Hòa thượng họ Nguyễn, húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệuThích Trí Thủ. Ngài sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (Nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức - Huế.
Năm 1926, khi được 17 tuổi, Ngài thực thụ xuất gia thọ giáo với Hòa thượng Viên Thành tại chùa Tra Am ở Huế. Năm Ngài 20 tuổi (1929), được Bổn sư cho vào thọ giới Cụ Túc (Tỳ Kheo) tại Đại giới đàn chùa Từ Vân ở Đà Nẵng. Tại đại giới đàn này Ngài trúng tuyển Thủ Sa Di trong số 300 giới tử. Do đó, Bổn sư đã ban cho Ngài pháp hiệu là Thích Trí Thủ, ngụ ý khen tặng chữ THỦ là đứng đầu. Cũng vừa năm đó, Bổn sư của Ngài là Hòa thượngViên Thành viên tịch. Ngài ở lại chùa Tra Am hai năm để thọ tang. Năm 1932, Ngài vào học tại Phật học đường Trúc Lâm do Hòa thượng Giác Tiên thành lập và mời Hòa thượngPhước Huệ ở chùa Thập Tháp-Bình Định ra làm chủ giảng.
Trong thời gian theo học tại Phật học đường Trúc Lâm, gặp lúc phong trào chấn hưng Phật giáo khởi phát ở miền Trung, Ngài tích cực tham gia, cùng với các pháp lữ khác góp phần rất lớn. Ngài đã từng làm giáo thọ, dạy ở trường Phật Học Phổ Thiên, Đà Nẵng.
Cuối năm 1934, Ngài trở ra Huế, cùng các pháp lữ ngày trước tổ chức trường Phật học ở chùa Tây Thiên, cung thỉnh Tăng Cang Giác Nhiên ở chùa Thuyền Tôn làm giám đốc, Hòa thượng Phước Huệ ở chùa Thập Tháp-Bình Định làm đốc giáo. Cùng thời gian này, Ngài còn làm giảng sư cho Hội Phật Học Thừa Thiên và lớp Trung đẳng Phật học cũng mở tại chùa Tây Thiên, cùng kiêm nhiệm việc giảng dạy tại trường Tiểu học Phật học mở tại chùa Báo Quốc - Huế.
Năm 29 tuổi (1938), sau khi tốt nghiệp trường Phật học Tây Thiên, Ngài được sơn môn cử về trú trì Tổ đình Ba La Mật. Ngài vẫn tiếp tục công việc giảng dạy và hỗ trợ cho các trường Phật học. Năm 1939, Ni trường chùa Từ Đàm được thành lập. Đây là cơ sở và khởi duyên Ni bộ đầu tiên được hình thành trong cả nước. Sơn môn và hội Phật học giao cho Ngài đặc trách việc đào tạo Ni chúng.
Năm 1942, Ngài được Giáo Hội Tăng Già Thừa Thiên bổ nhiệm trú trì chùa Báo Quốc. Thời gian này Ngài tích cực hoạt động cho việc phục hưng Phật Giáo và cùng các Tăng lữ cấp tiến như Thượng tọa Mật Thể, Thiện Minh, Thiện Siêu đề xướng cải tiến cách tu học, phổ cập cho phù hợp với thời đại.
Năm 1944, các lớp Đại, Trung và Tiểu học của trường Sơn Môn Phật Học được dời về chùa Linh Quang, Ngài được sơn môn Tăng Già giao phó nhiệm vụ Giám viện kiêm trú trì chùa.
Cuối năm 1945, chiến tranh Việt - Pháp lại bùng nổ sau cuộc Cách Mạng Tháng Tám giành độc lập cho nước nhà, Ngài đã cùng một số vị khác thành lập hội Phật Giáo Cứu Quốc Trung bộ và Thừa Thiên, và cho người đi khắp các tỉnh thành lập hội Phật Giáo Cứu Quốc tại tỉnh. Vào năm 1946, chiến sự xảy ra ngay tại thành phố Huế, nên Sơn Môn Tăng GiàThừa Thiên quyết định dời trường sơn môn Phật Học về chùa Báo Quốc, Ngài bàn giaonhiệm vụ trú trì chùa Linh Quang lại cho Hòa thượng Mật Nguyện.
Năm 1947, mặt trận Huế vỡ, cảnh tang thương, chết chóc diễn ra khắp thành thị đến nông thôn. Những Tăng tín đồ nào đã thực sự đứng trong hàng ngũ kháng chiến thì rút ra chiến khu. Những ai còn trong nội thành thì tập hợp nhau tại các chùa để cầu nguyện cho đất nước sớm thanh bình. Sau đó, các Phật sự được khôi phục dần dần. Cuối năm đó, Ngài được giao nhiệm vụ mở lại Phật học đường Trung Việt tại chùa Báo Quốc và tiếp tục làm Giám viện. Chính nơi đây đã đào tạo được nhiều Tăng tài, lỗi lạc hữu dụng cho các hoạt động Phật sự về sau. Từ giới đàn đầu tiên tại đây, sau cơn khói lửa, do Ngài làm đàn đầu, đã phục hồi ý nghĩa “Thất chứng” mà các trường giới thường ít coi trọng.
Năm 1950, sau khi hội Việt Nam Phật Học thành lập (1) được ba năm, Ngài được đại hộithường niên bầu làm Hội trưởng thay cho cư sĩ Chơn An - Lê văn Định. Từ ngày có phong trào chấn hưng Phật giáo tại Trung Việt năm 1932, đây là lần đầu tiên chức Hội trưởng thuộc về Tăng sĩ.
Thống nhất Phật giáo là nguyện vọng tha thiết nhất trong cuộc đời tu hành của Ngài. Do đó, khi được giao nhiệm vụ đứng đầu Hội Việt Nam Phật Học, Ngài liền vận động thống nhất Phật giáo cả nước. Năm 1951, một đại hội gồm 51 đại biểu đại diện cho 6 tập đoàn Phật giáo, cả ba miền Nam, Trung, Bắc họp tại chùa Từ Đàm ngày 06 tháng 5 dương lịch, đã quyết nghị thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của hàng Tăng sĩ và cư sĩ đã từng ước ao thống nhất Phật giáo Việt Nam.
Năm 1952, trong chức vụ Ủy viên Hoằng pháp của Giáo Hội Tăng Già Trung Việt, Ngài đã đặt viên đá cho ngôi trường Trung, Tiểu học tư thục Bồ Đề đầu tiên của hội tại thành nội Huế. Từ đó về sau các trường Bồ Đề từ bậc Tiểu học đến bậc Trung học được lần lượtmở ở các tỉnh hội khắp Trung Việt, lan vào cả Sài gòn.
Năm 1956, Đại hội kỳ II của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam họp tại chùa Phước Hòa (Sài gòn), Ngài được bầu làm Ủy viên Giáo dục. Cũng trong năm này, Phật học viện Nha Trang được thành lập tại chùa Hải Đức trên núi Trại Thủy, Ngài được giao nhiệm vụ Giám viện.
Để có thêm tài chính yểm trợ ẩm thực cho Tăng sinh, Ngài đã cử một số học Tăng vào Sài Gòn học riêng khoa chế biến nước tương là một món ăn chay rất cần thiết và phổ biếntrong các chùa và dân gian mà nhu cầu hàng ngày rất lớn. Khi số học Tăng này trở về, Ngài cho thành lập xưởng chế biến nước tương đóng chai, lấy hiệu “Lá Bồ Đề” cung cấpcho thị trường khắp Trung phần và Cao nguyên.
Phật học viện Nha Trang chỉ đào tạo Tăng sinh đến bậc Trung học, sau đó họ phải vào Sài Gòn theo học bậc Đại học. Để giúp đỡ số Tăng sinh này có nơi ăn ở đi học mà vẫn giữ được nếp sinh hoạt thiền môn, năm 1960 Ban Quản Trị ủy cho Ngài vào Sài Gòn mua một sở đất (nay ở đường Lê Quang Định) tại xã Hạnh Thông, quận Gò Vấp, xây dựng tu việnQuảng Hương Già Lam. Nơi đây cũng là trú sở của Ngài sau năm 1963 cho tới ngày viên tịch.
Năm 1962, Ngài dẫn đầu phái đoàn Phật Giáo miền Nam tham dự Đại lễ thế giới Phật lịch 2500- ngày Đức Phật nhập Niết Bàn tại thủ đô Vientaine Lào.
Năm 1963, sự kỳ thị tôn giáo xảy ra dưới chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngài trở về Huế cùng chư Tăng lãnh đạo cuộc đấu tranh đòi hỏi tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo. Ngài bị bắt giam và đưa vào Sài Gòn. Khi trung tâm đầu não của cuộc đấu tranh chuyển từ Huế vào Sài gòn, Ngài lại tích cực tham gia. Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ,Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất ra đời, Ngài được cử vào Ban Dự thảo hiến chương và sau đó được bầu vào chức Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng Pháp, kiêm Tổng vụ Tài chánh. Với trách vụ này Ngài đã tổ chức được ba cuộc hội nghị hoằng pháp (tại Phật học viện Nha Trang, chùa Xá Lợi, chùa Ấn Quang), thành lập đoàn giảng sư phân công tới các địa phương thuyết giảng Phật pháp, và thành lập thêm được Phật học việnPhổ Đà ở Đà Nẵng.
Năm 1964, Ngài làm Viện trưởng viện Cao Đẳng Phật học đặt tại chùa Pháp Hội, tiền thâncủa Viện Đại Học Phật giáo Vạn Hạnh, Ngài còn chủ trương xuất bản các tập san Tin Phật, Bát Nhã để hỗ trợ cho công tác hoằng pháp.
Năm 1965, Ngài đi hành hương chiêm bái các danh lam Phật tích ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, đồng thời để mở rộng sự giao thiệp với các tổ chức Phật giáo tại các nước này trên đường phụng sự Phật pháp.
Năm 1969, Ngài được Hội đồng Lưỡng viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tấn phong pháp vị Hòa thượng. Cùng năm này, Ngài khai Đại giới đàn tại Phật học viện Nha Trang. Năm 1969, Ngài trùng tu Tổ đình Báo Quốc-Huế. Năm 1970 Ngài mở lớp Trung đẳng II chuyên khoa tại Phật học viện Nha Trang, đến năm 1974 chuyển thành Viện Cao Đẳng Phật Học Nha Trang, Hòa thượng Thiện Siêu được thỉnh cử làm Viện trưởng.
Trong Đại hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất kỳ 5 và kỳ 6, Ngài được giao trách nhiệm hết sức quan trọng và nặng nề là Viện trưởng Viện Hóa Đạo để thay thế Hòa thượngThích Thiện Hoa vừa viên tịch. Đây là giai đoạn khó khăn nhất của đất nước cũng như Giáo Hội. Người lãnh đạo lèo lái con thuyền Giáo Hội phải đủ nghị lực, can trường và sáng suốt mới đi đúng hướng, đúng đạo pháp được. Đến năm 1975, Ngài lại phải gánh thêm một trách vụ nặng nề nữa, là xử lý thường vụ Viện Tăng Thống. Năm 1976, Ngài mở Đại giới đàn Quảng Đức ở chùa Ấn Quang và làm Đàn chủ.
Đất nước đã được thống nhất, Nam Bắc một nhà. Trước thực trạng đó, việc thống nhất Phật giáo hai miền là cần thiết. Thấy được điều đó, ngày 23-01-1977 trong Đại hội kỳ 7 của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Ngài đã đưa ra thông bạch nêu lên nguyện vọng ấy cụ thể như sau: Đại hội cần ủy cho Giáo hội Trung Ương tiếp tục vận động thống nhất Phật Giáo cả nước trong tinh thần đạo pháp và truyền thống dân tộc.
Năm 1980, Ngài khai Đại giới đàn Thiện Hòa tại chùa Ấn Quang và Ngài làm Đàn chủ. Đây cũng là Đại giới đàn cuối cùng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Và cũng là giới đàn có số giới tử Tăng Ni đông nhất 1.500 người.
Sau bao gian lao, vượt qua bao khó khăn trở ngại từ mọi phía, Ngài đã được các hệ phái Phật giáo đề cử làm Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo. Không lâu sau đó ngày 07-11-1981 Đại hội Thống nhất Phật giáo được tổ chức tại chùa Quán Sứ - Hà Nội, thành lậpGiáo Hội toàn quốc với danh xưng “ Giáo Hội Phật giáo Việt Nam”. Ngài được bầu làm Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự Trung Ương - nhiệm kỳ I.
Trách nhiệm Phật sự khó khăn cho nền Thống nhất Phật giáo hoàn thành, đáng lẽ đã đến lúc Ngài lui về an trú tại chốn già lam thanh tịnh. Nhưng Ngài đã không quản tuổi già sức yếu, vẫn một lòng phụng sự đạo pháp. Ngài đã dẫn đầu Đoàn đại biểu Phật giáo Việt Namtham dự Đại hội lần thứ 5 (1979), lần thứ 6 (1982) của Tổ chức Phật Giáo Châu Á Vì Hòa Bình (ABCP) họp tại Mông Cổ. Năm 1980, Ngài làm trưởng đoàn đại biểu Tôn Giáo Việt Nam dự hội nghị các nhà Tôn Giáo Thế Giới vì hòa bình và giải trừ quân bị, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Nhật Bản. Năm 1981, Ngài làm trưởng đoàn đại biểu Phật giáo Việt Nam dự hội nghị các nhà hoạt động Tôn Giáo Thế Giới vì hòa bình và sự sống, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Liên Xô.
Năm 1983, Ngài tham dự hội nghị các vị đứng đầu Phật giáo 5 nước Châu Á tổ chức tại thủ đô Veintaine Lào. Cũng năm này, Ngài được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.
Vào những năm tháng cuối đời, sau khi đã đem bao tâm lực cống hiến cho sự chấn hưngPhật giáo, cho sự phát triển và thống nhất các hệ phái dưới một mái nhà Phật giáo, cho sự tu hành thăng tiến của lớp hậu sinh, sức khỏe của Ngài có phần suy giảm nhiều.
Ngày 02 tháng 3 năm Giáp Tý, tức ngày 02 tháng 4 năm 1984, sau một cơn suy tim đột ngột, Ngài đã thâu thần viên tịch tại Bệnh viện Thống Nhất, thọ 76 tuổi đời, 56 tuổi đạo.
Ngoài những đóng góp Phật sự từ ngày xuất gia cho đến ngày lãnh các trọng trách trong Giáo hội, Hòa thượng Thích Trí Thủ còn để lại cho hậu thế nhiều sáng tác, dịch phẩm có giá trị như:
- Kinh Phổ Hiền.
- Mẹ Hiền Quan Âm.
- Kinh Vô Thường.
- Kinh A Di Đà (thể thơ 4 chữ).
- Pháp Môn Tịnh Độ.
- Nghi Thức Phật Đản.
- Tứ Phần Luật.
- Nghi Thức Truyền Giới Tại Gia và Bồ Tát Thập Thiện.
- Luật Tỳ Kheo.
- Để trở thành người Phật tử.
- Kinh Bất Tăng Bất Giảm.
- Thường Bất Khinh Bồ Tát.
- Phát Bồ Đề Tâm.
- Thử vạch qui chế đào tạo Tăng tài.
- Nghi thức tụng niệm hàng ngày của giới Phật tử.
- Điều căn bản cho giới Phật tử mới quy y v.v...
(và một số tác phẩm văn thơ khác.)
Nói đến Hòa thượng, là nói đến sự nghiệp thống nhất Phật giáo Việt Nam giữa các hệ phái, từng giai đoạn lịch sử từ trước 1954 cho đến sau 1975 và cho đến khi hoàn thành bản nguyện. Ngài là thuyền Bát Nhã đưa Phật giáo Việt Nam bước qua lịch sử và làm nên lịch sử. Ngài đã đi qua, nhưng lịch sử vẫn còn lại ngàn năm với công hạnh và hình bóng Ngài trong lòng bao thế hệ kế thừa.
Chú thích:
(1) Hội Việt Nam Phật Học vốn là hậu thân của Hội An Nam Phật Học, thành lập năm 1948 đặt trụ sở tại số 1B đường Nguyễn Hoàng - Huế.
Nguồn: Tiểu Sử Danh Tăng Việt Nam Thế Kỷ XX - Phần I, Thích Đồng Bổn

LƯỢC SỬ HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ THỦ
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ TRUNG ƯƠNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Hòa thượng họ Nguyễn, úy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, hiệu Thích Trí Thủ. Hòa thượng sinh giờ Hợi ngày 19.9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 1 tháng 11 năm 1909. Xuất thân từ một gia đình Nho phong thanh bạch tại làng Trung Kiên, tổng Bích La, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Chiếu, cả hai cụ thân sinh đều thuộc gia đình đời đời tin Phật.
Hòa thượng là con trai độc nhất trong gia đình nên được chăm sóc giáo dục rất sớm. Lên 7, bắt đầu học chữ Hán, lên 9 vào học trường làng.
Vốn có sẳn hạt giống Bồ đề, túc duyên Phật Pháp, năm 14 tuổi, Hòa thượng đã vào học kinh ở chùa Hải Đức – Huế. Năm lên 17, Hòa thượng thực thụ xuất gia, đầu sư với Hòa thượng Thích Viên Thành tại chùa Tra Am – Huế, được ban pháp danh Tâm Như, pháp tự Đạo Giám và trực tiếp thụ học với bổn sư.
Năm đủ 20 tuổi, Hòa thượng được bổn sư cho vào giới đàn chùa Từ Vân ở Đà nẵng thụ giới cụ túc. Tại giới đàn này, Hòa thượng đã trúng tuyển thủ Sa di trong số 300 giới tử. Do đó, bổn sư dã cho pháp hiệu là Thích Trí Thủ, với ý khen tặng chữ Thủ, nghĩa là đứng đầu.
Qua hai năm cư tang bổn sư tại chùa Tra Am, Hòa thượng đã cùng các pháp lữ vào chùa Thập Tháp, Bình Định, tham học với Hòa thượng Phước Huệ. Bấy giờ là năm 23 tuổi.
Mãn học, Hòa thượng ngồi ghế giáo thụ, dạy trường Phật học Phổ Thiên, Đà Nẵng. Vì chưa thỏa lòng cầu pháp, sau Hòa thượng lại trở ra Huế, cùng các vị đã đồng học ở Thập Tháp ngày trước, tổ chức trường Phật học tại chùa Tây Thiên, rồi cung thỉnh Tăng cang Giác Nhiên chùa Thuyền Tôn làm giám đốc, Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp làm đốc giáo dạy nội điển, đồng thời mời các cư sĩ như Bác sĩ Lê Đình Thám dạy luận, các cụ Nguyễn Khoa Toàn, Cao Xuân Huy v.v...dạy các môn về văn hóa theo trình độ đại học Phật giáo cũng như văn hóa. Trong thời gian này, Hòa thượng đồng thời làm giảng sư cho hội Phật học Huế và dạy lớp Trung Đẳng Phật học cũng mở tại Tây Thiên. Bấy giờ Hòa thượng được 27 tuổi. Khi ấy, hội Phật học Huế mở trường Tiểu học Phật học tại chùa Báo Quốc, Hòa thượng cũng kiêm dạy các Tăng sinh ở đó.
Năm 29 tuổi (1938) , sau khi tốt nghiệp trường Phật học Tây Thiên, Hòa thượng về trụ trì tổ đình Ba-la-mật, nhưng vẫn tiếp tục công việc giảng dạy cho hội và các trường Phật học. Năm sau (1939) Ni trường thành lập tại chùa Từ Đàm, Sơn môn và hội Phật học giao Hòa Thượng đặc trách việc đào tạo Ni trường ấy. Đây là cơ sở, nhờ đó Ni bộ đầu tiên được thành hình. Năm 1940 , Hòa thượng trùng tu Tổ đình Ba-la-mật. Năm 1941, Hòa thượng lại mở trường Sơn môn Phật học tại chùa Linh Quang Huế, chủ trương xây dựng kinh tế tự túc cho học chúng làm phương tiện tu học, trong giai đoạn kinh tế khủng hoảng lúc bấy giờ.
Năm 1942, Hòa thượng được giáo hội Tăng già Thừa Thiên bổ nhiệm trụ trì chùa Báo Quốc – Huế. Hòa thượng cũng chủ trương cho học tăng học văn hóa. Chính Hòa thượng đích thân dẫn tăng sinh đầu tiên đi dự thi Tiểu học. Việc tăng sinh học văn hóa và thi lấy bằng cấp ngoài đời đã gây chấn động không ít trong số người chủ trương đào tạo tăng sinh theo nề nếp cũ.
Cách mạng tháng 8 bùng nổ, trên cương vị Trị sự Sơn môn Thừa Thiên, Hòa thượng đã cùng các vị khác lập hội Phật giáo cứu quốc Trung bộ, chủ trương tờ Nguyệt san Giải Thoát, làm cơ quan tuyên truyền của hội Phật giáo cứu quốc Trung Bộ. Hòa thượng đắc cử Hội đồng nhân dân Thừa Thiên và được chính quyền Cách mạng mời đến Trung bộ phủ giao quyền sắp đặt lại chùa chiền, hủy bỏ chế độ chùa vua phong kiến đặt. Năm 1948, để sự nghiệp đào tạo tăng tài có điều kiện phát triển, đẩy mạnh phong trào chấn hưng Phật giáo, Hòa thượng hội ý với chư tôn Hòa thượng trong giáo hội tăng già Thừa Thiên, dời trường Sơn môn Phật học từ chùa Linh Quang sang chùa Báo Quốc ( nơi đây trong khoảng thập niên 30, hội An nam Phật học, đã cho thành lập một trường học Phật, mệnh danh là Việt Nam Phật Học Đường, do Pháp sư Thích Trí Độ làm giám đốc. Sau đó không lâu, trường được dời đến Kim Sơn ) lấy tên là Phật học Đường, sau đổi thành Phật Học Viện Báo Quốc, Hòa thượng được đề cử làm giám đốc. Từ đó về sau, trong các thập niên 50, 60, 70 Phật học viện Báo Quốc từng là nơi phát xuất nhiều Tăng sĩ lỗi lạc, đảm đương nhiều trọng trách trong phong trào chấn hưng Phật giáo. Cũng trong năm này, Hòa thượng mở đại giới đàn tại chùa Báo Quốc và thân làm chủ đàn. Tại giới đàn này, Hòa thượng đã phục hồi ý nghĩa của thất chứng mà các trường giới xưa nay ít coi trọng. Trong ý nghĩa đó, Hòa thượng đã cung thỉnh các vị tôn túc có giới đức cao làm tôn chứng để chứng minh cho sự truyền giới. Hòa thượng cũng phân chia riêng Tăng Ni hai bộ, Tăng độ cho tăng, Ni độ cho ni.
Năm 1951, trong chức vụ Hội trưởng hội Việt Nam Phật học Trung phần, trong hệ thống Tổng hội Phật giáo Việt Nam của 6 tập đoàn Phật giáo Bắc Trung, Nam, đứng đầu là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ, Hòa thượng đặt viên đá đầu tiên xây dựng trường Tiểu học tư thục Bồ Đề tại Thành Nội Huế, mở đầu mạng lưới giáo dục tư thục Bồ Đề của Phật giáo.
Năm 1952, Hòa thượng tạm nghỉ việc hội, chuyên tâm vào việc giáo dục học tăng ở học đường Báo Quốc. Cuối năm 1956, Phật học viện Trung phần thành lập tại Nha Trang , Hòa thượng thân làm giám viện. Năm 1957, thấy đa số Tăng Ni các Phật học viện đã đến tuổi thụ giới, Hòa thượng cho mở giới đàn và thân làm chủ đàn.
Để ổn định kinh tế tự túc cho Phật học viện, Hòa thượng đã cho một số học tăng vào Sài Gòn học riêng các môn khoa học chế biến, sau đó mở hãng sản xuất nước tương, hương đèn, dấm ăn , xà phòng ,...tất cả đều do sức lao động của học tăng và Phật tử đảm đương. Hầu hết học tăng Phật học viện đều được Hòa thượng cho học song song hai chương trình. Nhờ hướng đào tạo đó mà nơi đây đã là nguồn cung cấp liên tục các Chính đại diện giáo hội các tỉnh, quận, giảng sư, trụ trì, hiệu trưởng, giám học các trường Bồ đề, quản lý nhà in, nhà phát hành kinh sách khắp miền Trung và về sau một số đã trở thành giảng sư, giáo sư đại học, nói chung là các ngành văn hóa giáo dục phục vụ đạo đời.
Năm 1960, Hòa thượng tạo mãi khu vườn ở Gò Vấp khai sơn Tu viện Quảng Hương Già Lam. Năm 1962, Hòa thượng dẫn đầu phái đoàn Phật giáo Việt Nam tại miền Nam tham dự Đại lễ thế giới kỷ niệm 2500 năm Đức Phật nhập Niết Bàn, tại Lào.
Phật đản năm 1963 bắt đầu thời pháp nạn. Bấy giờ Hòa thượng về Huế, rồi ở đó cùng các vị lãnh đạo Phật giáo, hướng dẫn phong trào đấu tranh bảo vệ đạo pháp và dân tộc cho đến khi bị chính quyền Diệm bắt giam giữ tại Huế rồi đưa vào Sài Gòn. Qua cơn pháp nạn, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất ra đời, thành lập với 11 đoàn thể các hệ phái Phật giáo toàn miền Nam, Hòa thượng sung vào ban dự thảo Hiến chương Giáo hội, và trong nhiệm kỳ đầu Hòa thượng giữ nhiệm vụ Tổng vụ trưởng Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp. Công việc hoằng pháp và giáo dục Tăng Ni là mối quan tâm hàng đầu và quan tâm suốt đời của Hòa thượng. Trong nhiệm vụ và vai trò đó, Hòa thượng đã mở 3 Đại hội Hoằng pháp, một tổ chức tại Phật học viện Nha Trang, một tổ chức tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn và một tại chùa Ấn Quang – Chợ Lớn. Hoạt động và thành tích hoằng pháp đều tổng kết ghi lại trong ba tập kỷ yếu Đại hội. Hòa thượng còn thành lập giảng sư đoàn và cắt cử mỗi vị phụ trách một tỉnh để diễn giảng Phật pháp cho tín đồ. Sau Hòa thượng còn thành lập Phật học viện Phổ Đà – Đà Nẵng.
Năm 1964, Hòa thượng thân làm Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật giáo, thành lập tại chùa Pháp Hội – Sài Gòn. Đây chính là tiền thân của Viện đại học Vạn Hạnh. Hòa thượng còn chủ trương các tập san như Tin Phật, Bát Nhã để gióng lên cho đời tiếng nói của pháp âm. Năm 1965, sau khi ổn định mọi Phật sự, Hòa thượng hành hương chiêm bái các danh lam Phật tích ở Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông, giao thiệp với nhiều danh Tăng các nước.
Sau thời làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp, Hòa thượng lại được giáo hội trao giữ nhiệm vụ Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tài chánh. Năm 1968, Hòa thượng được Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, chính thức tấn phong lên ngôi vị Hòa thượng. Cũng năm này, Hòa thượng khai giới đàn tại Phật học viện Nha Trang. Năm 1969, đại trùng tu Tổ đình Báo Quốc. Năm 1970, mở lớp trung đẳng II Chuyên khoa tại Phật học viện Trung phần – Nha Trang. Năm 1974, thành lập Viện Cao Đẳng Phật học Nha Trang. Hòa thượng Thích Thiện Siêu làm Viện trưởng.
Từ Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất kỳ 5 và kỳ 6 Hòa thượng giữ chức vụ Viện trưởng Viện Hóa Đạo, đến năm 1975 lại kiêm cả chức phụ tá Đức Tăng Thống cho đến khi đất nước và đạo pháp chuyển sang giai đoạn mới. Đến năm 1976, Hòa thượng lại tổ chức đại giới đàn Quảng Đức tại tổ đình Ấn Quang, Chợ Lớn.
Trước chiều hướng mới và cũng thể theo ý hướng thống nhất mà xưa nay Phật giáoViệt Nam vẫn thường ấp ủ, nên sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, trong cương vị Viện trưởng Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Hòa thượng đã liên hệ với các vị tôn túc lãnh đạo các hệ phái và các tổ chức Phật giáo khác trong cả nước để bàn bạc việc thống nhất Phật giáo Việt Nam. Chính đây là nguyện vọng chung của toàn thể Tăng Ni và Phật tử . Nguyện vọng này đã thể hiện cụ thể tại Đại hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất kỳ 7, họp tại chùa Ấn Quang, Chợ Lớn, ngày 23.01.1977 gồm 160 đại biểu của 54 đơn vị trong Giáo Hội, mà Hòa thượng nhân danh Viện trưởng tân nhiệm kỳ đã ký thông bạch 7 điểm trong đó có điểm thứ 6 nguyên văn như sau: “ Đại hội cẩn ủy Giáo hội Trung ương tiếp tục vận động thống nhất Phật giáo cả nước trong tinh thần Đạo pháp và truyền thống Dân tộc”.
Sau khi ban vận động thống nhất Phật giáo thành hình, Hòa thượng được bầu làm trưởng ban vận động, và khi hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam tổ chức tại thủ đô Hà Nội ngày 7.11.1981, Hòa thượng đắc cử chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhiệm kỳ đầu tiên.
Những năm cuối của báo thân, Hòa thượng tuy tuổi già sức yếu, vẫn không xao lãng việc đạo việc đời: Năm 1979 và 1982 dẫn đầu đoàn đại biểu Phật giáo Việt Nam dự đại hội thứ 5 và thứ 6 của tổ chức Phật giáo châu Á vì hòa bình, tại Mông Cổ. Năm 1980, làm trưởng đoàn đại biểu tôn giáo Việt Nam dự Hội nghị các nhà hoạt động tôn giáo thế giới vì hòa bình và sự sống, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Liên Xô, cũng năm này kiến tạo thêm chính điện Tu Viện Quảng Hương Già Lam. Năm 1983, dự hội nghị các vị đứng đầu Phật giáo 5 nước châu Á, tổ chức tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Năm 1983, đắc cử Ủy viên đoàn chủ tịch Ủy banTrung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cũng năm này xây dựng lại ngôi tổ đình Linh Quang tại làng sinh quán ( Quảng Trị ).
Dù bận rộn Phật sự, suốt con đường hành đạo, Hòa thượng vẫn dành thời giờ dịch kinh, biên soạn sách để hoằng dương Phật pháp. Các tác phẩm chính gồm kinh Phổ môn, kinh Phổ Hiền, Mẹ hiền Quán Âm, kinh Vô thường, kinh A Di Đà, Pháp môn tịnh độ, kinh Bát Nhã, Luật Tỳ Kheo, Luật Bồ Tát, Luật Tứ phần, Nghi thức truyền giới Bồ Tát tại gia và Thập thiện, Nghi thức lễ sám buổi khuya và các tác phẩm khác đã in hoặc chưa xuất bản.
Mãn báo thân 76 tuổi đời, 56 tuổi đạo, vào lúc 21 giờ 30 ngày 2 tháng 4 năm 1984 ( tức ngày 2 tháng 3 năm Giáp tý ) Hòa thượng an nhiên thị tịch tại Quảng Hương Già Lam và nhập bảo tháp tại đây

ÔN GIÀ LAM
(Đại lão Hòa thượng THÍCH TRÍ THỦ)
(1909 - 1984)
Điều Ngự Tử TÍN-NGHĨA
Bản thân tôi (Tín Nghĩa), rất ít có dịp thân cận với Ôn Già Lam. Điều dễ hiểu, vì tôi không xuất thân từ Phật Học Viện. Vả lại, mỗi lần Ôn về Huế (Bảo Quốc), thường vào dịp đầu xuân, thì đa phần Ôn hay đàm luận Phật sự với quý Ôn lớn như Ôn Linh Mụ, Ôn Trúc Lâm, Ôn Linh Quang, Ôn Từ Đàm và Ôn Bảo Quốc, . . .
Đầu năm, Ôn thường hay nghe Đại luật (tức là dạy luật Tứ phần) cho hai chúng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, thì tôi đạp xe ra học rồi về lại chùa. Vả lại, bổn phận của tôi ở chúng Trúc Lâm cũng tương đối bề bộn. Tuy thế, chính tôi lại có với Ôn ba kỷ niệm khó quên.
Trước khi đi vào ba kỷ niệm ấy, kính xin mạo muôi ghi lại một điểm cần biết mà quan trọng về Ôn, được tìm đọc qua tài liệu ở trên mạng cũng như bài viết Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Trí Thủ của nhà thơ Quách Tấn (1910-1992). Được biết :
Ôn họ Nguyễn, húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như (trùng Pháp danh với Ôn Linh Quang tức là Thiền sư Mật Nguyện, Tọa chủ Tổ đình Linh Quang, Chánh Đại Diện GHPGVNTN miền Vạn Hạnh và Thừa Thiên - Huế. Xin xem Trúc Lâm Thiền Phái Tại Huế, của Tín Nghĩa), tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ.
Ôn thọ sanh vào ngày 01 tháng 11 năm 1909 (nhằm ngày 19 tháng 09 năm Kỷ Dậu), trong một gia đình nho phong thanh bạch.
Chánh quán làng Trung Kiên, xã Bích La, quận Triệu Phong (bây giờ là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị.
Thân phụ là cụ ông Nguyễn Hưng Nghĩa,
Thân mẫu là cụ bà Lê Thị Chiếu.
Song thân của Ôn đều chánh tín Tam Bảo. Do vậy, mặc dầu là người con trai duy nhất, mới tuổi măng tơ lên 14, Ôn đã được song thân cho vào thọ giáo kinh điển nhà Phật ở chùa Hải Đức, chốn thần kinh Huế.
Năm 1926, khi được 17 tuổi, Ôn thật sự xuất gia đầu Phật và thọ giáo với Hòa Thượng Viên Thành tại chùa Tra Am, Huế.
Năm Ôn 20 tuổi (1929), được Bổn Sư cho vào thọ giới Cụ Túc (Tỳ Kheo) tại Đại giới đàn chùa Từ Vân ở Đà Nẵng. Ở Đại giới đàn này Ôn trúng tuyển Thủ Sa Di trong số 300 giới tử. Do đó, Bổn sư đã ban cho Ôn pháp hiệu là Thích Trí Thủ, ngụ ý khen tặng chữ THỦ là đứng đầu.
Cũng năm đó, Bổn sư của Ôn là Hòa Thượng Viên Thành viên tịch. Ôn Trí Thủ ở lại Tra Am hai năm để thọ tang.
Năm 1932, Ôn vào học lớp Đại học Phật giáo tại Phật học đường Trúc Lâm do Hòa Thượng Giác Tiên thành lập và mời Hòa Thượng Phước Huệ ở chùa Thập Tháp-Bình Định ra làm chủ giảng.
Tưởng cũng nên biết: Đây là Đại học Phật giáo đầu tiên, dấu mốc Chấn hưng Phật giáo tại Cố đô Huế và miền Trung Việt nam. Lớp Đại học Phật giáo này đã đào tạo bảy giảng viên ưu tú, trong đó Tổ đình Trúc Lâm Đại Thánh đóng góp năm vị. (Đó là : Thiền sư Mật Tín, Thiền sư Mật Khế, Thiền sư Mật Hiển, Thiền sư Mật Nguyện và Thiền sư Mật Thể).
Cũng được biết thêm, Ôn Trí Thủ đã để lại cho hậu thế những dịch phẩm và biên soạn:
- Kinh Phổ Hiền,
- Mẹ Hiền Quán Thế Âm,
- Kinh Vô Thường,
- Kinh A Di Đà (thể thơ 4 chữ),
- Pháp Môn Tịnh Độ,
- Nghi Thức Phật Đản,
- Tứ Phần Luật,
- Nghi thức Truyền Giới Tại Gia Bồ Tát và Thập Thiện,
- Luật Tỳ Kheo,
- Để trở thành người Phật tử,
- Kinh Bất Tăng Bất Giảm,
- Thường Bất Khinh Bồ Tát,
- Phát Bồ Đề Tâm,
- Thử vạch quy chế đào tạo Tăng tài,
- Nghi thức tụng niệm hàng ngày của giới Phật tử,
- Điều căn bản cho giới Phật tử mới quy y v.v (và một số tác phẩm văn thơ khác). . .
Ba thiện duyên với Ôn Già Lam
1.- Năm 1970 : Mỗi khi Ôn Già Lam ra Huế vào dịp đầu năm để giỗ Tổ, Ôn ra đều có đi thăm các Tổ đình để vấn an các bậc Trưởng thượng như Ôn Thuyền Tôn (Đê Nhị Tăng thống), Ôn Tây Thiên và Ôn Trúc Lâm. Đến Trúc Lâm, Ôn thường ở chơi lâu hơn. Phần tương đắc với Ôn Trúc Lâm, vì đồng học, đồng lứa và cùng làm việc Giáo hội ; lại là đồng am tường và thâm nghiêm giới luật. Trưa hôm đó Ôn ở lại thọ trai với Ôn Trúc Lâm. Tôi được hầu cơm và đứng bên cạnh để được sai vặt. Mặc dầu chúng điệu cũng nhiều, tôi cũng đã là Tỳ kheo, nhưng khi có qúy Đại Tăng hay khách lớn, Sư phụ thường chọn tôi làm thị giả.
Trong lúc hai Ôn đang trò chuyện vui vẻ ở hồ cá giữa sân chữ Khẩu của chùa, tôi nhẹ gót bước đến, cung thỉnh hai Ôn vào thọ trai. Hai ôn đứng dậy cùng đi vào.
Ôn Già Lam bảo :
- Cho chú này vào viện để học tiếp chương trình Cao đẳng Phật học.
Sư phụ tôi cười và tiếp :
- Tùy chú. Chú thích thì cũng cho đi.
Tôi thưa liền :
- Dạ bạch Ôn (tức là thưa với Sư phụ tôi), cho Tín Đạo và Tín Niệm đi cũng được. Con xin ở nhà với Ôn và Chúng.
- Xuống kêu hai chú ấy lên đây.
Tôi dạ, và chạy xuống tìm Tín Đạo và Tín Niệm. (Tín Niệm nay đã về lòng đất lạnh)
Hai thầy Tín Đạo và Tín Niệm nghe Sư phụ gọi, lật đật mặc áo dài chạy lên. Vừa đi vừa chấp tay. Ôn Trúc bảo:
- Hai chú xuống lấy y hậu lên đãnh lễ thầy Đốc để vào Phật học Viện Nha Trang, học tiếp.
Tín Đạo và Tín Niệm mừng khôn xiết. Sau tết, hai vị thu xếp vào Nha Trang để kịp chương trình học.
Trong buổi cơm trưa ấy, Ôn Già Lam hỏi tôi :
- Sao ông không vào Viện để học luôn.
Tôi trả lời :
- Bạch Ôn, con ở nhà với Ôn con, đồng thời có mấy việc trong chùa, con không thể giao phó cho ai. Trong chùa có hai người phải gánh vác nhiều đó là thầy Lưu Hòa và con. Có hai thầy đi vào viện là cũng vui lắm rồi.
Sư phụ tôi nghe trả lời như thế, Ngài cười, vì hình như thích ý của ngài.
Ôn Già Lam dạy tiếp :
- Lớp tui bắt đầu xế chiều rồi. Mấy chú lo mà tu, mà học, để sau này nối tiếp việc làm của chúng tui. Cứ đem tứ vô lượng tâm mà hành trì và xử thế. Đừng trái với giới luật, đừng trái với Phật pháp là được rồi. Ở đời có ai khen mình đâu. Thấy làm được việc thì ganh tỵ, thị phi ; thấy làm không được việc thì chê bai trách móc. Có điều tôi muốn nhắc nhở với các chú, mặc dầu thầy của mấy chú đã dạy từ lâu và hằng ngày, đó là phải xem trọng nhơn quả của Phật. Nhơn quả của Phật dạy không bao giờ sai đâu. Chỉ vì con người cứ tham danh, tham lợi mà lờ đi đó thôi.
Sau một hồi dài nghe Ôn dạy,; tôi thưa nhỏ :
- Bạch Ôn, dùng trà.
Ôn bưng nhẹ tách trà lên, rồi gạt ngang xuống đĩa, xem có còn nước đọng bên dưới hay không. Không thấy có đọng nước, Ôn cười và nói :
- Chúng điệu Trúc Lâm có khác.
Ôn tiếp :
- Chuyện ở điệu là vậy đó. Pha chén nước, dọn mâm cơm, và phép hầu thầy, là phải có oai nghi. Luật Tiểu không xong, làm sao học Đại luật? Mấy bữa ni tui dạy Đại luật cho mấy thầy, mấy cô, tui thấy có một số lóc chóc quá. Có lẽ thầy của họ ít để ý cách giáo dục Tăng ni Chúng lý, thấy cũng buồn. Bây giờ mà như vậy, một mai khi mà các bậc Long tượng hầu Phật rồi, lớp trẻ Tăng Ni không biết sẽ ra sao nữa chứ !
Ôn Trúc Lâm cười, tiếp :
- Tui nhớ cái lớp do Tổ Trúc Lâm và Ôn Quốc sư Phước Huệ đào tạo thì khác, xuống một vài lớp như bây giờ là đã khác rồi. Mấy chú đã là Tỳ kheo hai ba hạ, dùng xe gắn máy, đội mũ bia-rê chạy bay tóc. Phật tử thưa lên, thưa xuống, tui cười rằng : Răng bà con cứ để ý chi mấy chuyện tiểu tiết. Quý vị cứ lo tu, niệm Phật đi cho thâm hậu, rồi sẽ thấy Chánh pháp hiển hiện. Cứ bắt mấy ông thầy phải tu, còn Phật tử cứ chạy lung tung, hết chùa này, qua chùa nọ để thổi lông tìm vết, . . . thì làm sao mà thấy được Chánh pháp.
Hai Ôn trao đổi chuyện qua lại về vấn đề đào tạo Tăng ni và nhận định Tăng ni theo thời cuộc, tôi nghe và học được rất nhiều những thâm ý ấy để làm kim chỉ nam tu tập của chính tôi. Cơm nước chuyện trò cũng gần hai giờ chiều, Ôn Già Lam từ giã Trúc Lâm, về lại Bảo Quốc.
2.- Chuyện thứ hai, 1972 mùa Hè đỏ lửa : Số là tôi được Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Thừa Thiên - Huế công cử làm Giám đốc xưởng khai thác và cưa xẻ gỗ Lục Hòa, gần điện Hòn Chén và lăng Thiệu Trị (Xưởng này là của Giáo hội). Một ngày như mọi ngày, tôi đều có mặt ở xưởng điều khiển nhân viên. Có khi tôi đựợc lên tận rừng để xem nhân viên chọn gỗ, hạ xuống đem về xưởng. Những chuyến đi này đều nhờ trực thăng của Mỹ, có sự sắp đặt chu tất của Thiếu tá Quận trưởng Hoàng Phúc Hiệt. (Ông Quận trưởng này thông thạo tiếng Anh, sau này làm trong Ủy ban Quân sự bốn bên, hiện tại là HO đang định cư tại tiểu bang WA).
Trong lúc đang điều khiển, không may tà áo dài quấn vào máy, tay tôi bị thương, được ông Quận trưởng đích thân chở đi chữa trị tại bệnh viện Trung ương Huế. Tôi từ giã chức Giám đốc từ đó và cọng trú với Hòa thượng Thích Hạnh Đạo, chùa Từ Tâm ở trong Trung tâm Y tế Toàn khoa Đà Nẵng, làm nhà giáo môn Toán, Lý hóa tại trường Trung học Bồ Đề Đà Nẵng, Hòa Vang và Sân Chà. (Hòa thượng Hạnh Đạo hiện là Viện chủ chùa Phổ Đà ở Quận Cam, CA).
Tôi đang dạy, thì được tin Thượng tọa Từ Mẫn, Giáo thọ Phật Học Viện Phổ Đà cho hay có Ôn Già Lam ra thăm Giáo hội và Viện. Lúc ấy thầy Từ Mẫn phụ trách môn Giáo lý của trường Bồ Đề.
Bãi giờ, tôi về thưa với thầy Hạnh Đạo, nhưng thầy đi họp Giáo hội chưa về. Tôi đi một mình lên viện Phổ Đà, trước đãnh lễ, sau thăm Ôn Già Lam.
Vừa bước vào, Ôn nói :
- Mần răng mà bất cẩn đến nỗi phải gãy tay rứa ? Bữa ni đỡ chưa ?
Tôi thưa :
- Bạch Ôn, tạm khá.
- Có về Huế thăm thầy Trúc không ? Khi mô về nói tui có lời thăm. Lúc này Giáo hội Trung ương bề bộn, tui ít có thì giờ về Bảo Quốc. Nhận chức vụ Tổng vụ Trưởng Kinh tế Tài chánh, mà Giáo hội thì không có tiền ; muốn làm cái chi cũng không được. Đang cử một số quý thầy trẻ trong ngành giảng sư đưa về giảng các vùng xa ở miền Tây, những nơi không có chư Tăng. Bữa mô chú lành, nên theo học lớp này để thay thế cho chúng tui.
Ôn dạy tiếp :
- Mấy bữa ni đi thăm các Giáo hội miền Trung và phát động phong trào gây quỹ cho Giáo hội Trung ương, nhưng đi tới mô cũng thấy Giáo hội địa phương đều nghèo, cũng lắm việc, chừ chưa biết tính cách chi.
Ôn vừa dạy vừa cười nhưng cũng vừa lo.
Ôn tiếp :
- Thật sự mà nói, tuy dân chúng hầu như gần tám mươi phần trăm là Phật giáo, nhưng mà phần lớn đều nghèo, mà đất nước thì bị chiến tranh triền miên. Dân chúng vùng quê phải lên tỉnh thị để sống lây lất qua ngày, tránh bom đạn và tránh sự nghi kỵ cả đôi bên. Khổ thiệt. Đứng về cửa giải thoát thì bảo : Tâm bao thái hư, nhưng sự thật thì không bao được. Đất nước mình, dân chúng mình sao mà khổ quá. Nghiệp chi mà nặng quá. Không biết đến khi đất nước thống nhất, hòa bình nó sẽ ra sao đây. Đúng là thế gian thường bảo:
“Gánh cực mà chạy lên non,
Chạy xuôi chạy ngược, cực còn chạy theo.”
“Tui, bây chừ đa mang. Phần lo đào tạo Tăng ni cho Viện. Phần lo Kinh tế cho Giáo hội. Phần lo in ấn mặt Văn hóa Phật giáo. Đủ thứ. Thôi thì, mình có chi làm nấy. Làm được cho Đạo thì đó là phước báo và trách nhiệm của mình. Làm được chừng mô quý chứng ấy. Cứ đem Tâm Phật mà làm. Con Phật là vậy. Còn vấn đề khen chê, thành bại, đắc thất là không nên ôm vào thân.
Ôn dạy một hồi, rồi cũng đến giờ cơm trưa. Tôi lên Honda chạy về Từ Tâm kiếm cơm ăn và đi dạy tiếp.
Vào lớp dạy học rồi, đầu óc tôi cứ liên tưởng đến lời dạy của Ôn Già Lam :
- Các chú cố gắng lên để thay thế các bậc cha anh trong mai hậu. Càng về sau, sự truyền bá Chánh pháp càng khó khăn hơn. Chúng ta là một tập thể Tăng già. Giáo hội Tăng già rất quan trọng. Mạng mạch của Chánh pháp, tập thể Tăng già chịu trách nhiệm phần lớn. Các chú nên nhớ lấy.
Nhơn đây, tui cũng nhắc lại lời của thầy Linh Quang, hồi còn sinh tiền, nói trong Đại hội kỳ 2, ngày 10-09-1959, rằng :
. . . - “…Giáo hội Tăng già là đoàn người thực hiện và tượng trưng cho giáo chế của đấng Giáo chủ Phật giáo. Từ khi Phật giáo có mặt trên lãnh thổ Việt Nam đến nay, đã hơn 18 thế kỷ, trải qua các thời đại Đinh, Lê, Lý, Trần, … khi thịnh cũng như khi suy, Giáo hội vẫn luôn luôn được công nhận là một tổ chức lãnh đạo của một tôn giáo thuần túy. Do đó, Giáo hội không bị ràng buộc bởi thể chế của một hiệp hội. Công nhận sự có mặt của Phật giáo là công nhận sự hiện hữu của Tăng già.
Trách nhiệm truyền thống của đạo pháp ; không một tổ chức nào khác có thể chịu mọi trách nhiệm với Phật giáo trước quần chúng, trước lịch sử nếu không phải là Tăng già, …”
Tôi cứ nghĩ miên mang như thế mà tiếng kiểng báo hiệu giờ ra chơi của trường vang lên mà tôi cứ ngỡ như là đánh kiểng để ra về. . . .
3.- Chuyện thứ ba, 1976 tại cây Vú Sữa, Tu viện Già Lam : Sau khi đất nước thống nhất, đa phần Tăng ni phải trở về với gia đình. (Rất nhiều lý do riêng biệt, ...). Bản thân tôi không còn được tiếp tục đi dạy học, vì còn mang áo tu sĩ, nên xoay làm đủ nghề : làm ruộng, bán phụ tùng xe đạp, đi mua bán ve chai phụ hãng xì dầu, . . . nhờ vậy mà tôi dong ruỗi từ Huế vào tận Vĩnh Long, Vĩnh Bình của miền Tây.
Bước chân vào đến Gài Gòn là vừa đúng ba giờ chiều. Từ bến xe, tôi nhờ người bạn chở đến Già Lam bằng Honda. Toàn vừa dừng xe, tôi bảo anh ra về và tự mình với túi xách nho nhỏ trên tay, đi thẳng vào ngay trước tiền đường. Chân cao chân thấp đi vào thì gặp ngay Ôn Già Lam và thầy Nguyên Giác đang đứng trước một mớ dụng cụ để làm nấm rơm. Tôi chấp tay vái chào Ôn. Ôn bảo :
- Vô khi mô rứa ? Ôn ngoài (tức Sư phụ của tôi) có khỏe không ?
Tôi thưa :
- Bạch Ôn, dạ khỏe.
Ôn quay qua bảo thầy Nguyên Giác : (Nguyên Giác và tôi quen nhau từ hồi còn là học sinh trường Quốc Học. Thầy tên Dũng, học ban C, tôi học ban B).
- Nguyên Giác coi chỗ để Tín Nghĩa nghĩ ít bữa.
Thầy Nguyên Giác đang bận tay, nhưng cũng dạ một tiếng sau lời dạy của Ôn.
Tôi lấy y hậu từ trong túi tay ra, mặc vào đãnh lễ Ôn. Ôn thấy Y hậu chỉnh tề, bảo:
- Lên chánh điện lạy Phật là đủ rồi. Xuống gặp thầy Đức Chơn đi.
Tôi dạ và làm theo lời Ôn.
Đảnh lễ Phật xong, tôi chỉ mặc áo vàng vào gặp Thượng tọa Đức Chơn. Mới gõ cửa, thầy hỏi :
- Tín Nghĩa vô khi mô ? Vô chơi hay có việc chi ? Ôn mình khỏe khôn ? Lâu quá, tui chưa về Huế, nên cũng không được gặp Ôn. Bữa mô ra, cho tui kính lời thăm Ôn.
Tôi dạ và định thưa để xin ở lại ít hôm, nhưng thầy bảo xuống gặp thầy Nguyên Giác và chuẩn bị ăn cơm tối cùng với chúng.
Khi vào phòng Học tăng lưu trú để cất đồ đạc, tôi quan sát những phòng đã từng thân quen với tôi hồi vào trọ học ở đây, khi tôi được tham dự Khóa Chuyên Hóa Học Đường tại Đại học Vạn Hạnh vào năm 1972. Phòng thì còn nguyên, nhưng những Học tăng cũ, lớn nhỏ, hoặc cùng lớp, một số lớn cũng đã thay áo theo thời gian. Tôi hỏi thăm Thê (Học tăng Phan Văn Thê, người Quảng Trị), thì cho biết : Tuấn, Trực, Thạnh, . . . về quê hết rồi.
Khi xuống phòng ăn thì cũng không còn được gặp lại số anh em đồng lứa thân quen từ lâu ở Huế, Đà Nẵng đã vào tu học ở đây là bao. Tuy thế Ôn Già Lam vẫn cố gắng tạo lớp học cho số học tăng còn lại.
Sáng hôm sau, tôi cũng mặc áo vào lớp để nghe Ôn giảng. Tuy học tăng ít, nhưng Ôn đem hết cả tâm nguyện sẵn có để truyền đạt tận tâm hồn cho họ. Những lời nói, những lời giảng giải Ôn đều chậm rãi đưa nhè nhẹ cho anh em học tăng đón nhận.
Buổi học mỗi sáng như thế là hai giờ đồng hồ. Chiều lại, thầy Nguyên Giác lo công việc chuyên môn là săn sóc và hướng dẫn một số quý thầy nhỏ học làm nấm. Một số khác có việc riêng. Tôi không có việc gì cả nên cứ chạy quanh thăm thầy nầy, thầy nọ. Hai vị tôi nói chuiyện nhiều nhất là Thê (Thích Quảng Tâm) và Dũng. (Thích Nguyên Giác, nay là vị Trú trì của Tu viện Già Lam).
Tôi ở lại đây được bốn ngày thì lấy vé xe đi Vĩnh Bình, về quận Tiểu Cần thăm sư huynh Lưu Đoan đang làm tọa chủ chùa Như Pháp.
Sau mùa Vu lan ở chùa Như Pháp và quận Tiểu Cần, tôi trở lại Sài Gòn và cũng xin ở lại Già Lam vài bữa trước khi về Huế.
Lần trở lại này rất đặc biệt là gặp được Ôn Thiện Minh và được cùng anh em Tăng trẻ hầu chuyện với Ôn gần bốn tiếng đồng hồ ở lầu chuông cạnh cây vú sữa. (Chuyện này tôi đã có viết một bài : Tách Trà Còn Nóng)
Sau khi được hầu chuyện với Ôn Thiện Minh, tôi ở lại Già Lam được hai hôm thì phải trở về Huế, vì có mấy chuyện cần phải giải quyết, nhất là chuyện vượt biên.
Ăn sáng xong, tôi lên đãnh lễ Ôn Già Lam và Đại chúng để trở về Huế. Gặp Ôn, được Ôn dạy thêm một số kinh nghiệm trong vấn đề tu học và nhất là chuyện Giáo hội về sau này. Ôn dạy :
- Mấy chú, chiều hôm qua được nghe thầy Thiện Minh tâm sự rồi. Cố gắng mà giữ gìn cho mình và cho Đạo dù bất cứ ở đâu. Về ngoài nớ, tui gởi lời thăm thầy Trúc và quý thầy. Có lẽ Tết năm này tui không về được. Thời buổi đi lại khó khăn, thôi thì chịu khó xa Huế một thời gian. Ngoài nớ cũng còn quý thầy lớn, cũng đỡ. . .
Ôn còn dạy nhiều nữa, nhưng, tôi xin đãnh lễ để ra xe.
Ôn dạy vói :
- Ra Huế luôn hay có ghé mô nữa không ?
- Dạ, bạch Ôn, có lẽ con ghé Nha Trang.
- Ừ, ghé đó để thăm viện và thăm quý thầy luôn. Lâu quá, tui cũng chưa ra lại Nha Trang để biết sinh hoạt của Viện và của học tăng ra sao cả.
- Bạch Ôn, con đi.
Đó là lần cuối được gặp lại Ôn Già Lam.
Khi ra hải ngoại rồi, được tin Ôn viên tịch. Ôn Bảo Quốc vào lo tang lễ rồi cũng tịch theo sau đó mấy hôm. Tháp Ôn Già lam thì xây tại Sài Gòn ; của Ôn Bảo Quốc thì xây tại Huế.
Ngày Ôn Già Lam viên tịch, Tổ Đình Từ Đàm Hải Ngoại tổ chức lễ tưởng niệm để cho hàng Phật tử gần xa được đảnh lễ trước tôn nhan của Ôn. Trong buổi lễ, trong bài diễn, tôi có một đoạn ngắn như sau :
. . . “. . . để rồi đưa đến cái chết của Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, một nhân vật lãnh đạo Phật Giáo nổi tiếng là ôn hòa nhất. . . .”
Hạnh nguyện Ôn là luôn chú ý đào tạo tăng tài, hoằng pháp lợi sanh. Ôn đi bất cứ đâu cũng khuyến hóa vấn đề giáo dục Tăng Ni, bằng cách này hay cách khác. Phải thành thực mà nói : Các ngài Long tượng của Phật giáo trong thời cận đại Chấn hưng Phật giáo từ thập niên 30 cho đến nay, Ngài nào cũng lo mặt văn hóa và đào tạo Tăng Ni cả ; tuy thế, riêng lớp lớn thì Ôn Già Lam là sát cánh nền giáo dục Tăng Ni nhiều nhất, kế đó là Thượng tọa Tuệ Sỹ.
Hôm nay, cũng đã trên ba mươi năm, con ngồi ghi lại một vài hạnh nguyện vô giá của Ôn đã cống hiến đời mình cho Đạo pháp và Quê hương. Trước là ghi nhớ những lời vàng ngọc mà con có diễm phúc kề cận được Ôn khuyến tấn ; kế dĩ, cho hàng hậu bối chỉ nghe danh Ôn mà chưa hề biết gì về Ôn cũng cố gắng sửa tâm, luyện đạo như những ngày Ôn còn tại thế đã lo lắng cho lớp đàn anh và cho chúng con.
Con xin hướng về Tu viện Già Lam, kính cẩn đãnh lễ trước long vị và tôn nhan của Ôn.
Hoa kỳ, ngày mạnh Đông - Kỷ tỵ (Dec. 01, 2008)
Hậu học Điều ngự tử TÍN NGHĨA