Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Phẩm Thứ Chín: Tuyên Chiếu

25/10/201014:57(Xem: 7058)
Phẩm Thứ Chín: Tuyên Chiếu

KINH PHÁP BẢOĐÀN GIẢNG GIẢI
Hoà Thượng Thích Thanh Từ
Thiền Viện Thường Chiếu 1999 PL. 2543

PhẩmThứ Chín: Tuyên Chiếu

DỊCH

Niên hiệu ThầnLong năm đầu (705 TL) vào ngày rằm tháng giêng vua Trung Tông và Tắc Thiên banchiếu rằng:

Trẫm thỉnh hai sư An vàTú vào trong cung cúng dường, mỗi khi rảnh việc thì nghiên cứu về Nhất thừa,hai Sư đều nhường rằng: Phương Nam có Huệ Năng thiền sư được mật trao pháp ycủa Đại sư Hoằng Nhẫn, được truyền Phật tâm ấn, nên thỉnh người đến thưa hỏi.Nay sai Nội thị Tiết Giản mang chiếu nghinh thỉnh, mong Thầy từ niệm, chóng đếnKinh đô.

Tổ dâng biểu từ bệnh,nguyện trọn đời ở nơi rừng núi. Tiết Giản thưa:

Ở kinh thành, các Thiềnđức đều nói rằng: Muốn được hội đạo ắt phải tọa thiền tập định, nếu chẳng nhânnơi Thiền định mà được giải thoát là chưa từng có vậy, chưa biết Thầy nói pháp nhưthế nào?

Tổ bảo:

Đạo do tâm mà ngộ, hátại ngồi sao? Kinh nói: Nếu nói Như Lai hoặc ngồi hoặc nằm, ấy là người hànhđạo tà. Vì cớ sao? Không từ đâu lại cũng không có chỗ đi, không sanh khôngdiệt, ấy là Như Lai thanh tịnh thiền, các pháp rỗng lặng ấy là Như Lai thanh tịnhtọa, cứu kính không chứng, há lại có ngồi ư?

Tiết Giản thưa:

Đệ tử trở về kinh, Chúathượng ắt hỏi, cúi mong Thầy từ bi chỉ bày tâm yếu, để tâu lại hai cung vànhững người học đạo ở kinh thành, ví như một ngọn đèn mồi trăm ngàn ngọn đèn,chỗ tối đều được sáng, sáng mãi không cùng.

Tổ bảo:

Đạo không có sáng tối,sáng tối ấy là nghĩa thay nhau, sáng mãi không cùng cũng là có ngày hết, vì đốiđãi mà lập tên. Kinh Tịnh Danh nói: Pháp không có so sánh vì không có đối đãi.

Tiết Giản thưa:

Sáng dụ cho trí tuệ,tối dụ cho phiền não, người tu đạo như chẳng dùng trí tuệ chiếu phá phiền nãothì cái sanh tử từ vô thủy nương vào đâu mà ra khỏi.

Tổ bảo:

Phiền não tức là Bồ-đề,không hai, không khác, nếu dùng trí tuệ chiếu phá phiền não, đây là kiến giảicủa hàng Nhị thừa, căn cơ xe nai xe dê, còn những bậc thượng trí đại căn, ắtkhông như thế.

Tiết Giản thưa:

Thế nào là kiến giảiĐại thừa?

Tổ đáp:

Minh cùng với vô minh,phàm phu thấy hai, người trí rõ suốt tánh nó không hai, tánh không hai tức làThật tánh; Thật tánh ở phàm ngu mà chẳng giảm, ở Hiền Thánh mà chẳng tăng, trụtrong phiền não mà không loạn, ở trong Thiền định mà chẳng lặng lẽ, chẳng đoạn chẳngthường, chẳng đến chẳng đi, chẳng ở khoảng giữa và trong ngoài, không sanhkhông diệt, tánh tướng như như, thường trụ chẳng đổi gọi đó là đạo.

Tiết Giản thưa:

Thầy nói chẳng sanhchẳng diệt đâu khác với ngoại đạo?

Tổ bảo:

Ngoại đạo nói chẳngsanh chẳng diệt là đem cái diệt để dừng cái sanh, lấy cái sanh để bày cái diệt,diệt vẫn chẳng diệt, sanh nói không sanh. Ta nói chẳng sanh chẳng diệt là vốn tựkhông sanh, nay cũng chẳng diệt, cho nên không đồng với ngoại đạo. Nếu ông muốnbiết tâm yếu, chỉ tất cả thiện ác trọn chớ suy nghĩ, tự nhiên được vào Tâm thểthanh tịnh, lặng lẽ thường tịch, diệu dụng hằng sa.

Tiết Giản nhờ chỉ dạy,hoát nhiên đại ngộ, lễ từ trở về cung dâng biểu tâu lên những lời của Tổ. Ngàymùng ba tháng chín năm ấy có chiếu tưởng dụ Sư rằng:

Thầy từ vì già bệnh, vìtrẫm mà tu hành, làm phước điền cho đất nước. Thầy cũng như ngài Tịnh Danh giảbệnh nơi thành Tì-da để xiển dương Đại thừa, truyền tâm chư Phật, nói pháp bấtnhị. Tiết Giản truyền lại lời Thầy chỉ dạy tri kiến Như Lai, trẫm chứa được nhiềucông đức lành, gieo được hạt giống lành đời trước, mới gặp Thầy ra đời, đốn ngộpháp thượng thừa, cảm ân đức Thầy, đầu đội không thôi, cùng dâng chiếc ma-nạpca-sa và bát thủy tinh, sắc cho Thứ sử Thiều Châu sửa sang lại chùa và ban hiệuchùa cũ Thầy ở là chùa Quốc Ân.

GIẢNG

Tuyên chiếu tức làđọc chiếu nhà vua.

Niên hiệu ThầnLong năm đầu (705 TL) vào ngày rằm tháng giêng vua Trung Tông và Tắc Thiên banchiếu rằng:

Trẫm thỉnh hai sưAn và Tú vào trong cung cúng dường, mỗi khi rảnh việc thì nghiên cứu về Nhấtthừa, hai Sư đều nhường rằng: Phương Nam có Huệ Năng thiền sư được mật traopháp y của Đại sư Hoằng Nhẫn, được truyền Phật tâmấn, nên thỉnh người đến thưa hỏi. Nay sai Nội thị Tiết Giản mang chiếu nghinhthỉnh, mong Thầy từ niệm, chóng đến Kinh đô.

Tổ dâng biểu từ bệnh, nguyện trọn đời ở nơi rừng núi. TiếtGiản thưa:

Ở kinh thành, các Thiền đức đều nói rằng: Muốn được hội đạoắt phải tọa thiền tập định, nếu chẳng nhân nơi Thiền định mà được giải thoát làchưa từng có vậy, chưa biết Thầy nói pháp như thế nào?

Tổ bảo:

Đạo do tâm mà ngộ, há tại ngồi sao? Kinh nói: Nếu nói Như Laihoặc ngồi hoặc nằm, ấy là người hành đạo tà. Vì cớ sao? Không từ đâu lại cũngkhông có chỗ đi, không sanh không diệt, ấy là Như Lai thanh tịnh thiền.

Chúng ta nên hiểu rõ NhưLai thanh tịnh thiền Tổ giảng ở đây. Kinh Kim Cang nói: “Như Lai giả vô sở tùnglai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai.” Tại sao? Vì Như Lai trong kinh nói là chỉPháp thân thanh tịnh, Pháp thân thanh tịnh là thể, không dao động, không đếnđi, nếu thấy có đến đi là thấy sự dao động của hình tướng, tướng dao động làtướng sanh diệt, còn Thể thanh tịnh không đến, không đi, vì thế nói không từđâu đến cũng không đi đâu. Như Lai thanh tịnh thiền là thiền sống với Tự tánhthanh tịnh của mình. Tánh thanh tịnh của mình gọi là Như Lai, là Phật, nên cũnggọi là Phật tánh. Tánh thanh tịnh không đến, không đi, không qua, không lại,người nhận được tánh, buông xả những vọng niệm, hằng sống với nó, không nóingồi hay đi đứng gì cả, giờ phút nào cũng đều là thanh tịnh, đó mới thật là NhưLai thanh tịnh thiền.

Các pháp rỗng lặng ấylà Như Lai thanh tịnh tọa, cứu kính không chứng, há lại có ngồi ư?

Tức là chúng ta thấycác pháp rỗng lặng, không bị nó lôi cuốn, đó gọi là Như Lai thanh tịnh tọa, cứukính còn không chứng huống nữa là có ngồi.

Tiết Giản thưa:

Đệ tử trở về kinh, Chúathượng ắt hỏi, cúi mong Thầy từ bi chỉ bày tâm yếu, để tâu lại hai cung vànhững người học đạo ở kinh thành, ví như một ngọn đèn mồi trăm ngàn ngọn đèn,chỗ tối đều được sáng, sáng mãi không cùng.

Tổ bảo:

Đạo không có sáng tối,sáng tối ấy là nghĩa thay nhau.

Chúng ta cứ nghĩ theo lệthường là đốt được một ngọn đèn rồi mồi ngọn khác làm cho sáng mãi không tối.Tổ quở: Đạo không phải là tối sáng vì tối sáng là đối đãi mà Đạo không phải đốiđãi.

Sáng mãi không cùngcũng là có ngày hết, vì đối đãi mà lập tên. Kinh Tịnh Danh nói: Pháp không cóso sánh vì không có đối đãi.

Tiết Giản thưa:

Sáng dụ cho trítuệ, tối dụ cho phiền não, người tu đạo như chẳng dùng trí tuệ chiếu phá phiềnnão thì cái sanh tử từ vô thủy nương vào đâu mà ra khỏi.

Tổ bảo:

Phiền não tức là Bồ-đề,không hai, không khác, nếu dùng trí tuệ chiếu phá phiền não, đây là kiến giảicủa hàng Nhị thừa, căn cơ xe nai xe dê, còn những bậc thượng trí đại căn, ắtkhông như thế.

Luôn luôn chúng ta tu theosự đối đãi, chúng ta nghĩ rằng phiền não là xấu là tối, phải dùng trí tuệ đểphá nó; nhưng thử hỏi phiền não có thật không? Thường người tu hay nói khổ nhấtlà sân, đang bình tĩnh, có ai nói tức liền nổi giận lên, quên hết đạo lý, như vậysân làm chướng đạo. Nhưng nay ta vừa nổi sân liền cố gắng nhìn xem sân ở đâu, nónhư thế nào, nếu nó là thật, tìm chắc thấy nó có một hình tướng nào đó, nhưngtìm lại thì nó mất tiêu. Nếu mất thì sân đâu có thật, đã không thật thì phá cáigì? Thế nên sân đã không thật mà khởi trí để phá nó thì trí cũng không thật, cảhai đều không thật, trong đối đãi không thật mà thấy là thật, đó là kiến giảiNhị thừa. Trái lại thấy cả hai không thật, khởi lên là tướng huyễn hóa khôngthật, khi lặng xuống đó mới là chân thật, đến chỗ chân thật không còn đối đãinữa, mới là đạo thật và chỉ những người thượng trí đại căn mới có thể hiểuđược. Khi Tổ bảo chiếu phá như vậy là kiến giải Nhị thừa thì:

Tiết Giản thưa:

Thế nào là kiến giảiĐại thừa?

Tổ đáp:

Minh cùng với vô minh,phàm phu thấy hai, người trí rõ suốt tánh nó không hai.

Sáng và tối đều là giảtướng, người trí thấy rõ tánh nó là không hai, vì trên tướng biết là hư giả,lặng xuống là Tự tánh thanh tịnh.

Tánh không hai tức làThật tánh; Thật tánh ở phàm ngu mà chẳng giảm, ở Hiền Thánh mà chẳng tăng, trụtrong phiền não mà không loạn, ở trong Thiền định mà chẳng lặng lẽ, chẳng đoạnchẳng thường, chẳng đến chẳng đi, chẳng ở khoảng giữa và trong ngoài, khôngsanh không diệt, tánh tướng như như, thường trụ chẳng đổi gọi đó là đạo.

Cái thể không sanh khôngdiệt, không tăng không giảm, không phải không quấy v.v... gọi là đạo, cũng gọilà Phật tánh, cũng gọi là Chân như. Chúng ta căn cứ trên đối đãi thì được cũngchỉ là được trên đối đãi, được thiện cũng là thiện đối đãi, được thanh tịnhcũng là thanh tịnh đối đãi chớ không phải là thật. Khi nào lặng hết những đối đãiđó mới là thật.

Tiết Giản thưa:

Thầy nói chẳng sanhchẳng diệt đâu khác với ngoại đạo?

Tức là ngoại đạo nói chẳngsanh chẳng diệt, Tổ cũng nói chẳng sanh chẳng diệt thì hai bên giống nhau rồi.

Tổ bảo:

Ngoại đạo nói chẳngsanh chẳng diệt là đem cái diệt để dừng cái sanh, lấy cái sanh để bày cái diệt,diệt vẫn chẳng diệt, sanh nói không sanh. Ta nói chẳng sanh chẳng diệt là vốntự không sanh, nay cũng chẳng diệt, cho nên không đồng với ngoại đạo.

Ngoại đạo nói không sanhkhông diệt là đối đãi trên sanh diệt mà nói, chớ không phải nói đến chỗ khônghai, thể vốn không sanh, nay làm gì có diệt?

Nếu ông muốn biết tâmyếu, chỉ tất cả thiện ác trọn chớ suy nghĩ, tự nhiên được vào Tâm thể thanhtịnh, lặng lẽ thường tịch, diệu dụng hằng sa.

Tâm yếu Tổ chỉ ở đây đâucó khác với tâm yếu chỉ cho Thượng tọa Minh. Thế nên chúng ta học tuy là nhiều,nhưng lâu lâu cũng thấy Ngài nhắc lại tâm yếu đó: trong ngoài buông cả thiện ácvà khi thiện ác lặng hết, đó là Tâm thể thanh tịnh, lặng lẽ thường tịch, nhưng diệudụng hằng sa, chớ không phải lặng lẽ thanh tịnh rồi không biết đi lại, khôngbiết nói năng, đầy đủ diệu dụng nhưng không rời Tâm thể.

Tiết Giản nhờ chỉ dạy,hoát nhiên đại ngộ, lễ từ trở về cung dâng biểu tâu lên những lời của Tổ. Ngàymùng ba tháng chín năm ấy có chiếu tưởng dụ Sư rằng:

Thầy từ vì già bệnh, vìtrẫm mà tu hành, làm phước điền cho đất nước. Thầy cũng như ngài Tịnh Danh giảbệnh nơi thành Tì-da để xiển dương Đại thừa, truyền tâm chư Phật, nói pháp bấtnhị. Tiết Giản truyền lại lời Thầy chỉ dạy tri kiến Như Lai, trẫm chứa đượcnhiều công đức lành, gieo được hạt giống lành đời trước, mới gặp Thầy ra đời, đốnngộ pháp thượng thừa, cảm ân đức Thầy, đầu đội không thôi, cùng dâng chiếc ma-nạpca-sa và bát thủy tinh, sắc cho Thứ sử Thiều Châu sửa sang lại chùa và ban hiệuchùa cũ Thầy ở là chùa Quốc Ân.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
110,220,567