Om mani padme hum

19/01/201105:56(Xem: 14968)
Om mani padme hum

TRÍHUỆVÀ ĐẠI BI

TenzinGyatso Dalai Lama thứ 14
Nguyêntác:Kindness, Clarity and Insight, Snow Lion Publications Ithaca NewYork USA 1990
BảndịchViệt: Thiện Tri Thức 2000 PL. 2543


OMMANI PADME HUM*

Thựchànhthần chú Om mani padme hum là một điều tuyệt hảo, nhưngcần phải chú ý vào ý nghĩa của nó khi người ta trì tụng,bởi vì sáu âm có một tầm rộng và sâu.

Âmthứ nhất Om, thật ra tạo bằng ba chữ A, U, M, tượng trưngcho thân, ngữ và tâm thức bất tịnh của thiền giả. Chúngcũng tượng trưng cho thân, ngữ và tâm thức thanh tịnh tuyệtvời của một vị Phật. Những yếu tố bất tịnh này cóthể chuyển hóa thành những yếu tố thanh tịnh không ? Chúngcó hoàn toàn khác biệt với nhau không ? Tất cả chư Phậtđã là người như chúng ta và đã đạt đến giác ngộ bằngcách đi theo đường đạo. Theo Phật giáo, lúc ban đầu khôngai thoát khỏi những bất toàn và có đầy đủ mọi phẩmtính. Thân, ngữ và tâm trong sạch bởi một sự từ bỏ dầndần những trạng thái bất tịnh, cho đến lúc chuyển hóathành trạng thái thanh tịnh.

Mộtsự chuyển hóa như thế hoàn thành như thế nào ? Tất cảlộ trình được chứa đựng trong bốn âm sau đây.

Maninghĩa là viên ngọc và tượng trưng những yếu tố của phươngtiện – ý định vị tha đạt đến giác ngộ, đại bi, đạitừ. Như một viên ngọc chấm dứt sự nghèo khổ, ý địnhvị tha được giác ngộ có quyền lực loại bỏ sự thốngkhổ và những khó khăn trắc trở của vòng sanh tử và củacả sự giải thoát riêng cho cá nhân mình. Như một viên ngọclấp đầy những nguyện vọng của những chúng sanh, ý địnhvị tha được giác ngộ thành tựu những mong mỏi của họ.

Haiâm của chữ padme có nghĩa là “hoa sen” và tượng trưngcho trí huệ, bởi vì, cũng như hoa sen mọc lên trong bùn màkhông dơ nhiễm bởi sự bất tịnh của bùn, trí huệ có quyềnlực làm cho chúng ta trọn vẹn, còn khi không có nó, chúngta rơi vào mâu thuẫn.

Dướinhiều hình thức đa dạng, trí huệ là sự thấu hiểu vôthường ; sự thấu hiểu rằng cá nhân thì không có hiệnhữu riêng, sự thấu hiểu cái bất nhị (của sự phân biệtchủ thể và đối tượng), sự thấu hiểu vô tự tánh. Trongmọi mặt mà trí huệ biểu lộ, sự thấu hiểu tánh Khônglà cái quan trọng nhất.

Khônglìa nhau, phương tiện và trí huệ phải hợp nhất để chosự tịnh hóa hoàn thành. Sự hợp nhất của chúng đượctượng trưng bởi âm cuối cùng, hum, dấu hiệu của khôngchia biệt. Trong con đường kinh điển, sự không chia biệtcủa phương tiện và trí huệ có nghĩa là mỗi cái có mộtâm hưởng trên cái kia. Trong Mật thừa, sự không chia biệtlà sự kiện một tâm thức trong đó phương tiện và trí huệ,trong hình thức hoàn mãn của chúng, kết hợp với nhau thànhmột thực thể không khác biệt.

Trongbối cảnh năm đức Phật chiến thắng, hum là âm chủng tựcủa A Súc Bệ Phật, bất động, bất loạn, vị không gìcó thể tác động.

Vậythì sáu âm của thần chú om mani padme hum cho chúng ta biếtrằng, qua sự thực hành con đường, trong sự kết hợp khôngthể phân chia của phương tiện và trí huệ, chúng ta có khảnăng làm cho thân, ngữ, tâm bất tịnh của chúng ta thành thân,ngữ, tâm thanh tịnh siêu việt của một vị Phật. Phật tánhkhông thể được tìm ở đâu khác ngoài tự nơi mình, vìnhững yếu tố cần thiết cho sự thành tựu của nó thì ởnơi chúng ta. Trong Dòng cao cả của Đại thừa, Maitreya nóirằng Phật tánh nội tại trong dòng hiện sinh của mọi chúngsanh. Bị chôn dấu trong chúng ta, hạt giống của sự thanhtịnh, tinh túy của Như Lai (tathagatagarbha) chờ đợi sự chuyểnhóa và sự khai mở trọn vẹn của nó trong Phật tánh.

 

 





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 10019)
Như chúng ta đã biết, con đường giải thoát sinh tử khổ đau là con đường Giới, Định, Tuệ. Nói gọn là con đường Thiền định với "Ba mươi bảy phẩm trợ đạo" là tiêu biểu. Thế Tôn dạy: "Này các Tỷ kheo, khi nào các Thầy có giới khéo thanh tịnh và Chánh tri kiến, các Thầy hãy y cứ trên giới, tu tập Tứ Niệm Xứ theo ba cách: Nhiệt tâm, Chánh niệm tỉnh giác và nhiếp phục tham ưu ở đời"
09/04/2013(Xem: 19005)
Người Tây Phương đã có những công trình nghiên cứu đạo Phật một cách qui mô vào cuối thế kỷ 19. Những học giả người Anh, người Đức, tiêu biển nhất là những hội viên của Pali Text Society và Royal Asiatic Academy đã để lại những dịch phẩm, tác phẩm mà đến nay vẫn mang giá trị to lớn cho Phật học thế giới. Một số cá nhân đi xa hơn trở thành những tu sĩ Tây phương tại các quốc gia Phật giáo. Họ tìm thấy môi trường tu tập tuyệt vời khi sống giữa những người Phật tử Á Đông.
09/04/2013(Xem: 9904)
Thiền định , thiền quán và thiền định thiền quán song tu, hay nói gọi theo thời xưa là Chỉ, Quán và Chỉ Quán song tu, của Đại thừa được đặt trên thực tại tối hậu mà các kinh thường gọi là Thật tướng của tất cả các pháp.
04/04/2013(Xem: 9206)
"Như Lai Thiền trong kinh tạng Pàli, hay Hành Thiền, một nếp sống lành mạnh trong sáng, một phương pháp giáo dục hướng thượng", là một công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến Như Lai Thiền mà không đề cập đến Tổ Sư Thiền.
02/04/2013(Xem: 3962)
Tất cả những ai đến thực tập Thiền Minh Sát Tuệ [hay Thiền Minh Sát] đều mong phát triển Trí Tuệ thật nhanh. Tất cả những ai chưa khai triển Trí Tuệ đều mong phát sanh Trí Tuệ thật nhanh. Tất cả những ai đã có vài Tuệ giác đều mong phát triển thêm Trí Tuệ thật nhanh. Mọi người mong phát triển Trí Tuệ thật nhanh.
21/03/2013(Xem: 18674)
NIẾT BÀN, phỏng dịch theo nguyên bản mang tựa đề: “NIRVANA IN A NUTSHELL” của SCOTT SHAW, do Barnes & Noble ấn hành năm 2003. Tác giả Scott Shaw là một nhà văn điêu luyện, một nhà giáo, một nhà võ và đồng thời là một Phật tử thuận thành.
28/12/2012(Xem: 17084)
Nguyên tác Hoa ngữ của “66 cầuthiền ngữ” này là “Lục thập lục điều kinhđiển thiền ngữ” (六十六條經典禪語),có nghĩa là “66 câu thiền ngữ trong Kinhđiển [Phật giáo]”, được phổ biếntrên internet vào khoảng năm 2004. Bản dịch tiếng Việt được phổ biến năm 2010,có tựa đề là “66 cầu làm chấn động thiền ngữ thế giới” hoặc “66 câu Phật họclàm chấn động thiền ngữ” đều không chuẩn với nguyên tác Hoa ngữ, đồng thời, đãthêm cụm từ “chấn động thế giới” và tỉnh lược từ “kinh điển”.
17/11/2012(Xem: 5396)
Thân người có ba chứng bệnh là bệnh thuộc về phong, bệnh thuộc về hàn và bệnh thuộc về nhiệt, nhưng ba chứng bệnh này gây họa không lớn, chỉ khổ trong một đời. Tâm cũng có ba nhóm bệnh, nhưng ba bệnh này gây họa thật nghiêm trọng, khiến con người phải chịu khổ đau vô lượng kiếp. Chỉ có Đức Phật, một đại lương y mới có thể ban thuốc chữa trị. Người tu hành trong vô lượng thế giới mãi bị các căn bệnh hiểm nghèo này, hôm nay mới có cơ hội tu dưỡng đức hạnh. Thế nên phải có ý chí kiên định, siêng năng tu tập, không tiếc thân mạng. Như một chiến tướng xông trận, nếu lòng không kiên định thì không thể phá giặc, phá giặc loạn tưởng
03/10/2012(Xem: 7749)
Con đường hướng về sự nhẹ nhàng, chẳng lẽ không là hướng mở đúng đắn giữa một nhịp sống chẳng “nhẹ” chút nào, giữa bao nhiêu lực tấn công từ mọi phía...
30/09/2012(Xem: 12710)
Từ xưa, Phật giáo Trung Hoa cho hệ thống những người chuyên tâm tọa thiền là Thiền tông bao gồm cả hai hệ thống Thiên Thai và Tam Luận chớ không nhất thiết chỉcó Đạt Ma tông. Nhưng từ đời Đường về sau, Đạt Ma tông trở nên hưng thịnh vì thế từ ngữ Thiền tông liền chuyển sang để chỉ cho Đạt Ma tông.