thật ra như không ngôn ngữ. Cũng vậy, ngôn ngữ chưa rõ chính là lời bí mật của các Đức Phật, dầu có nói, chúng sanh cũng chẳng hiểu nên gọi là không ngôn ngữ. Lại như trẻ thơ gọi tên những đồ vật chẳng duy nhất, vì chưa biết rõ tên chánh, dầu gọi tên đồ vật chẳng duy nhấtnhưng chẳng phải chẳng nhân nơi đây mà đặng biết đồ vật. Cũng vậy, tất cảchúng sanh, giống loại, nơi chỗ, ngôn ngữ chẳng đồng, Như Lai vì phương tiện thuận theo ngôn ngữ của họ mà nói, cũng làm cho tất cả các loài, nhân đây mà hiểu được.O

Lại nữa, trẻ thơ có thể nói được chữ cái, chứ chưa nói được câu văn. Cũng vậy, Đức Như Lai nói chữ cái, như nói “bà” “hòa.”“Hòa” là hữu vi, “bà” là vô vi, đây gọi là trẻ thơ. “Hòa” là vô thường, “bà” là thường. Như Lai nói về thường, chúng sanh nghe rồi vì cầu pháp thường mà dứt vô thường, đây gọi là hạnh trẻ thơ. Lại nữa, trẻ thơ chẳng biết khổ, vui, ngày, đêm, cha, mẹ. Cũng vậy, đại Bồ-tát vì chúng sanh nên chẳng biết khổ vui, không tưởng ngày đêm, tâm bình đẳng đối với chúng sanh nên không có cha mẹ, thân sơ sai khác.

Lại nữa, trẻ thơ chẳng thể làm được những việc lớn việc nhỏ. Cũng vậy, Bồ-tátchẳng tạo nghiệp sanh tử, đây gọi là chẳng làm việc lớn, việc lớn tức là tội ngũ nghịch. Việc nhỏ tức là tâm Thanh Văn, Duyên Giác. Bồ-tát trọn chẳng thối tâm bồ-đề mà tu hạnh Thanh Văn, Bích-chi Phật.O

Lại như trẻ thơ lúc kêu khóc, cha mẹ liền lấy lá dương vàng mà bảo rằng: Nín đi, đừng khóc ! Vàng đây ta cho con. Trẻ thơ thấy lá dương vàng tưởng là vàng thật bèn thôi, không khóc nữa. Nhưng đây là lá dương chẳng phải là vàng thật. Trâu gỗ, ngựa gỗ, người gỗ, trẻ thơ cũng tưởng là trâu, ngựa và người thật.O

Nếu có chúng sanh muốn tạo tội ác, Đức Như Lai vì họ mà nói trời Đao-lợi là cõi tốt đẹp an vui tự tại. Chúng sanh nghe cõi vui đẹp như vậy, sanh lòng ưa thích bèn thôi chẳng tạo tội ác mà siêng thực hành những nghiệp lành. Nhưng thật ra cõi trời Đao-lợi vẫn còn sanh tử,chẳng phải là nơi thật sự an vui và tự tại.O

Lại như có chúng sanh chán cái khổ của sanh tử, Đức Như Lai vì họ nói hạnh quả hai thừa, nhưng thực ra quả hai thừa chẳng phải rốt ráo chân thật, vì hàng nhị thừa biết lỗi sanh tử, thấy vui Niết-bàn bèn có thể tự biết có dứt cùng chẳng dứt, có chân thật cùng chẳng chân thật, có tu cùng chẳng tu, có chứng đặng cùng chẳng chứng đặng. Như trẻ thơkia đối với vật chẳng phải vàng mà tưởng vàng thật.O

Đức Như Lai ở trong chỗ bất tịnh mà giả nói là tịnh, vì đã chứng được đệ nhất nghĩa đế nên Như Lai không có hư vọng.

Như trẻ thơ đối với những vật không phải trâu ngựa mà tưởng là trâu ngựa thật. Nếu có chúng sanh ở nơi phi đạo mà tưởng là chân-đạo, Như Lai cũng nói những cái không-phải-đạo là đạo, nơi không-phải-đạo thật không có đạo, vì có thể làm chút ít nhơn duyên sanh ra đạo nên nói phi đạo là đạo.O

Như trẻ thơ đối với người gỗ mà tưởng là người thật. Cũng vậy, Như Lai biết chẳng phải chúng sanh mà nói tướng chúng sanh, nhưng thật ra không có tướng chúng sanh. NếuNhư Lainói không chúng sanh thời tất cả chúng sanh sẽ rơi vào tà kiến. Do đây nênNhư Lai nói có chúng sanh, những người đối với chúng sanh mà tưởng là chúng sanh, thời không thể phá tướng chúng sanh. Nếu ở nơi chúng sanh phá được tướng chúng sanh, người nầy có thể đặng đại Niết-bàn. Do đạt được Niết-bàn như vậy nên chẳng còn kêu khóc nữa. Đây gọi là hạnh trẻ thơ.O

***

Nầy các vị ! Nếu có người thọ trì, đọc tụng biên chép, giảng giải hạnh nầy, nên biết rằng người ấy quyết định sẽ được hạnh chân thật, cao thượng.O

Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật rằng: “bạch Đức Thế Tôn ! Theo như chỗ con hiểu, y cứ theo lời Phật dạy, thời con cũng quyết định sẽ được hạnh nầy.”

Phật nói: “Nầy Ca-diếp ! Chẳng riêng gì ông được hạnh như vậy, nay trong hội nầy có chín mươi ba muôn người cũng đồng được hạnh như ông.”

Nghe Đức Phật nói xong, đại chúng vui mừng khôn xiết, thành kính đảnh lễ và phát nguyện làm theo.O

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.(3 lần, xá 3 xá) OOO


--- o0o ---
Chân thành cảm ơn Thầy Nhật Từ đã gởi tặng bản Kinh điện tử này
( Quang Duc Website 04/2002)
--- o0o ---
Trình bày : Nguyên Hân- Nguyên Phúc

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/02/2013(Xem: 8479)
Rừng thiền vắng bóng hạc vàng, Biển trần vượt khỏi muôn ngàn phong ba, Người đi dấu vết chưa nhoà,
05/02/2013(Xem: 17656)
Bắt nguồn sâu xa từ kinh Cứu Bạt Diệm Khẩu Đà-la-ni do đại sư Bất Không phiên dịch và truyền bá ở Trung Quốc vào đời Đường, phép cúng thí thực có mục đích đem tình thương bao la cứu độ loài ngạ quỷ lang thanh khổ sở giữa chốn u minh. Sang đời Tống, đại sư Bất Động tham cứu thêm các kinh điển Mật tông khác, diễn dịch thành phép Tiểu thí thực. Vì đại sư tu tập ở núi Mông Sơn, nên phép này được gọi là Tiểu Mông Sơn và được thực hành hàng ngày như một khoa nghi thiết yếu của Mật tông. Qua các đời Nguyên, Minh, khoa nghi này dần biến đổi, pha trộn với nghi thức của các tông phái khác, chen thêm phần văn thí thực, triệu thỉnh vào phần trì chú biến thực, siêu độ, thể hiện trọn vẹn lòng từ bi vô lượng của Phật giáo, nhằm cứu độ mọi chúng sinh còn trôi nổi lạc loài trong Bà đường dữ. Khoa nghi này truyền sang nước ta đã lâu đời, thường được gọi là nghi thức đăng đàn chẩn tế, do các cao tăng làm sám chủ.
06/01/2013(Xem: 21275)
Tụng Kinh Niệm Phật (Tụng là đọc, Niệm là nhớ) là miệng đọc tâm nhớ, tâm và miệng hợp nhất, nhất tâm đọc và nhớ lời Kinh và Danh Hiệu của Phật. Tụng Kinh Niệm Phật của hàng xuất gia hay tại gia để tỉnh thức tâm linh, và kiến tạo cho chính mình một cuộc sống ôn hòa. Lợi ích của sự Tụng Kinh Niệm Phật, ngoài công đức cho kẽ còn người mất, còn nói lên NẾP SỐNG ĐẠO. Nếp sống cố hữu của tổ tiên chúng ta là Tụng Kinh Niệm Phật để tích phước đức cho con cháu, mai này chúng sẽ được phú quý vinh hoa. Hơn nữa, sự Tụng Kinh Niệm Phật còn đem lại nhiều lợi ích thiết thực như sau: * Tụng Kinh Niệm Phật giữ cho tâm được an lành, để dễ cảm thông với các Đấng Thiêng Liêng. Tụng Niệm rất dễ dàng huân tập các điều suy nghĩ tốt vào tâm thức.
15/12/2012(Xem: 9119)
Những Ngày Lễ Vía Phật và Bồ Tát, 01/01 Vía Di Lặc 15/01 Lễ Thượng Nguyên 08/02 Phật Thích Ca Xuất Gia 15/02 Phật Thích Ca nhập Niết Bàn 19/02 Quan Thế Âm Giáng Sanh 21/02 Phổ Hiền Giáng Sanh 06/03 Ca Diếp Tôn Giả 16/03 Phật Mẫu Chuẫn Đề
02/11/2012(Xem: 6416)
Phật giáo không có một số nghi lễ như những tôn giáo khác. Nghi lễ, với việc thực hiện phức tạp và rườm rà, không có vị trí trong Phật giáo. Chúng ta không tìm thấy bất cứ trường hợp nào ở trong kinh điển Pāli, ở đó Đức Phttp://quangduc.com/siteadmin/post?page=25&pageID=49826hật đặt ra những luật lệ và phương cách thực hiện các nghi lễ dành cho người tại gia. Cá nhân mỗi người thực hiện hay không thực hiện các nghi lễ là tùy ý. Có một điều duy nhất mà mỗi người cần phải cân nhắc, đó là việc thực hành nghi lễ của mình không được trái ngược với giáo pháp của Đức Phật.
30/10/2012(Xem: 15359)
Để thành tựu được lễ dâng y kathina, người thí chủ cần phải có sự hiểu về tấm y gọi là “Y Kathina” và nghi thức làm lễ dâng y kathina đến chư Tỳ khưu Tăng.
18/10/2012(Xem: 6937)
Nghi lễ theo Phật giáo nói chung có rất nhiều, nhưng có thể tóm gọn nghi lễ đối với đời người thì có ba nghi lễ chính yếu, đó là lễ quy y Tam bảo và thọ trì năm giới cấm, lễ hằng thuận và lễ cầu siêu khi một người qua đời.
05/10/2012(Xem: 6999)
Phận làm người xuất gia, việc đi cúng dường như xuất hiện đồng thời với chí nguyện phụng Phật, độ sanh. Đi cúng là đi đến nhà cư sĩ, đơn giản thì để chứng minh, chú nguyện cho một sở cầu nào đó của họ. Phức tạp hơn là thực hiện một lễ nghi nào đó như cầu an, cầu siêu, an vị Phật hay cúng nhà mới v.v…
03/10/2012(Xem: 8049)
NGHI BÁO TIẾN Cúng dường chung thất Thượng tọa HUYỀN ẤN, Trụ trì chùa BÍCH LIÊN
30/08/2012(Xem: 7954)
Chơn quyền diệu mật, Thị hóa tích ư nhơn thiên, Thể tánh viên minh, Khế huyền cơ ư Phật Tổ. Cung duy: Sắc tứ Thập Tháp phương trượng, Phước Huệ tự tổ, Quốc sư Tôn giả, tác đại chứng minh! Dữ: Tổ ấn thiền tâm, Hoán Bích môn trung, Diệu kham di chúc Vị nhơn bồi Phật chủng, Thiên đồng từ hạ, Mật phú tâm tôn. Ức tích... Tôn ông: Trần duyên thác chất Mộng trạch thê thần,