Tìm hiểu Kinh Bộc Lưu

24/08/202517:56(Xem: 3146)
Tìm hiểu Kinh Bộc Lưu
dai duong 

TÌM HIỂU KINH BỘC LƯU
(Oghatarana Sutta)

Thích Hạnh-Giải soạn tại Chùa Phật-Linh
(TX Phú Mỹ, Bà rịa-Vũng tàu, VN)


I) Giới thiệu:

  

      Suốt 45 năm hoằng hóa, Đức Phật chỉ ngủ nghỉ 3 giờ mỗi đêm. Buổi sáng, Đức Phật và đại Thánh chúng Tỷ kheo đi khất thưc, có thể, sau khi thọ thực, Ngài và Thánh chúng đi đến các vùng xa để độ cho người hữu duyên, hoặc, trở lại Tịnh xá để tiếp Đức Vua, hoàng hậu, các đại thí chủ, các sa-môn, quần chúng Bà-la-môn.... Khi ngày đã tàn, Ngài thuyết pháp cho Chư Tăng. Khi đêm gần tàn, Ngài thuyết pháp cho Thiên chúng. Trong Đại Tạng Kinh pali có rất nhiều bài Kinh ghi lại lời khai thị của Đức Thế Tôn cho Thiên chúng. Bài Kinh "Bộc Lưu" (Oghatarana Sutta), là một trong số đó.

     Chúng tôi đã tác ý muốn tìm hiểu bài Kinh Bộc Lưu đã xuất hiện cách đây gần tròn 26 thế kỷ. Bài Kinh "Bộc lưu" rất ngắn, chỉ vỏ vẹn 201 từ, đậm tính ẩn dụ, khó hiểu; ý nghĩa bài Kinh không chỉ nằm ở nghĩa đen mà còn được mở rộng, và, cần phải vận dụng đến hình ảnh và liên tưởng. Chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu theo  khả năng cho phép.

     

II) Nguyên văn bài Kinh Bộc Lưu:

 “Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Độc).

Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetàvana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:

- Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?

- Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.

- Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?

- Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.

(Vị Thiên):

Từ lâu, tôi mới thấy.

Bà-la-môn tịch tịnh.

Không đứng, không bước tới,

Vượt chấp trước ở đời.

 

Vị Thiên ấy nói như vậy và bậc Đạo Sư chấp nhận. Vị Thiên ấy biết được: "Thế Tôn đã chấp nhận ta". Vị ấy đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ.”

 

III) Tìm hiểu bài Kinh Bộc Lưu

 

     1/ Xuất xứ:

 

          Bài Kinh "Bộc Lưu" rất ngắn, vỏn vẹn 201 từ tiếng Việt, là bài kinh mở đầu Tập I : Thiên Có Kệ;  Chương I:  Tương Ưng Chư Thiên; Phẩm I: Phẩm Cây Lau.

          Kinh Bộc Lưu là bài kinh được xếp ở vị trí đầu tiên trong 2.775 bài Kinh thuộc TƯƠNG ƯNG BỘ (Samyutta Nikàya), gồm 5 tập rất dày. Tập mỏng nhất cũng đã hơn 500 trang.

 

      2) 6 điều kiện cần và đủ để bài Kinh xuất hiện đậm tính lịch sử: thời điểm, nơi chốn, người thuyết, thính chúng, thành tựu pháp & người trùng tụng lại bài Kinh.

 

         2.1) Thời điểm :

         Như thường lệ, đêm gần tàn, rạng sáng, Đức Thế Tôn đi kinh hành ngoài trời, là thời điểm chư  Thiên các cõi xuất hiện thỉnh Pháp. Sáng sớm hôm ấy, chỉ có một vị Thiên xuất hiện, đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Thế Tôn, đứng một bên, rồi vị Thiên không vòng vo, sử dụng ngôn ngữ đăc thù, đậm ý nghĩa ẩn dụ, như một người đã thành thạo Giáo Pháp, hỏi "xoáy" vào vấn đề mà chính bản thân Đức Phật đã trải qua: "Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi vượt khỏi bộc lưu?"

      

         2.2) Nơi chốn:

         Bài Kinh đã ra đời tại Kỳ Viên Tịnh Xá (Jetavana-Thắng Lâm) gần kinh thành Xá Vệ (Sàvatthi), thuộc Vương quốc Kiều Tất La (Kosala) của vua Ba tư Nặc (Pesanadi) trị vì, nơi Đức Thế Tôn đang ngự.

 

         2.3) Người thuyết & 2.4) Thính chúng:

          Trong thời điểm đêm gần tàn, tại Kỳ Viên tịnh xá. Không có thính chúng, chỉ có một vị Thiên xuất hiện đảnh lễ Đức Thế tôn, thưa hỏi Đức Thế Tôn hai câu thật ngắn gọn, rất ẩn dụ. Đức Thế Tôn ôn tồn trả lời hai câu cũng thật ngắn gọn, cô đọng, rất ẩn dụ, tương xứng.

 

         2.5) Thành tựu pháp:  

           Nghe hai câu trả lời của Thế Tôn, vị Thiên đã ứng khẩu đọc bài kệ 4 câu. Bài kệ chưa phát lộ nhận thức mới mẻ nào. Được vậy cũng đã  tốt rồi, Đức Thế Tôn im lặng.

 

         2 .6) Người trùng tụng tạng Kinh:

           Tất cả những bài Kinh Phật thuyết đã được kết tập trong Đại tạng Kinh Pali. Câu đầu tiên trong mỗi bài Kinh phải là câu "Tôi nghe như vầy". Như một lời làm chứng cho mỗi bài Kinh ( thời điểm, nơi chốn, người thuyết và  thính chúng), như thế là đúng Sự Thật.

        "Tôi" trong câu "Tôi nghe như vầy" là ai? -- Là ngài A Nan (Ananda).

          Thời điểm, cuộc vấn đáp giữa vị Thiên và Đức Thế Tôn diễn ra, lúc ấy, khi đêm đã gần tàn, đâu có ngài A-nan ở đó chứng kiến, vậy lý do gì bài Kinh Bộc Lưu đã ghi câu đầu tiên "Tôi (A-nan) nghe như vầy"?

          10 vị đại đệ tử của Thế Tôn, trong đó có tôn giả A-nan (Ananda). Mỗi vị đại đệ tử bộc lộ năng lực vựợt trội khác nhau; năng lực vượt trội của tôn giả A-nan là đa văn đệ nhất, trí nhớ siêu việt. Xin nhắc lại một sự kiện quan trọng, liên quan đến câu "Tôi nghe như vầy" : Khi Thế Tôn đã 55 tuổi, Tôn giả A Nan được đại Thánh chúng đề cử làm thị giả Thế Tôn. Được đề cử làm thị giả Thế Tôn, Tôn giả A-nan rất hoan hỷ, nhưng, Tôn giả A nan đã đệ trình 8 điều kiện trước đại Thánh chúng và Đức Thế Tôn xem xét. Nếu Đức Thế Tôn và Đại Thánh chúng chấp thuận, thì, Tôn giả A nan mới hoan hỷ phụng hành. Và, 8 điều kiện của tôn giả A-nan đã đươc Thế Tôn khen ngợi. Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikaya), đã ghi lại đủ Tám điều kiện mà Tôn giả A-nan yêu cầu. Trong đó, điều kiện thứ 8, điều kiện cuối cùng, đã ghi rõ:  "Trong trường hợp Đức Thế Tôn thuyết pháp không có mặt A- nan thì A-nan được phép thỉnh cầu Đức Thế Tôn thuyết lại cho  A-nan nghe và ghi nhớ".

        Thời điểm bài Kinh Bộc Lưu ra đời không có mặt tôn giả A-nan, nhưng, sau đó, Thế Tôn đã thuyết lại cho tôn giả A-nan nghe và ghi nhớ nằm lòng.

         Sau khi Đức Thế Tôn diệt độ 3 tháng tại Kushinagar, tôn giả Đại Ca Diếp (Maha -Kassapa), đầu đà đệ nhất, đã triệu tập 499 vị trưởng lão A-la-hán tham dự đai hội kết tập Kinh, Luật lần thứ nhất, tại hang động Thất Diệp (Satiapanni), cách thành Vương Xá (Ràjagaha) hơn 10km. Đại Thánh chúng A la hán (Arahant) tham dự đại hội kết tập đã nhất tâm hoan hỷ đề cử tôn giả Đai Ca Diếp (Maha Kassapa) làm thượng thủ có thẩm quyền đặt các hỏi, giải quyết thắc mắc cho đại chúng về Pháp và Luật với tinh thần hòa hợp; tôn giả A Nan đươc đề cử trùng tụng Tạng Kinh (Sutta Pitika); Tôn giả U Ba Li (Upali) được đề cử trùng tụng Tạng Luật (Vinaya Pitika). Vì thế, dòng đầu tiên của bài Kinh Bộc Lưu đã ghi "Tôi (A nan) nghe như vầy" là sự thật.

 

      3) Giải thích từ ngữ:

 

      -- Vị Thiên: gọi chung các chúng sanh trong Tam giới. Tam giới gồm 28 coĩ .

         Do phước báu đã tạo khác nhau, tri kiến khác nhau, định tuệ khác nhau, nên, chúng sanh hóa sanh về các cõi trời cũng sẽ khác nhau về giới vực, về cõi, và, về thọ mạng.

         Chư Thiên thường lui tới địa cầu -- nơi loài người ở -- là chư Thiên 1 trong 6 cõi trời Dục giới nầy.

 

      Tiện đây, xin vắn tắt, đầy đủ các cõi trời Dục Giới theo thứ tự từ thấp lên cao.

      * Dục giới gồm 11 cõi, trong đó gồm 4 cõi khổ và 7 cõi thiện Dục giới:

 

     * 4 cõi khổ: Địa Ngục (Niraya), Ngạ Qũy (Pettivisaya), Súc sanh (Tiricchànayoni), A-Tu-La (Asurakàya). Tuổi thọ không nhất định.

 

     * 7 cõi thiện Duc giới: gồm 1 cõi người và 6 cõi trời Dục giới.

 

  -- Cõi người (Manussa): Nơi ở của loài người là hành tinh xanh -- địa cầu.

      Nói về cõi người, được làm người rất là khó. một khi đã đươc làm người, dù xấu, đep cũng rất cao quý, rất thiêng liêng. Đây là cõi ít phước, tự bương chải nuôi sống, nhưng, được tự do, không ai kiểm soát được tâm người khác. Vì thế, nếu âm thầm, nhất niệm, tinh tấn tu tập, họ  có thể hóa sanh trong 6 cõi trời Dục giới, hoặc, các cõi trời cao hơn, hay, trở thành vị Thánh không gì khó. Và, họ có thể tái sanh vào 4 đọa xứ: địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh ... quá dễ, nhanh như tên bắn. Hóa sanh, tái sanh hay đọa lạc tùy thuộc vào nhận thức và hành vi thiện, bất thiện đã tạo ra.

       Tuổi thọ cõi người, thật ngắn, trung bình 60 năm.

       Chư Phật luôn xuất hiện ở cõi người, vì, chúng sanh nơi cõi người rất kinh nghiệm về khổ, và, có khả năng nắm bắt, nhạy bén nhận biết pháp Chân Đế (Chân nghĩa pháp, hay, Sự thật Tối hậu). Đây là ưu thế, chỉ có ở cõi người!

 

       Tổng quan về chư Thiên trong 6 cõi Dục giới, tâm của họ vẫn còn tưởng đến dục, nên được xếp vào Dục giới.

    -- Tứ Thiên Vương (Càtummahàràjika): Cõi Người là cõi dục tình, đã đành. Chư Thiên cõi Tứ Thiên Vương, cõi trời thấp nhất, họ vẫn còn thân tứơng nam nữ, nhưng, rất vi tế, nhan sắc của họ cực kỳ đẹp. Nhan sắc nam nữ nơi cõi người không thể sánh bằng. Họ vẫn còn dục tình như loài người.

        Cung điện, nơi an trú của họ do phước báu hóa hiện. Tuổi thọ của họ tuy lâu dài hơn cõi người là nhờ phước báu, nhưng, sau khi thọ hưởng hết phước báu cõi trời, thì thân hoại mạng chung, họ có thể đọa thẳng vào các cõi thấp kém, tệ hại.

       Tuổi thọ của chư Thiên cõi nầy bằng 9.000.000 năm cõi người.

       Trong cõi Tứ Thiên Vương còn có rất nhiều sơn thần, địa thần, thủy thần ... sống trà trộn với loài người. Các Thần tuổi thọ dài hơn cõi người, ngắn hơn cõi trời.

   -- Đao Lợi Thiên, hay, Tam Thập Tam Thiên (Tàvatimsa): Là nơi cư ngụ của Vua trời Đế Thích. Tuổi thọ bằng 36.000.000 năm cõi người.

     -- Da Ma Thiên (Yama): Yama có nghĩa là diệt trừ. Nơi đây, mọi đau khổ được tiếp tuc diệt trừ bằng Định, Tuệ. Tuổi thọ bằng 144.000.000 năm cõi người.

     -- Đâu Suất Đà Thiên (Tusita): Chư Thiên ở cõi nầy không biết khổ là gì. Bồ tát Di Lặc đang có mặt tại đây. Khi loài người, số đông, sống theo thiện pháp, chán bỏ ác pháp thì Bồ tát sẽ vào thai làm người, và, thành Phật. Tuổi thọ bằng 576.000.000 năm cõi người.

    -- Hóa Lạc thiên (Nimmànarati): Những chư Thiên sống hạnh phúc trong những tòa lâu đài, do đại phước báu của họ hóa hiện. Tuổi thọ bằng 2.304.000.000 năm cõi người.

    -- Tha Hóa Tự Tại Thiên (Paranimmitavasavatti): là tầng trời cao nhất trong các tầng trời Dục giới. Chư Thiên ở cõi nầy sống tự tại, không quan tâm gì cả. Lâu đài, vật dụng đều do chư Thiên cấp thấp hóa hiện ra cho chư Thiên cõi nầy sử dụng. Tuổi thọ bằng 9.216.000.000 năm cõi người.

 

     Vị Thiên trong bài Kinh Bộc Lưu là một trong số các chư Thiên trong 6 cõi thuộc Dục giới nầy.

     Trở lại, tiếp tục giải thích từ ngữ:

   

     -- Nhan sắc thù thắng: Sắc đẹp vượt trội. Nhan sắc thù thắng, và, hào quang chói sáng là do phước báo sanh, do tâm có giới sanh, do tâm có định, có tuệ sanh.

 

    -- Tôn giả: là danh hiệu tôn xưng những vị đã thực chứng một trong 4 Thánh quả, thường là các vị đệ tử xuất sắc của Đức Phật. Những người ngoại đạo, tu sĩ hoặc cư sĩ, khi diện kiến Đức Phật cũng thường gọi Đức Phật là Tôn giả.

 

    -- Hiền giả: là danh hiệu tôn xưng những vị có đức hạnh, là bậc hiền nhân, chưa vượt thoát được phiền não, chưa thấu đạt chân lý.

 

     Trong bài Kinh Bộc Lưu đã xác định địa danh Jetavana (Thắng Lâm, Kỳ Viên), ông đại thí chủ Anàthapindika (Cấp Cô Độc), thủ phủ Sàvatthi (Xá-vệ) đã được nhắc đến rất nhiều trong những bài Kinh khác rồi. Xin thông qua. Chỉ có cụm từ "Bôc Lưu" (ogha) và, từ "vượt" cần giải thích nghĩa cụ thể, và cả nghĩa ẩn dụ.

 

    -- Bộc lưu theo nghĩa cụ thể: Bài Kinh Bộc Lưu chỉ vỏn vẹn 201 từ, mà cụm từ "bộc lưu" đã lặp lại 4 lần. Bộc lưu là gì? Bộc lưu, theo nghĩa cụ thể, là dòng nước dốc, từ độ cao đổ mạnh xuống vực sâu sôi sục, rồi đào xoái tạo một  dòng chảy xiết, cuồn cuộn cuốn phăng bất cứ thứ gì mà nó tàn phá, xô đổ trên đường đi, đẩy về phía hạ du, gây chướng ngại lớn, nguy hiểm, khó cho những kẻ bộ hành vượt qua bờ kia.

      

     -- Bộc lưu theo nghĩa ẩn dụ: Bộc lưu trong bài Kinh Bộc Lưu không phải là dòng thác cụ thể ở một nơi nào đó, trên các vùng cao bề mặt đia cầu, mà, bộc lưu ở đây, là biểu tượng cần liên tưởng đến dòng thác vô hình, vô tướng, và, vô ngã. Dòng thác ấy không ở bên ngoài. Dòng thác ấy ở ngay trong Tâm thức của người chưa-giác-ngộ, đang nỗ lực cần cầu "vị ngọt" thế tục.

       Ý nghĩa ẩn dụ, thì Bộc Lưu ám chỉ dòng phiền não truyền kiếp; ám chỉ cho tâm tham, sân, si bộc phát bất cứ lúc nào, là phản ứng của đời người và người đời; ám chỉ cho Danh và Sắc, hay, năm hợp thể ngũ uẩn sinh diệt từng sát na; ám chỉ lòng tham dục, luyến ái, biên kiến, tà kiến, hoài nghi, chấp thủ, chấp ngã; ám chỉ các pháp hữu vi sinh diệt mênh mang; ám chỉ dòng sinh tử luân hồi cuồn cuộn cuốn phăng, nhận chìm, dạt trôi, lênh đênh bất tận, trùng trùng bao kiếp sống; ám chỉ chính khát vọng về dục ái, sắc ái, và, vô sắc ái đã giam giữ mọi chủ thể khát vọng trong ngục tù khát vọng.

       

Bộc lưu ấy hiện hữu khi tâm vô minh xấu ác hiện hữu. Bộc lưu ấy diệt khi tâm vô minh xấu ác diệt.

 

   -- Vượt:  "vượt" trong bài Kinh Bộc Lưu là một động từ, đã lặp lại 5 lần. Vượt là gì?

       Vượt theo nghĩa thông thường, chỉ cho chuyển động của một vật ở phía sau vượt qua một chuyển động của môt vật khác cùng chiều, phía trước. Nghĩa của từ "vượt" trong bài Kinh Bộc Lưu không theo cách hiểu thông thường là vật nầy vượt qua vật kia theo phương ngang, mà, được hiểu là: "tư tưởng chánh đạo vượt lên cao, bỏ lại những tư tưởng phàm tục, bên dưới" theo phương thẳng đứng.

 

IV) Tìm hiểu ý nghĩa thâm sâu của từng cặp vấn đáp giữa vị Thiên và Đức Thế Tôn:

 

      1) Tìm hiểu 2 câu vấn và đáp lần thứ nhất, giữa vị Thiên và Thế Tôn:

      Sau khi đảnh lễ Thế Tôn, vị thiên hỏi Thế Tôn câu thứ nhất:

      -- Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?

      Thay thế cụm từ bộc lưu theo cách ẩn dụ bằng ngôn ngữ cụ thể (xem số 3 Giải thích từ ngữ) thì câu hỏi của vị Thiên bây giờ sẽ là:

 

      "Thưa Tôn giả, làm thế nào Ngài vượt khỏi phiền não truyền kiếp? Làm thế nào Ngài vượt khỏi tâm tham, sân, si bộc phát bất cứ lúc nào? Làm thế nào Ngài vượt khỏi Danh và Sắc, hay, năm hợp thể ngũ uẩn sinh diệt từng sát na? Làm thế nào Ngài đoạn trừ lòng tham dục, luyến ái, biên kiến, tà kiến, hoài nghi, chấp thủ, chấp ngã? Làm thế nào Ngài thoát khỏi các pháp hữu vi sinh diệt mênh mang? Làm thế nào ngài thoát khỏi dòng sinh tử luân hồi cuồn cuộn cuốn phăng, nhận chìm, dạt trôi, lênh đênh bất tận, trùng trùng bao kiếp sống? Làm thế nào Ngài thoát khỏi khát vọng về dục ái (Kàmà tanha), sắc ái (Rupa-tanha), và, vô sắc ái (Arupatanha) đã giam giữ mọi đối tượng khát vọng trong ngục tù khát vọng?

 

     -- Đức Thế Tôn trả lời vị Thiên câu hỏi thứ nhất cũng rất đặc biệt, tương xứng, thích đáng, ẩn dụ:

 

      "Này hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu."

 

       Câu hỏi thứ nhất của vị Thiên dùng từ không bình thường, không dung dị, ẩn dụ. Dường như, vị Thiên có vẻ tự nhận mình là tay sành sỏi. Thế Tôn trả lời cũng rất đặc biệt, không bình thường, không dung dị, ẩn dụ, tương xứng với cách vị Thiên sử dụng ngôn từ.

    

      ( Câu trả lời của Thế Tôn cho vị Thiên, như một công án thiền mà các Tổ sư thiền về sau đã theo đó áp dụng và phát triển... Thiền sư hỏi, hoặc, thiền sư trả lời một câu ẩn mật; hành giả phải sẵn trực giác bén nhạy mới nhận ra tâm yếu.)

 

      Câu trả lời câu hỏi thứ nhất, Thế Tôn đã nhấn mạnh hai phũ định trái ngược nhau: "không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu". Rất ẩn dụ, thật khó hiểu!

 

      Bình thường xưa nay, một người đang dịch chuyển trên con đường hay trên mặt đất phẳng, người ấy hoặc là đứng lại, hoặc là bước tới, chứ không thể "không đứng lại", "không bước tới". Bồ tát Gautama Siddhartha sau khi đã đại giác ngộ dưới cội Bồ đề thành một vị Phật. Thành một vị Phật, Ngài vẫn còn thân ngũ uẩn thì Ngài vẫn phải được xác định vị trí, tọa độ trong không gian vật lý; nếu Ngài "không đứng lại" tức là Ngài đang xê dịch khỏi điểm đứng ban đầu; nếu Ngài "không bước tới" tức là Ngài đang còn ở vị trí điểm đứng ban đầu, tức là Ngài chưa xê dịch. Như vậy, câu trả lời thứ nhất của Thế Tôn cho vị Thiên " Này hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bôc lưu", vậy có phi lý không? Câu trả lời là không. Vị Đại Giác Ngộ một khi khai thị Giáo pháp cho chúng nhân thiên, bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu, lời khai thị của Thế Tôn luôn mở cửa chân lý, không thể phi lý được.

      Nếu không phi lý, vậy ý nghĩa của câu trả lời thứ nhất của Thế Tôn "Này hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu" được hiểu như thế nào?

      -"không đứng lại", "không bước tới", "Ta vượt khỏi bộc lưu"  không phải là 3 hành vi thuộc động năng, mà là 3 thái độ tư tưởng, không phải là 3 động tác thuộc thân vật lý.

     -"Không đứng lại" là không sử dụng động năng, chỉ là thái độ tư tưởng không e ngại, không sợ hãi, từ bỏ, trút bỏ mọi thằng thúc, trút bỏ mọi lầm chấp có tính di truyền, có tính kế thừa qua bao thế hệ trong chủng loại người. Vì, đã thấu rõ tính chất nguy hiểm của bộc lưu, nên, không đứng lại. (Xem lại giải thích từ "bộc lưu" theo nghĩa ẩn dụ, ở trên.)

      -"Không bước tới" là không sử dụng động năng, chỉ là thái độ tư tưởng không thỏa hiệp, không hòa tan, không chấp nhận tư tưởng lầm lạc mang tính truyền thống, lớp trước di truyền lớp sau của chủng loại người. Vì, đã thấu rõ tính chất nguy hiểm của bộc lưu, nên, không bước tới. (Xem lại giải thích từ "bộc lưu" theo nghĩa ẩn dụ, ở trên.)

     -"Ta vượt khỏi bộc lưu" là kết quả của tư tưởng chủ đạo, bằng con đường Trung Đạo

 vượt khỏi mọi hấp lực tà kiến, tà tín, tà tư duy, tà hạnh, thiên chấp đã truyền thừa từ nhiều tầng, nhiều lớp, qua nhiều thế hệ trong chủng loại người.

 

      2) Tìm hiểu 2 câu vấn và đáp thứ hai giữa vị Thiên và Thế Tôn:

 

         Vị Thiên hỏi câu thứ hai hỏi với Thế Tôn:

 

       - Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?

 

        Vị Thiên nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetàvana không thể không bị hụt hẫng, bối rối, đứng hình, kinh ngạc, tan chảy ngã mạn dư tàn khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi thứ nhất: " không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu".

Khi nghe vị Thiên đặt câu hỏi thứ hai: "Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu? Chúng ta có cảm tưởng chất giọng của vị Thiên có vẽ mềm hơn, tha thiết hơn, không giấu được tâm trạng vừa ngỡ ngàng, vừa bàng hoàng.

 

      Đức Thế Tôn trả lời:

 

    - Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.

 

      Thế Tôn trả lời câu hỏi thứ hai, Ngài đã giải thích lý do tại sao Ngài không đứng lại, vì đứng lại thời Ngài chìm xuống; lý do tại sao Ngài không bước tới, vì bước tới thời Ngài trôi giạt. Do vậy, Ngài không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu. Câu trả lời của Đức Thế Tôn dù đã giãi thích rõ nghĩa hơn, nhưng, vẫn đậm tính ẩn dụ tương thích với cách sử dụng ngôn ngữ ẩn dụ của vị Thiên.

     

      Chúng ta hiểu như thế nào về ý nghĩa "đứng lại" và "chìm xuống"  trong câu: " Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống"?

      -"đứng lại" là chấp nhận sống theo bản năng, sống theo thị hiếu, lợi dưỡng, buông xuôi theo dòng trôi thế tục. "đứng lại" là nhân của bất hạnh.

      -"chìm xuống" ám chỉ sự sa đọa, chìm sâu trong dòng chảy cuộc đời. "chìm xuống" là quả của bất hạnh.

  

      Chúng ta hiểu ý nghĩa như thế nào về "bước tới" và "trôi giạt" trong câu: " Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt"?

      -"bước tới" là toa rập, thỏa hiệp với tư tưởng và hành động theo lề thói của chủng loại, bầy đàn đã lập sẵn, đã định huớng sẵn từ xa xưa rồi; không cần động não, không thắc mắc, không cải cách, không sửa đổi, nhẫn chịu mọi may rủi ro, chấp nhận số phận . "bước tới" trong thỏa hiệp là nhân của mọi khổ đau.

      -"trôi giạt" là mặc kệ, tới đâu hay tới đó; ai sao tôi vậy... "trôi giạt" là quả của mọi khổ đau.

       

      Chúng ta hiểu ý nghĩa như thế nào về "không đứng lại", "không bước tới" trong câu:  "do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu".

      -"không đứng lại" là không chấp nhận sống theo bản năng, sống theo thị hiếu, lợi dưỡng; không buông xuôi theo dòng trôi thế tục. "không đứng lại" là nhân của giải thoát.

      -"không bước tới" là không thỏa hiệp với mọi sinh hoạt thuộc truyền thống đã chế định. "không bước tới" nhân của giải thoát.

      *"không đứng lại, không bước tới" là chỉ cho con đường Trung Đạo tránh xa hai cực đoan: khổ hạnh và lợi dưỡng; căng thẳng và chùng xuống..."không đứng lại, không bước tới" là chọn cách từ bỏ thật sáng suốt, thật trí tuệ.

      -"vượt khỏi bộc lưu" chỉ cho thành quả giác ngộ, giải thoát khỏi luân hồi sanh tử, trầm luân.

 

      3) Tìm hiểu ý nghĩa bài kệ 4 câu của vị Thiên, tán thán Thế Tôn:

 

          (Vị Thiên):

 

         Từ lâu, tôi mới thấy.

         Bà-la-môn tịch tịnh.

         Không đứng, không bước tới,

         Vượt chấp trước ở đời.

 

       Trên đây là bài kệ 4 câu, vị Thiên tán thán đức Thế Tôn.

 

       Tìm hiểu câu đầu tiên trong bài kệ: "Từ lâu, tôi mới thấy". Chúng ta chú ý đến hai từ : "Từ lâu" chỉ thì quá khứ, rất phù hợp với tuổi thọ của một vị Thiên. Ở cõi người, người nào thọ 80 - 100 tuổi còn chút tĩnh táo, gọi là trường thọ, được con cháu tổ chức mừng thọ rất rôm rã. Thật ra, thọ 80-100 tuổi ở cõi người chưa dài bằng một hơi thở của chư Thiên ở cõi thấp nhất: tức cõiTứ thiên vương. Cõi Tứ Thiên Vương tuổi thọ 9.000.000 năm coĩ người. Nói gì đến tuổi thọ của chư Thiên ở cõi trời Sắc giới và Vô sắc giới!

      "Từ lâu, tôi mới thấy" ý của vị Thiên muốn nói rằng: Đã lâu lắm rồi, tôi đã sống mấy triệu năm rồi, từng lui tới cõi người nhiều lần rồi, tôi chưa hề thấy, chưa từng nghe một vị minh triết, một Giáo chủ nào phát biểu: "không đứng lại, không bước tới, Ta thoát khỏi bộc lưu". Khi Đức Phật xuất hiện trong thế gian, thì tôi, lần đầu tiên,"mới thấy"!

 

      Bài kệ của vị Thiên như một bài tóm tắt về sự kiện vấn và đáp ngắn ngủi giữa vị Thiên và Đức Thế Tôn. Trong bài kệ 4 câu, không/chưa phát kiến gì mới. Như thế, cũng đã tốt rồi.

 

     "Vị Thiên ấy nói như vậy và bậc Đạo Sư chấp nhận. Vị Thiên ấy biết được: "Thế Tôn đã chấp nhận ta". Vị ấy đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ.”

         

      Khi Đức Thế Tôn chấp nhận, Ngài chỉ im lặng. Thấy Đức Thế Tôn im lặng, vị Thiên rất hoan hỷ, phấn khởi: "Thế Tôn đã chấp nhận ta"... rồi biến mất tại chỗ.

 

V) Kết luận:

     Bộc lưu ám chỉ cho phiền não; bộc lưu ám chỉ cho tham, sân, si; bộc lưu ám chỉ cho Danh, Sắc, hay,hợp thể Ngũ uẩn sanh diệt từng sát-na, đưa đến già, chết; bộc lưu ám chỉ  biên kiến, tà kiến, hoài nghi, chấp thủ, chấp ngã; bộc lưu ám chỉ về dục ái (Kàmà tanha), sắc ái (Rupa-tanha), và, vô sắc ái (Arupatanha).

     -- Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?

     -- Này hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.

 

     "Không đứng lại, không bước tới" là chỉ con đường Trung đạo, là áo nghĩa, là bí quyết vượt khỏi bộc lưu.

 

       Kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN, bài Kinh đầu tiên, Đức Thế Tôn thuyết tại Isipatana (vườn nai) khai thị cho 5 anh em ông Kiều-Trần-Như (Kondana) về con đường Trung Đạo: một, là không đắm say các dục (kàmesu), như vậy là liên hệ đến mục đích, xứng với bậc Thánh; hai là không tự hành khổ mình, như vậy là liên hệ đến mục đích, xứng với bậc Thánh.  

       Đức Thế Tôn tuyên bố: "Tránh xa hai cực đoan nầy, nầy các Tỳ kheo, là con đường Trung đạo, do Như Lai chánh giác (giác ngộ trực tiếp, không thầy hướng dẫn), tác thành mắt (thiên nhãn), tác thành trí (tuệ quán thâm sâu), đưa đến an tịnh, thắng trí (Đại trí tuệ, bất khả tỷ), giác ngộ, Niết-bàn (trạng thái tịch lặng không sanh không diệt, không xưa, không nay)".

 

       Kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN, Đức Như-lai giải thích tỉ mỉ về con đường Trung đạo:

"...thế nào là con đường Trung đạo, này các Tỷ-kheo, do Như Lai chánh giác, tác thàn mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Đây là con đường Trung đạo, này các Tỷ kheo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn."

 

      Chỉ có "Con đường Trung đạo là con đường vượt khỏi bộc lưu". 

 

      Khả năng tự thân có giới hạn, không thể tìm hiểu, giải thích hoàn chỉnh, chúng tôi tự xem "Tìm hiểu bài Kinh Bộc Lưu", là một bài "trình pháp", dâng lên các vị Tôn Túc. kính mong các vị Tôn Túc chỉ giáo.

     Nếu bệnh tật ít hành hạ, chúng tôi tác ý muốn tìm hiểu một bài Kinh khác: "Kinh BAHIYA DARUCIRIYA", Kinh Tiểu Bộ tập 1. xin dâng lên Tứ chúng trong mùa Vu lan 2025.

    

Thích Hạnh Giải

  

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn