[241 - 250]

13/02/201217:42(Xem: 11051)
[241 - 250]

DẠO BƯỚC VƯỜN THIỀN

(333 Câu Chuyện Thiền)

Đỗ Đình Đồng góp nhặt

 

241. PHẬT MẶT TRỜI, PHẬT MẶT TRĂNG

Kinh nói rằng Phật Mặt Trời sống một ngàn tám trăm năm, và Phật Mặt Trăng chỉ sống có một ngày một đêm.

Có một lần Đại sư Mã Tổ bị bịnh nặng và lâu, viện chủ đến thăm, hỏi:

- Hòa thượng cảm thấy thế nào?

Mã Tổ đáp:

- Phật Mặt Trời, Phật Mặt Trăng.

Sống khi mình có thể sống là phúc đức, và chết khi mình có thể chết cũng là phúc đức. Đối với một người hiểu lẽ sống, thì dù sống một trăm năm hay chỉ một đêm đều có giá trị như nhau.

(Trí Tuệ Thiền Sư)

242. QUI CỦ THIỀN ĐƯỜNG CỦA BÁCH TRƯỢNG

Sau khi Đại sư Mã Tổ tịch, Thiền sư Bách Trượng thừa truyền chánh pháp.

Rồi sư thiết lập Bách Trượng Thanh Qui, hay là qui củ Thiền đường, và nó đã trở thành nền móng cho điều lệ tu viện cũng như cho Phật giáo Thiền tông nói chung. . .

Bách Trượng Thanh Quiqui định chi tiết điều lệ đời sống hằng ngày của vị trụ trì và tất cả những người trong tự viện dưới ông.

Điều lệ đòi hỏi vị tăng tương lai nguyện giữ năm giới chính:

-Không sát sanh;

- Không trộm cướp;

- Không tà dâm;

- Không nói dối;

- Không say sưa.

Và các điều sau:

- Không ngủ trên cái giường cao hay rộng quá;

- Không xem hay tham dự các tuồng trên sân khấu;

- Không tự tôn;

- Không cất giữ tiền bạc hoặc các vật quí;

- Không ăn các món bậy và không ăn ngoài giờ qui định;

Chỉ khi nào giữ được các giới điều trên, người tăng nhân tương lai mới được cạo tóc và trở thành tăng nhân thực thụ.

Bách Trượng cũng thiết lập hệ thống làm việc, không những cho người tăng nhân trung bình làm việc ngoài đồng, mà cho cả vị trụ trì nữa.

Ở Ấn độ, tăng nhân bị cấm làm nông và, do đó, tùy thuộc vào sự cúng dường của các thí chủ trung thành.

Với hệ thống thanh qui, Bách Trượng nhằm loại bỏ cách sống xin ăn và ký sinh trùng này.

Tại sao một tăng nhân khỏe mạnh lại sống như một loại ký sinh trùng, hút máu sống của những người dân thường?

Vì vậy sư đòi hỏi tất cả tăng chúng dùng thời giờ khai khẩn đất đai để trồng trọt và canh tác thực phẩm cho chính họ.

(Trí Tuệ Thiền Sư)

243. MA NGÔN NGỮ

Ngưỡng Sơn là học trò của Qui Sơn. Một hôm Qui Sơn nói:

- Này con, phải nhanh lên mà ngộ đi. Chớ bám vào ngôn ngữ văn tự.

Ngưỡng Sơn đáp:

- Ngay cả tin con còn chẳng muốn nữa kìa.

Qui Sơn hỏi:

- Con không muốn vì con tin hay con không muốn vì con chẳng tin?

Ngưỡng Sơn hỏi lại:

- Ngoài mình ra còn cái gì khác có thể tin được?

Qui Sơn đáp:

- Nếu vậy, con chỉ là đệ tử của Tiểu thừa.

Ngưỡng Sơn nói:

- Ngay cả Phật con còn chẳng muốn gặp.

Qui Sơn lại hỏi:

- Trong tất cả kinh điển, có bao nhiêu là lời của Phật, bao nhiêu là lời của ma?

Ngưỡng Sơn đáp:

- Tất cả là ma hết.

Qui Sơn khen:

- Giỏi lắm! Giỏi lắm! từ nay không có gì quấy rầy con được nữa.

Cuối cùng, Ngưỡng Sơn kế thừa y bát của Qui Sơn và truyền Thiền theo phong cách của sư.

(Trí Tuệ Thiền Sư)

244. TRIỆU CHÂU ĐỘI DÉP RƠM

Tăng chúng hai nhà đông tây của chùa Nam Tuyền tranh nhau một con mèo. . .

- Nó là của nhà phía đông chúng tôi.

- Nó là con mèo nhà phía tây chúng tôi.

Nam Tuyền nghe ồn ào, bèn ra bắt con mèo giơ lên bảo:

- Ai nói được thì mèo sẽ sống. Không ai nói được, tôi sẽ giết con mèo tại đây.

Tất cả đều im lặng. Vì thế, Nam Tuyền chém con mèo làm hai mảnh.

Đến chiều, Triệu Châu về, Nam Tuyền thuật lại chuyện hồi sáng. . .

Sau khi nghe xong, Triệu Châu không nói một lời, chỉ cởi đôi dép rơm đội lên đầu, đi ra.

Nam Tuyền nói:

- Hồi sáng, nếu có ông ở nhà đã cứu được con mèo.

(Trí Tuệ Thiền Sư)

245. BỊ LỪA ĐÁ

Sau khi ngộ đạo, Triệu Châu dạo bước khắp nơi, viếng nhiều Thiền sư thời ấy.

Một hôm sư đến thăm Vân Cư Đạo Ưng. Vân Cư hỏi:

- Đại lão hán, đại lão hán, sao không tìm một chỗ trụ đi cho rồi?

Triệu Châu nói:

- Trụ ở đâu bây giờ?

Vân Cư đáp:

- Sau núi kia có ngôi chùa hoang, hòa thượng đến đó là phải.

Sau Triệu Châu đến viếng sư Tu Du. Tu Du hỏi:

- Đại lão nhân, đại lão nhân, sao không tìm một chỗ trụ đi cho rồi?

Triệu Châu lại nói:

- Trụ ở đâu bây giờ?

Tu Du nói:

- Ơ kìa, cái lão này còn không biết trụ ở đâu nữa mới lạ chứ!

Triệu Châu nói:

- Ba mươi năm đùa với ngựa không sao, bữa nay lại bị lừa đá.

Cuối cùng, cho đến năm tám mươi tuổi, sư mới định cư ở viện Quan Âm, phía đông ngoại ô thành Triệu Châu. . .

Trong thời gian trụ trì viện Quan Âm, sư dùng trí tuệ sâu xa và óc khôi hài nhàn nhã hướng dẫn đệ tử trên con đường đến chơn ngã.

Sư thường nói: “Nếu đứa trẻ bảy tuổi hơn ta, ta học nó. Nếu ông lão trăm tuổi không bằng ta, ta dạy ông lão.”

(Trí Tuệ Thiền Sư)

246. CỚ SAO LẠI CÓ BỤI

Một hôm, khi Triệu Châu đang quét sân chùa thì có người hỏi:

- Chốn già lam thanh tịnh cớ sao lại có bụi?

Triệu Châu đáp:

- Từ ngoài đến.

Một hôm khác, cũng trong lúc Triệu Châu đang đang quét sân chùa thì một ông tăng hỏi:

- Hoà thượng là thiện tri thức cũng có bụi nữa sao?

Triệu Châu đáp:

- Kìa, lại một hạt bụi nữa.

(Triệu Châu Ngữ Lục)

247. CHỖ CÓ PHẬT CHỚ ĐỨNG LẠI

Khi một ông tăng từ giả Triệu Châu để đi tham vấn các nơi, sư hỏi:

- Ông đi đâu?

Ông tăng đáp:

- Khắp các nơi để học Phật pháp.

Sư dựng cây phất tử lên nói:

- Chỗ có Phật chớ đứng lại, chỗ không Phật chạy lẹ qua! Chớ lầm đem Phật pháp cho người cách ba ngàn dặm.

(Triệu Châu Ngữ Lục)

248. KHÔNG MẮT TAI MŨI LƯỠI

Thiền sư Động Sơn Lương Giới (807-869) họ Du, quê ở Hội kê, tỉnh Triết giang. Sư xuất gia lúc còn bé. Sau khi ngộ, sư trở thành trụ trì Động Sơn ở Giang tây vào năm 860. Sư cùng với đệ tử là Tào Sơn sáng lập phái Tào Động.

Lúc còn trẻ, sư tụng Bát Nhã Tâm Kinh với thầy đến câu: “Không sắc, không thọ, không tưởng, không hành, không thức. . . Không mắt, tai, mũi, lưỡi, hay thân... Không thấy, nghe, ngửi, nếm...” sư liền lấy tay sờ mặt và hỏi thầy:

- Rõ ràng con có mắt, tai, mũi, lưỡi. . . sao kinh nói chẳng có?

Thầy trả lời:

- Ta nghĩ ngươi nên tìm thầy khác, ta chẳng thể dạy ngươi được.

Vì thế Động Sơn đi đến nhiều nơi, học với nhiều đại sư.

Trước tiên sư đến tham kiến Thiền sư Nam Tuyền và ở lại đó một thời gian...

Rồi sư đến Qui Sơn Linh Hựu và hỏi:

- Thực ra có vô tình thuyết pháp hay không? Nếu có, tại sao con không nghe?

Qui Sơn đáp:

- Miệng do cha mẹ cho, tôi chẳng dám nói với ông.

Động Sơn hỏi:

- Vậy thì con nên hỏi ai?

Qui Sơn đáp:

- Sao không đến Đàm Thành ở Vân Nham?

Cầm lá thư giới thiệu của Qui Sơn, sư đến tham kiến Vân Nham.

Khi đến Vân Nham, sư hỏi:

- Khi vô tình thuyết pháp thì ai nghe được?

Vân Nham đáp:

- Vô tình nghe được.

Sư hỏi:

- Hoà thượng nghe được không?

Vân Nham đáp:

- Nếu nghe được, ta sẽ biến thành pháp thân, rồi ông chẳng thể nghe ta thuyết pháp.

Sư hỏi:

- Tại sao không?

Vân Nham đưa phất tử ra hỏi:

- Ông nghe chăng?

Sư đáp:

- Dạ không.

Vân Nham bảo:

- Chính khi tôi thuyết pháp ông còn chẳng nghe được, khi vô tình thuyết pháp làm sao ông nghe được?

Sư hỏi:

- Kinh nào nói vô tình thuyết pháp?

Vân Nham hỏi lại:

- Không phải kinh A-di-đà nói, “Sông, chim, cây, rừng tất cả đều niệm pháp” sao ?

Ngay đây, Động Sơn tỉnh ngộ, nói:

Kỳ lạ thay! Kỳ lạ thay!

Vô tình thuyết pháp chẳng nghĩ bàn,

Nếu lấy tai nghe, thật khó hiểu,

Nếu dùng mắt thấy, liền nhận ra.

(Trí Tuệ Thiền Sư)

249. NƯỚC CON AN ỔN

Khi Sa di Cao đến tham vấn Thiền sư Dược Sơn, Dược Sơn hỏi:

- Ông từ đâu đến?

Cao đáp:

- Con từ Nam Nhạc đến.

- Đã đi lại những đâu?

- Đi Gia lăng thọ giới.

- Thọ giới mong làm gì?

- Mong khỏi sanh tử.

- Có một người không thọ giới cũng khỏi sanh tử, ông biết không?

- Thế thì giới luật dùng làm gì?

- Còn mồm mép lắm.

Cao lễ bái lui ra.

Khi Đạo Ngô đến đứng hầu, Dược Sơn bảo:

- Vừa rồi có một sa di mới đến có chút khí khái.

Đạo Ngô nói:

- Chưa nên tin hẳn, cần phải khám phá mới được.

Đến chiều, Dược Sơn lên tòa gọi:

- Sa di mới đến ở đâu?

Cao bước ra khỏi chúng tăng, đứng im.

Dược Sơn hỏi:

- Tôi nghe nói Trường an rất náo loạn, ông có biết không?

Cao thưa:

- Nước con an ổn.

- Ông do xem kinh được hay do tham vấn được?

- Chẳng do xem kinh hay tham vấn mà dược.

- Có người chẳng xem kinh, chẳng tham vấn, tại sao chẳng được?

- Chẳng phải không họ được, chỉ vì không chịu thừa nhận.

Dược Sơn ngó Đạo Ngô, Vân Nham, hỏi:

- Tin tôi chưa?

Một hôm, Cao đến từ giả Dược Sơn, Dược Sơn bảo:

- Sanh tử là việc lớn sao chẳng thọ giới đi?

Cao đáp:

- Biết thì những việc ấy liền thôi, lại bảo thọ giới làm gì?

Dược Sơn bèn thôi.

Hôm khác, đến giờ ăn trưa, Dược Sơn đích thân đánh trống, Cao ôm bát múa đi vào phòng ăn.

Dược Sơn bỏ dùi trống xuống, hỏi:

- Đấy là hòa thứ mấy?

Cao đáp:

- Hòa thứ hai.

- Còn hòa thứ nhất đâu?

Cao đến thùng cơm lãnh một phần rồi đi ra.

(Trung Hoa Thiền Đức)

250. KHÔNG CHỖ NÀO KHÔNG ĐẾN

Khi Thiền sư Bảo Triệt ở núi Ma Cốc đang dùng quạt phe phẩy quạt mình thì một ông tăng hỏi:

- Tánh của gió là thường tại và không có chỗ nào là không đến. Sao hòa thượng còn dùng quạt làm gì?

Sư đáp:

- Ông chỉ biết tánh gió thường tại mà chưa biết đạo lý của “không chỗ nào không đến.”

Ông tăng hỏi:

- Thế nào là đạo lý của “không chỗ nào không đến?”

Sư phe phẩy quạt mình. Ông tăng bái tạ thật sâu.

(Chánh Pháp Nhãn Tạng)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2014(Xem: 28821)
Bản dịch tiếng Việt Ba Trụ Thiền do chúng tôi thực hiện lần đầu tiên vào năm 1985 tại Sài gòn, Việt nam, và được nhà xuất bản Thanh Văn ấn hành lần đầu tiên vào năm 1991 tại California, Hoa kỳ đã được nhiều độc giả tiếng Việt hâm mộ. Chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả quí độc giả và hành giả tu tập thiền nhiệt tình, và nhà xuất bản Thanh Văn.
03/10/2013(Xem: 14815)
Qua đề tài: “Sự tương quan giữa các pháp môn hành trì Thiền – Tịnh – Luật của người tu tập” mà chiều hôm nay sau hai tiếng đồng hồ với 11 ý kiến phát biểu, chia sẻ và cùng nhau thảo luận, chúng tôi hết sức hoan hỷ và trân trọng tinh thần tham gia đóng góp ý kiến của Đại chúng. Qua đó chúng tôi xin rút gọn lại và có mấy ý kiến đóng góp them để cùng nhau chia sẻ với Đại chúng như sau:
11/05/2013(Xem: 11320)
“Zen” là lối phát âm của Nhật Bản của danh từ Ch’an của Trung Hoa, mà từ này lại là lối phát âm theo từ Dhyana của Phạn ngữ có nghĩa là “thiền.” Điểm đặc biệt của công phu tu tập đạt đến giác ngộ của Đức Phật là quán chiếu nội tậm. Vì lý do nầy mà nhiều người tin rằng rằng họ thiền quán để thành Phật. Vâng, họ đúng. Mục tiêu cuối cùng của bất cứ người con Phật nào cũng là thành Phật; tuy nhiên, thiền tự nó không làm cho bất cứ chúng sanh nào thành Phật.
23/04/2013(Xem: 15834)
Trong thời đại của chúng ta hôm nay, thiền không phải chỉ là pháp môn tu tập để kiến tánh thành Phật, vốn được xem như là sắc thái đặc thù của chốn sơn môn, mà đã và đang trở thành những phương thức trị liệu đầy kiến hiệu trong các ngành tâm lý và xã hội. Ở cả Đông và Tây phương, con người càng ngày càng trực nhận ra được khả tính ưu việt và độc đáo của thiền trong việc giải thoát những khổ luỵ, những ưu phiền của đời sống cá nhân và xã hội.
23/04/2013(Xem: 7784)
Sách này được thực hiện để trước là báo tứ trọng ân, sau là giúp người sơ học. Bên cạnh các sách Thiền bằng Việt ngữ do các thiền phái sọan, dịch và xuất bản ở VN tương đối đã nhiều và đầy đủ, tuyển tập này hy vọng sẽ trình bày thêm một số thông tin khác, được nhìn từ nhiều hứơng khác nhau. Ba truyền thống chính trình bày trong sách này chỉ là vì tiện lợi. Mỗi bài đều tự hòan tất, và độc giả có thể đọc thẳng từ bất kỳ bài nào, không cần thứ tự.
23/04/2013(Xem: 12201)
Người ta không thể diễn tả vẻ tráng lệ của hoàng hôn cho một người mù bẩm sinh. Cũng thế, bậc thánh không thể mô tả trí tuệ thân chứng cho phàm phu tục tử. Nếu Ðạo nằm trong giáo lý, thì bất cứ ai cũng thành thánh được, sau khi đọc Chí Tôn Ca hay Ba Tạng Kinh điển. Nhưng sự thực là, người ta có thể suốt đời nghiên cứu kinh điển mà không minh triết hơn chút nào.
23/04/2013(Xem: 10458)
Ðây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc đời qua con đường tâm linh. Con đường đạo của Ðức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người. Bất cứ ai với lòng quyết tâm và thiện ý đều có thể đi trên con đường này để đạt được tự do, giải thoát cho thân tâm.
22/04/2013(Xem: 13477)
Ngày nay việc thực hành Thiền Quán đã được phổ biến rộng rãi khắp thế giới, tuy nhiên, để đạt được sự thành công như hiện nay, pháp hành này đã trải qua nhiều biến đổi tế nhị. Thay vì được giảng dạy như một phần chính yếu của con đường tu tập Phật giáo, bây giờ pháp hành này thường được trình bày như một môn học thế gian mà những kết quả đạt được thuộc về đời sống trong thế giới này hơn là sự giải thoát siêu thế gian.
22/04/2013(Xem: 10205)
Vào mùa Xuân năm 1992, chiếc máy Fax trong văn phòng của giáo sư Richard Davidson ở khoa Tâm lý học thuộc Viện Đại học Wisconsin bất ngờ in ra một bức thư của Tenzin Gyatso, vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 của Tây Tạng. Giáo sư Davidson là một nhà thần kinh học được đào tạo từ Viện Đại học Harvard, ông đã nổi danh nhờ công trình nghiên cứu về các tình cảm tích cực, và tin đồn về những thành tựu khoa học của ông đã lan truyền đến miền Bắc Ấn Độ.
22/04/2013(Xem: 12284)
Tại các quốc gia Âu Mỹ, pháp thiền trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy thường được hiểu như là pháp thiền minh sát, cho đến nổi có nhiều người thực hành trong truyền thống này xem mình như là các thiền giả minh sát. Tuy nhiên, các bản kinh Pali -- tài liệu cổ xưa ghi lại các bài giảng của Đức Phật, không xem thiền minh sát như là một hệ thống tu thiền độc lập nhưng là một thành tố của một cặp kỷ năng hành thiền gọi là Samatha và Vipassanà, An Chỉ và Minh Quán -- hay Chỉ và Quán.