Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Lời Bạt

26/04/201313:39(Xem: 4132)
Lời Bạt


NIỆM PHẬT VÔ TƯỚNG

(Lí Luận và Nhập Môn Pháp Môn Niệm Phật Viên Thông của Bồ Tát Đại Thế Chí)

Nguyên tác Hoa văn của Tiêu Bình Thật cư sĩ
Cư sĩ Hạnh Cơ dịch ra Việt văn

NIỆM PHẬT VÔ TƯỚNG (VÔ TƯỚNG NIỆM PHẬT)
Nguyên tác Hoa văn của Tiêu Bình Thật cư sĩ (Đài-loan)
Cư sĩ Hạnh Cơ dịch, giới thiệu, chú thích bổ túc,
đánh máy,và trình bày trang sách
Nữ cư sĩ Tịnh Kiên đọc và sửa chữa bản thảo

LỜI BẠT

1. Sau khi tu thành công pháp môn Niệm Phật Vô Tướng, trong tâm vô cùng vững chãi, trên đường tu hành dứt nỗi bàng hoàng, tự biết phương pháp tu hành không nhầm lẫn, tự nhiên dũng mãnh tiến tới trước.

2. Nếu hành giả vốn sẵn học thiền mà chuyển sang tu pháp môn này, khi đã tu tập thành công giai đoạn thứ 7, là đã đủ khả năng khán thoại đầu. Lúc bấy giờ cũng có thể khán thoại đầu, nhưng nên chỉ dừng lại một hay hai lần để thưởng thức mà thôi; mà vẫn phải lấy niệm Phật vô tướng và nhớ lạy Phật vô tướng để tăng cường công phu tu tập, cho đến sau khi đã thành công giai đoạn thứ 9 hoặc thứ 10, mới nên chuyển trở lại con đường tham thiền. Làm như vậy là vì pháp môn niệm Phật lạy Phật vô tướng có đầy đủ sức gia trì của Phật, Bồ-tát và lòng tin của mình đối với Phật, Bồ-tát; cho nên so ra dễ an trụ trong tịnh niệm niệm Phật vô tướng, có thể thu nhiếp hết cả sáu căn. Nhưng tham thiền khán thoại đầu thì không như vậy: Tham thiền là pháp môn tự lực, sự nương nhờ vào sức gia trì của Phật, Bồ-tát so ra rất ít (sự thật cũng có sức gia trì, nhưng phần tự lực nhiều hơn, hành giả khi ngộ thấy tự tánh thì tự biết), rất tin nơi tự tâm. Cho nên người tham thiền, so ra, không những định lực phải mạnh, tâm thần phải chuyên chú, mà lòng tự tin cũng phải thật mạnh mẽ – tự tin mình có khả năng khai ngộ thấy tánh. Khi đã tu thành công giai đoạn thứ 9 hoặc thứ 10, nếu định lực và tín tâm đầy đủ, hành giả có thể chuyển sang tham thiền; bấy giờ nghi tình dễ sinh khởi và hành giả tiến vào khối nghi. Lúc ấy người tham thiền vẫn phải chuẩn bị đầy đủ tri kiến về tham thiền, phải tham khảo các trước tác về thiền học của các vị thiện tri thức, các kinh điển thiền môn v.v...; cũng như phải thân cận học tập nơi các vị thiện tri thức, để khỏi uổng phí công phu, lạc lối vào đường nguy hiểm.

Người vốn sẵn tham thoại đầu (hoặc thoại vĩ), có thể xem lời khai thị của đại lão hòa thượng Hư Vân để biết thế nào gọi là “thoại đầu”, cách “tham” ra sao. Hành giả cũng có thể xem những điều trình bày trong lời “Dẫn Nhập”“Chương Một”của sách này, tự mình có thể tham thiền. Tham thiền đã có chỗ để bắt đầu, đáng vui, đáng mừng! Từ đây một lòng tha thiết, thật tâm tham thiền, sẽ có ngày ngộ nhập.

3. Nếu hành giả từ trước vẫn tu tập pháp môn Tịnh Độ, nay tu pháp môn Niệm Phật Viên Thông này, được thành công công phu niệm Phật vô tướng, động tĩnh nhất như, chắc chắn trong một lúc nào đó, khi nhân duyên thành thục, bỗng nhiên ở trong tĩnh cho đến ở trong động sinh khởi nghi tình, tham cứu niệm Phật. Niệm niệm muốn rõ “Người niệm Phật là ai?”. Hành giả lúc bấy giờ bất tất phải sợ sệt, cũng không nên kháng cự tâm nghi tình này. Đó là hiện tượng khế cơ buổi ban đầu mà trong chương “Niệm Phật Viên Thông của Bồ Tát Đại Thế Chí”có nói tới: “Không nhờ phương tiện mà tâm tự sáng”; và đó cũng chính là điều mà người tham thiền gọi là “nghi tình”. Hành giả đã sinh khởi nghi tình, chỉ cần thể cứu vào sâu câu thoại đầu “Niệm Phật là ai?”. Trong chỗ tự mình tham cứu, mà nhân duyên thuần thục, thì dù va, dù chạm, cho đến ở trong chỗ tịch tĩnh, một niệm tương ứng, tự thân thấy rõ “bản lai diện mục” từ trước khi mình chưa sinh ra đời, nguyên lai chẳng qua là như thế đấy. Đó tức là “Không nhờ phương tiện mà tâm tự sáng.”Đó là điều rất nhiều thiền sinh mong cầu mà không được, nay hành giả lại được! Do trước đã thành tựu công phu trong động này mà không thối chuyển, một ngày nào đó thấy tánh, thì cảnh giới giác ngộ cũng không thối chuyển, dứt trừ ba phược kết[88], bước lên hàng Bồ-tát bất thối. Từ đây hành giả tự chứng Kiến-địa [89], đa số các loại công án phức tạp của các vị tổ sư Thiền tông đều có thể lãnh hội được. Thêm nữa, trong sinh hoạt hằng ngày và tu học Phật pháp, xem đọc kinh điển, và cảnh giới giải thoát, cũng được thọ dụng nhiều công đức. Đây tức là Thiền Tịnh song tu, do từ niệm Phật mà vào sâu lí tính; trong đó, sự thọ dụng công đức không thể nói cho cùng, vượt quá phạm vi mà sách này muốn nói. Chỉ xin trình bày sơ lược như thế, xin chư vị hành giả nghiên cứu thêm. Lúc bấy giờ liền thể hội được điều mà thiền sư Đạo Tín đã nói: “Thường nghĩ nhớ Phật, tâm phan duyên không sinh khởi, rỗng không vô tướng, bình đẳng không hai. Vào địa vị này, tâm nhớ Phật phai nhạt, nhưng không cần phải làm cho tỏ rõ; cứ xem cái tâm bình đẳng đó, đã là cái thân pháp tánh chân thật của Như Lai, hay cũng gọi là chánh pháp, là Phật tánh, là thật tánh thật tế [90]của các pháp, cũng gọi là tịnh độ, là bồ đề, là kim cang tam muội [91], là bản giác [92]v.v...”

4. Hành giả bất luận do tham thiền mà nhập lí tánh, hay do niệm Phật mà nhập lí tánh, sau khi thấy được Phật tánh đều nên tham phỏng bậc đã thực sự kiến đạo, để khỏi đem vọng giác lầm cho là chân giác, thậm chí đem cảnh giới định mà lầm cho là cảnh giới giác ngộ. Chỗ này rất là vi tế, xin hãy lưu ý; nếu không thì ngày qua tháng lại, khi cơn vô thường ập đến, như mối ăn gỗ, ăn năn không kịp.

5. Kẻ hậu học này là một người vô danh tiểu tốt, ở trong giáo giới, nhân cách và công việc đều tầm thường, chỉ sống âm thầm. Nay muốn khua động ba chữ “Tiêu Bình Thật” vô danh này nhằm phổ biến một pháp môn sâu xa khó tin khó vào, mà vạch rõ ý nghĩa chân thật của bước khởi đầu đi vào pháp môn Niệm Phật Viên Thông; tuy có đủ phương tiện thiện xảo để hướng dẫn hành giả, vẫn sợ người tin không nhiều, người y theo đây tu trì lại càng ít hơn. Nếu người nào có thể tin nhận những lời này và y theo đó mà tu trì, tôi tin chắc rằng người ấy đã từng nhiều đời học Phật, lòng tin đã thuần thục, căn lành sâu dầy, không bao lâu chắc chắn tu tập thành tựu công phu niệm Phật vô tướng.

6. Kẻ hậu học này tu thiền, tuy có nhập cảnh giới chút ít, nhưng chỉ là mỏng cạn, vẫn cần phải chuyên tâm tu trì; vì vậy mà không thể du phương diễn thuyết. Hành giả sau khi đọc sách này, có gì khó hiểu, xin hãy đến trước Phật sám hối tội chướng, siêng tu ba nghiệp phước tịnh, thường thường để ý tư duy; cũng nên hộ trì các cơ cấu hoằng dương Phật giáo, cùng phổ biến tập sách này. Hành giả cũng phải đứng trước Phật chí thành phát nguyện: Đời đời kiếp kiếp tu hành hạnh Bồ-tát, hóa độ chúng sinh; nếu tu tập thành tựu pháp môn này, xin nguyện quảng bá, giúp đỡ cho chúng sinh cũng tu tập thành tựu pháp môn này, để cùng thấm nhuần ích lợi Phật pháp. Sau đó cầu xin đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, các đức Bồ-tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí v.v... từ bi gia hộ. Tự mình cũng nên đọc đi đọc lại kĩ càng, cố gắng suy nghĩ, ngày ngày tập luyện phép nhớ lạy Phật vô tướng, chú ý thể hội. Tội chướng tiêu dần thì tự nhiên thông hiểu, được lợi ích vô cùng. Đối với tri kiến và phương tiện nhập môn Niệm Phật Vô Tướng, kẻ hậu học này đã nói tới nhiều lần trong sách này, có thể gọi là không có cái gì biết mà không nói, và nói hết, không chừa lại điều gì; có thể bảo nói nhiều, nói dai là đàng khác. Mong hành giả tự mình lĩnh hội, gắng sức tu hành. Xin đừng tìm kẻ hậu học này để hỏi han (trừ ra, nếu có duyên cùng tu chung thì không kể), khiến cho kẻ hậu học này lại càng thâm nhập Phật pháp, trong tương lai làm lợi ích cho càng nhiều chúng sinh. Đó tức là hành giả đối với kẻ hậu học này rất ái hộ vậy. Kẻ hậu học này chỉ biết tỏ lòng xin lỗi và cám ơn.

7. Nếu có vị thiện tri thức nào viết văn chê bai, bình luận, hay khen thưởng, kẻ hậu học này đều xin bình thản nhận lãnh, nhưng không trả lời; vì có hai lí do: Một, cần phải giúp đỡ cho các bạn đồng tham, cùng tu, thời gian rất quí báu; hai, đối với cảnh giới dự định sẽ đạt tới trong đời này, vẫn còn quá xa vời. Năm tháng còn lại không bao nhiêu, cơn vô thường mau chóng, không dám lãng phí thời gian cho việc biện bạch thù đáp. Dám mong chư vị thiện tri thức hiểu cho, kẻ hậu học này cám ơn vô cùng.

8. Đối với số đông các vị tu thiền, kẻ hậu học này rất lấy làm xấu hổ vì khả năng có hạn, trước mắt không đủ sức trình bày dông dài về kinh nghiệm tu thiền cạn mỏng của mình; chỉ xin dùng bài kệ sau đây để bày tỏ lòng mình, đồng thời cũng là lời tạ lỗi:

Ngàn dặm xa xôi gấp tìm thầy

Thân tâm trĩu nặng mối ưu tư

Linh-sơn bước đến không gì khác

Trước cửa ao sen tỏa ngát hương

9. Sách này nhờ chư vị cư sĩ Hứa Quả Xuyên, Lưu Cận Sơn, Trương Quả Hoàn, Lương Truyền Phụ v.v..., dù bận rộn trăm công ngàn việc, cũng đã dành thì giờ giúp cho các việc nhuận sắc, hiệu đính, ghi chép, lên khuôn in v.v..., để cho sách này được ấn hành viên mãn. Quí Vị đã vì chúng sinh mà cống hiến nhiệt tình, ra công khó nhọc. Xin gửi đến Quí Vị lòng cung kính vô hạn.

Ngày 28 tháng 2 năm 1992

Kính cẩn,

Tiêu Bình Thật

VÀI LỜI GHI THÊM

Vì nhân duyên chưa đủ nên sách này cho đến nay mới xuất bản được. Nhưng cũng vì sự chậm trễ này mà có cơ hội để ba vị đồng tu, vào thời gian trước ngày 1.12.1992, đã lần lượt tự thân chứng thật pháp môn này, và xác quyết là có thể “không nhờ phương tiện mà tâm tự sáng”, tự thấy Phật tánh. Quá trình và công đức cũng hoàn toàn phù hợp với những điều sách này trình bày. Lại có một vị khác, sau khi tu tập thành tựu công phu niệm Phật vô tướng thì chuyển sang tham thiền, và công phu đã thành tựu trước ba vị kia, thấy rõ tâm tánh, hưởng nhiều công đức. Cả bốn vị này, cho đến nay, cảnh giới ngộ vẫn không bị thối lui, giờ nào nơi nào cũng thấy rõ Phật tánh vốn có của mình.

Từ khi kẻ hậu học này giảng thuật pháp môn Niệm Phật Vô Tướng, cho đến nay, không quá một năm 3 tháng, đã có 4 người thấy tánh; huống chi sau đó nhiều người nối gót tham gia vô cùng hào hứng, chẳng bao lâu cũng sẽ thành công, khiến kẻ hậu học này không kềm chế được sự vui mừng, không sợ chê cười mà tự tâng bốc, đến nỗi sau lời bạt lại còn ghi thêm sự thật này, để một lần nữa chứng thật cho điều mà đức Bồ-tát Đại Thế Chí đã nói: “Nhớ Phật niệm Phật, không nhờ phương tiện mà tâm tự sángi.”Lời nói đó hoàn toàn không hư vọng.

Lại nữa, trong 3 người niệm Phật đã nhập được lí tánh, thì người thấy tánh sau cùng là một phụ nữ chỉ tốt nghiệp cấp tiểu học quốc dân mà thôi. Bà này cũng chưa từng được nghe hay đọc sách về thiền pháp. Ngày nay bà tùy duyên thuyết pháp độ người, nói năng chín chắn, phù hợp lí trung đạo, so với tính nhút nhát và ăn nói vụng về trước kia, thật khác xa một trời một vực. Sự thật này cũng đủ để cho số ít người niệm Phật sức học thấp kém lại lòng tin không vững, lấy đó làm gương, tự khích lệ mình, tinh tấn tu trì pháp môn này. Nhân đây, kẻ hậu học này xin chúc chư vị hành giả, sau 4 người trên, cùng đua nhau tiến bước, nối tiếp nhau thành công, thật là điều mong mỏi của kẻ hậu học này.

Ngày 2 tháng 2 năm 1993

Kính cẩn,

Tiêu Bình Thật

LẠI GHI THÊM

Lại có việc không thể không nói thêm: Sau khi sách này đã được sắp chữ xong, khi sửa chữa lần thứ hai, trước khi đưa cho in, lại có 3 người nhân tham thoại đầu mà khai ngộ, một người nhân niệm Phật vô tướng mà tự được tâm khai, tiếp nối nhau mà đến, đều thân thấy Phật tánh, trở về nguồn cội. Kinh nói: “Người thấy đạo, tuy là phụ nữ, cũng gọi được là bậc trượng phu.”Cho nên, 3 người kia tuy là phụ nữ, tôi cũng xưng họ là “sư huynh”.

Sở dĩ kẻ hậu học này đành bất chấp sai quấy, một lần nữa nêu lên sự thật này, cốt ý là xây dựng lòng tin vững chắc cho người học Phật. Xã hội thời đại tuy ở thời mạt pháp, nhưng lòng người không chắc chắn phải là mạt pháp, chỉ vì người người tự tánh giống nhau. Nếu ở trong lúc xao động mà vẫn có được tịnh niệm tiếp nối, nhưng chỉ một niệm tương ứng, truyền tiếp mãi mãi, thì tự nhiên trí tuệ bừng sáng, hiện thành “người xưa nay vốn vậy”, làm gì có mạt pháp hay không mạt pháp! Nếu có ai nhân đây mà chê bai tôi thì tôi cũng coi đó là nước đường. Chỉ cần xây dựng được lòng tin vững chắc cho người học Phật là nguyện của tôi đã đầy đủ. Tôi xin ghi thêm mấy lời như thế.

Ngày 10 tháng 2 năm 1993

Kính cẩn,

Bồ-tát giới tử Tiêu Bình Thật

CHÚ THÍCH (của tác giả):

(1) Theo kinh Quán Vô Lượng Thọ, 3 phẩm hoa sen bậc Hạ(Hạ-thượng, Hạ-trung, Hạ-hạ) nhiếp thọ hàng phàm phu thấp kém, tuy không hủy báng đại thừa nhưng tạo nhiều nghiệp ác, nhờ sức phương tiện của Phật mà được vào hàng Bồ-tát đại thừa. Sau khi vãng sinh, họ được ở dưới bậc Sơ-địa trở xuống. Vì nơi đây hàng phàm phu cùng với quí vị hiền thánh ở chung, nên gọi là Phàm-thánh đồng-cư độ; hạng người quá thấp kém mới muốn vãng sinh về đó. 3 phẩm hoa sen bậc Trung (Trung-thượng, Trung-trung và Trung-hạ) là đức Phật A Di Đà dùng sức phương tiện để nhiếp thọ các chúng sinh có chủng tánh Thanh-văn. Sau khi vãng sinh về đó, họ đều được ở quả vị Thanh-văn, chứng “hữu dư niết bàn”. Nhân vì cõi này là do Phật dùng phương tiện hóa thành, nên gọi là Phương-tiện hữu-dư độ; hạng người căn tánh trung bình muốn vãng sinh về đó. 3 phẩm hoa sen bậc Thượng (Thượng-thượng, Thượng-trung và Thượng-hạ) chỉ nhiếp thọ người có căn tánh Bồ-tát đại thừa; trên từ hạng thấy tánh, dưới đến hạng phát đạo tâm vô thượng, đều được vãng sinh về đó. Hành giả thuộc hạng này, hoặc thấy đệ nhất nghĩa (thấy tự tánh là không, pháp tánh cũng không), hoặc hiểu rõ đệ nhất nghĩa mà không kinh sợ, hoặc phát tâm thành Phật, chứng đắc quả vị từ Sơ-địa trở lên, từng phần thể nhập pháp thân, cho nên gọi là Thật-báo trang-nghiêm độ; hạng người thượng căn đều muốn vãng sinh về đó.Đừng nên hiểu lầm rằng, ba cõi Phàm-thánh đồng-cư, Phương-tiện hữu-dư và Thật-báo trang-nghiêm ở thế giới Cực-lạc, mỗi cõi đều có đủ 9 phẩm hoa sen.

(2) Vô sinh nhẫn: Chứng giải thoát từng phần cho đến giải thoát rốt ráo đều là vô sinh nhẫn.

(3) Vô học: Có tu có chứng gọi là “hữu học”, hoặc gọi là “người học”; người giải thoát rốt ráo, trên đường giải thoát đã thân chứng và hiểu biết rốt ráo, không còn phải học nữa, gọi là “vô học”.

(4) Niệm Phật tam muội: Có rất nhiều loại niệm Phật tam muội, muốn biết rõ ràng, có thể đọc Phẩm Niệm Phật Tam Muộitrong quyển 43 của Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập, thuộc Bộ Đại Tập,nằm trong quyển 13 của Tạng Đại Chánh;hoặc Kinh Bồ Tát Niệm Phật Tam Muội (phần Đại Phương Đẳng Đại Tập Bồ Tát Niệm Phật Tam Muội). Người ta thường nói, niệm Phật tam muội phần nhiều là chỉ cho tam muội niệm hóa thân Phật, niệm báo thân Phật và niệm pháp thân Phật. Niệm Phật vô tướng chính là niệm Phật tam muội, thuộc loại niệm pháp thân Phật, là một trong các loại tam muội. Do công phu niệm Phật vô tướng mà nhập vào tam ma địa, cũng là niệm Phật tam muội.

(5) Nói chung người niệm Phật trì danh, nếu nghe nói tu định thì thường thường là rút lui; chứ đâu biết rằng, niệm Phật trì danh cũng là một phần của pháp môn tu định. Như trong quyển 4 của Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ (tức Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ)có nói: “...... Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Di Đà, đi đứng ngồi nằm, không cần biết thời gian dài ngắn, niệm niệm không rời, đó gọi là nghiệp chánh định.”Tu định rất là trọng yếu, chư vị tổ sư xưa nay đều dạy như thế. Ở đây lại xin nêu lời dạy của vị Sơ tổ tông Tịnh Độ là đại sư Tuệ Viễn, cho thấy tính cách trọng yếu của việc tu định ở hành giả tu Tịnh Độ. Trong bài “Tựa” sách Tuệ Viễn Pháp Sư Văn Sao có ghi: “......Đến ngày 28 tháng 7 năm Canh-Dần, tức năm thứ 15 niên hiệu Thái-nguyên, ngài Tuệ Viễn cùng với 123 người gồm chư tăng và cư sĩ, đã kết xã niệm Phật, cầu sinh Tây-phương. Tất cả các vị ấy, vào lúc lâm chung đều có cảm ứng tốt lành, đều được vãng sinh. Do vì mọi người ...... vừa được ngài Tuệ Viễn dẫn dắt, vừa tự mình thiết tha tu tập, mà được lợi ích như vậy. Đó mới chỉ là những người kết xã đầu tiên, nếu tính trong thời gian hơn 30 năm còn lại của cuộc đời ngài, thì số người được ngài giáo hóa tu tịnh nghiệp, chứng tam muội và vãng sinh về Cực-lạc, thật là quá nhiều!”Rồi trong phần “Phụ Lục” của sách ấy lại nói: “......Sư ở núi 30 năm, chân không vào cõi tục, chỉ lấy Tịnh Độ cần cù chuyên niệm. 11 năm đầu thì lắng tâm cột tưởng, 3 lần được thấy thánh tướng, thầm lặng không nói. 19 năm sau, vào đêm cuối cùng tháng 7, nơi ngôi nhà nhỏ ở phía Đông đài Bát-nhã, vừa từ định đứng dậy thì thấy đức Phật A Di Đà, thân đầy khắp hư không, trong ánh sáng tròn đầy có chư vị hóa Phật, hai đức Bồ-tát Quán Âm Thế Chí đứng hầu hai bên; lại thấy dòng sông ánh sáng chia làm 14 nhánh, chảy khắp trên dưới, diễn nói pháp âm khổ, không, vô thường, vô ngã. Đức Phật bảo ngài: Ta dùng sức bản nguyện đến đây an ủi ông, 7 ngày sau ông sẽ sinh về nước ta......”

Xem những điều vừa nêu trên thì biết rằng, Sơ tổ của Liên tông đã thành lập Liên xã với 123 người, và toàn bộ số người ấy đều vãng sinh về thế giới Cực-lạc. Được như vậy là nhờ đại sư Tuệ Viễn đã hết lòng dạy dỗ, hướng dẫn, cộng với lòng thiết tha và sự nỗ lực tu tập của họ. Mà phép niệm Phật của đại sư Tuệ Viễn là chuyên tư lặng tưởng, mới có thể ba lần được thấy thánh tướng; và trước khi vãng sinh 7 ngày lại được đức Phật A Di Đà thị hiện báo trước cho biết. Bấy giờ cũng là lúc sau khi nhớ Phật trong định, vừa từ định đứng dậy thì ngài thấy đức Phật. Từ đó có thể biết, trì danh cũng có thể vãng sinh Tây-phương, nhưng chủ yếu là nhờ đó để trừ khử vọng tưởng, phan duyên. Kẻ hậu học này nghĩ rằng, trước hãy mượn cách trì danh làm phương tiện, tu trì một khoảng thời gian, sau đó chuyển học theo phép chuyên tư lặng tưởng của ngài Tuệ Viễn. Muốn học cách chuyên tư lặng tưởng, có thể nhờ sự giúp ích của pháp môn niệm Phật vô tướng mà nhanh chóng đạt thành. Tương lai chắc chắn được vãng sinh, mà sinh lên các phẩm hoa sen cao; đừng lấy việc vãng sinh lên các phẩm Trung, phẩm Hạ mà cho là đủ.

Lại như đại sư Thiện Đạo đã nói trong tác phẩm Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ: “...... Lại trong tâm chân thật, ý nghiệp tư tưởng, quán sát, ức niệm đức Phật A Di Đà và cả chánh báo cùng y báo của Ngài, như hiện ra trước mắt.”Những cảnh giới như thế, nếu không có định lực thì làm sao có được? Ngài lại nói: “Tâm thường thân cận, nhớ nghĩ không gián đoạn, gọi là hạnh vô gián vậy.” Tất cả những hạnh như thế, không có hạnh nào là không tương ưng với định. Cho nên, hành giả nếu muốn vãng sinh về Cực-lạc, và vãng sinh lên các phẩm hoa sen cao, cần phải tăng cường định lực, để hộ trợ cho công phu tu trì Tịnh Độ.

(6) Trời Dục giới: Thế gian chia làm 3 loại, cũng gọi là 3 cõi, tức cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô-sắc. Cõi Dục bao gồm thế gian vật chất và 6 tầng trời, từ trời Tứ-thiên-vương lên đến trời Tha-hóa tự-tại. Vì chúng sinh trong cõi này còn có tướng nam nữ và sự dâm dục, cho nên gọi là cõi Dục (Dục giới). Cõi Sắc (Sắc giới) gồm có 18 tầng trời, là nơi cư trú của những chúng sinh tu tập chứng đắc từ Sơ-thiền cho đến Tứ-thiền, và các bậc thánh đã chứng quả A-na-hàm. Chúng sinh ở cõi này chỉ có hình tượng mà không có tướng khác biệt nam nữ, cũng không có dâm dục. Cõi Vô-sắc (Vô-sắc giới) gồm có 4 tầng trời, là nơi cư trú của những chúng sinh tu tập và chứng đắc 4 định Không, không còn hình tượng, chỉ thuần là trạng thái tinh thần.

(7) Thấy núi không phải núi, thấy sông không phải sông: Người tham thiền, tâm sinh nghi tình, nỗ lực tham cứu, trú trong khối nghi mà hoàn toàn không biết gì về mọi sự vật ở chung quanh; giống y như người mù mở mắt, nhìn mà không thấy, nghe mà không biết. Ví như trên đường về nhà, vừa đi vừa tham thiền, đi qua khỏi nhà mà không biết; lại như tham thiền trong lúc ngồi, tuy trước mắt có người qua lại, nhưng nhìn mà không thấy, nghe mà không biết. Cho đến khi rời cảnh giới này, mới biết chớp mắt, mới nghe âm thanh; mới biết mình vừa nhập vào trong cảnh giới “thấy núi không phải núi”. Cảnh giới này cũng được gọi là “thùng sơn đen”, hoặc gọi là “khối nghi”.

(8) Biệt nguyện của chư Phật: Bốn lời nguyện lớn là thệ nguyện chung của chư Phật. Ngoài ra, chư Phật trong quá khứ và hiện tại, tùy theo nhân duyên khác nhau của các Ngài trong thời kì tu nhân, mỗi Ngài đều vì chúng sinh mà phát các lời nguyện đặc biệt của riêng mình (ngoài 4 lời nguyện chung ở trên). Các lời nguyện đặc biệt của chư Phật ấy không giống nhau, cho nên gọi là “biệt nguyện”.

(9) Hành giả: Pháp môn này nhằm đối tượng là chư vị cư sĩ tại gia mới phát tâm học Phật mà nói, cho nên xưng là “hành giả”.

(10) Kinh Pháp Diệt Tậncó chép: “...... Thọ mạng đàn ông ngắn; thọ mạng đàn bà dài, bảy, tám, chín mươi, hoặc đến 100 tuổi...... Lúc bấy giờ có các vị Bồ-tát, Bích-chi, La-hán, bị các loài ma xua đuổi, không dự chúng hội. Ba thừa vào đất phước đức, thản nhiên giữ mình, tự lấy làm vui, thọ mạng lâu dài. Chư thiên hộ vệ Bồ-tát Nguyệt Quang ra đời, được gặp gỡ nhau, cùng nhau hưng khởi đạo pháp của ta kéo dài thêm 52 năm. Các kinh Thủ Lăng Nghiêm, Bát Chu Tam Muội, bị hóa diệt trước nhất, sau đó, mười hai bộ kinh cũng tiêu diệt theo, diệt hết, không xuất hiện trở lại, không còn thấy được một câu một chữ nào. Áo cà sa của các vị sa môn bỗng nhiên biến màu thành trắng. Khi giáo pháp của ta tiêu diệt, ví như ngọn đèn dầu phực sáng lên trước khi tắt, rồi diệt hẳn. Từ đó về sau, tình trạng thật là khó nói. Cứ như thế kéo dài cho đến vài ngàn vạn năm, đức Di Lặc sẽ ra đời thành Phật, thiên hạ thái bình, khí độc tiêu tan, mưa nắng điều hòa, ngũ cốc tươi tốt......”

Lại nữa, kinh Di Lặc Hạ Sinhcó cả thảy 5 bản dịch: Ngài Trúc Pháp Hộ dịch một bộ, ngài Cưu Ma La Thập dịch 2 bộ, ngài Nghĩa Tịnh dịch một bộ; cả 4 bộ này đều chưa nói rõ vào lúc nào thì Bồ-tát Di Lặc hạ sinh thành Phật. Chỉ có bản dịch thứ 5 có nói rõ rằng: “Phật Di Lặc còn sáu mươi đầy sáu mươi ức năm nữa sẽ hạ sinh.” Nhưng bản dịch này so với bốn bản dịch trước thì thiếu sót rất nhiều, lại không biết dịch giả là ai, không đáng tin tưởng; cho nên cứ lấy những điều chép trong kinh Pháp Diệt Tậnlàm chuẩn.

(11) Sáu trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

(12) Tư duy quán: Người tham thiền trụ ở trong nghi tình, để hết tâm trí tư duy nghi tình. Trong lúc tư duy thì xa lìa tất cả ngôn ngữ, văn tự, âm thanh, phù hiệu, hình tượng mà tư duy.

(13) Cân bằng nội nhiếp và ngoại duyên:

1. Người niệm Phật vô tướng, nếu ở trong không nhiếp phục mà cứ duyên theo lời nói của người trước mặt thì niệm nhớ Phật hoàn toàn bị mất. Nếu không duyên theo cảnh ngoài, nhiếp phục ở bên trong, tâm trí hoàn toàn chỉ có cái niệm nhớ Phật, thì dù người trước mặt có nói năng gì mình cũng không biết. Nếu nội nhiếp và ngoại duyên được cân bằng, thì người trước mặt nói gì mình có thể hiểu được, mà cái niệm nhớ Phật ở trong tâm cũng rõ ràng phân minh.

2. Người thấy tánh, thấy tự tánh ở khắp mọi nơi, cho đến thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng như vậy. Nếu thường duyên theo cảnh ngoài, muốn thấy tự tánh, tâm định tán thất, sau một thời gian sẽ không thấy tự tánh. Nếu hoàn toàn nhiếp phục bên trong thì trụ nơi cảnh giới định, không thấy tự tánh. Nếu người thấy tánh, ở nơi thấy nghe hiểu biết, giữ cho nội nhiếp và ngoại duyên được cân bằng, thì cảnh giới giác ngộ không thối lui, tự tánh lúc nào cũng tỏ rõ. Đó là điều mà ngài Lục tổ của Thiền tông đã nói: “Niệm niệm không rời tự tánh.”, tức là vừa bền vững, lại vừa vận hành tự nhiên. Muốn vậy, cần phải chuẩn bị đầy đủ công phu niệm Phật vô tướng, hoặc tu tập đạt được công phu khán thoại đầu trong lúc xao động, mới giữ bền vững được. Nếu không thì phải xa lìa chốn bụi trần huyên náo, đến bên mé nước rừng sâu để nuôi lớn thánh thai.

3. Người đã chứng được thiền định (bỏ ra ngoài phần bị thối lui), nếu ở trong sinh hoạt hằng ngày, cũng như người niệm Phật vô tướng, giữ gìn được sự cân bằng giữa nội nhiếp và ngoại duyên, thì có thể thường ở trong tâm định Sơ-thiền, dù hằng ngày có sinh hoạt rộn rịp hơn những người bình thường, tâm định cũng không bị thối thất.


PHỤ CHÚ (của dịch giả):

[1]Tham cứu:là thuật ngữ Thiền học. Trong thiền môn, , người đệ tử phải đến trước thầy để tham vấn, cầu khai thị về việc tham thiền để thấy tánh giác ngộ; đó là việc quan trrọng trong đời tu hành của một thiền sinh.

[2]Bốn loại tịnh độ:Đại sư Trí Khải của tông Thiên Thai phân biệt có bốn loại tịnh độ:

1) Phàm-thánh đồng-cư độ:tịnh độ của cả thánh nhân (Thanh-văn, Duyên-giác) và phàm phu (người, trời) cùng cư trú.

2) Phương-tiện hữu-dư độ:tịnh độ của chư vị A-la-hán, Bích-chi Phật và hàng Bồ-tát Địa-tiền (trước khi tiến lên bậc Sơ-địa) cùng cư trú.

3) Thật-báo trang-nghiêm độ:tịnh độ của hàng Bồ-tát từ bậc Sơ-địa cho đến bậc Đẳng-giác cư trú.

4) Thường-tịch-quang độ:tịnh độ của chư Phật.

[3]Kiến-đạo:là chặng đường đầu tiên trong ba chặng đường dẫn đến giải thoát niết bàn (Kiến-đạo, Tu-đạo và Vô-học-đạo). Hành giả ở địa vị phàm phu, sau một thời gian tu hành tinh tấn, phát sinh trí tuệ vô lậu, thể hội lí tứ đế, dứt trừ hết kiến hoặc trong ba cõi, chứng quả Tu-đà-hoàn(đối với Thanh-văn thừa), hoặc tiến lên bậc Sơ-địa Bồ-tát; đó là địa vị Kiến-đạo.

[4]Tu-đạo:Sau khi đã đạt được địa vị Kiến-đạo thì chặng đường kế tiếp là Tu-đạo. Ở chặng đường này, hành giả tiếp tục phát triển trí tuệ vô lậu, dùng trí tuệ ấy để diệt trừ hết tư hoặc, đó là công phu tu tập của hành giả ở địa vị Tu-đạo. Đối với Thanh-văn thừa thì hai quả Tư-đà-hàm và A-na-hàm thuộc địa vị này; khi đã diệt trừ trọn vẹn mọi kiến tư hoặc trong ba cõi thì chứng quả A-la-hán, đó là địa vị Vô-học-đạo. Đối với Bồ-tát thừa thì Bồ-tát từ bậc Nhị-địa cho đến Cửu-địa thuộc địa vị này; từ bậc Thập-địa trở lên thì thuộc Vô-học đạo.

[5]Công phu trong động:“Công phu”là một thuật ngữ Thiền học, dùng để chỉ cho trình độ hay thực lực tu tập. Chữ “động”là chỉ cho cảnh giới đầy dẫy ngũ dục lục trần, lăng xăng loạn động; trái lại là “tĩnh”, là cảnh giới tĩnh lặng trong thiền định. “Công phu trong động”tức là hành giả tập thiền trong một hoàn cảnh không yên tĩnh, đầy vọng động, cũng tức là tập thiền trong những lúc đi đứng ngồi nằm, trong những lúc làm việc, ăn uống, nói năng, v.v... nói chung là trong mọi sinh hoạt hằng ngày. Thuật ngữ “công phu trong động”cũng được dùng trong Tịnh Độ tông, chỉ cho việc miệng niệm lớn tiếng danh hiệu Phật của pháp môn trì danh niệm Phật.

[6]Khán thoại đầu:Chữ “khán”là một thuật ngữ Thiền học, có nghĩa là chỉ nhìn đối tượng một cách chăm chú mà không phát ra tiếng nói. Đối tượng nổi hiện thường trực trên ý thức, và hành giả dùng trí tuệ để chiếu soi nó, cho tới khi thấy được chân tướng của nó tức là được khai ngộ. “Thoại đầu”cũng là một thuật ngữ Thiền học, chỉ cho một câu nói được dùng làm đề tài tham cứu cho hành giả trong lúc thực tập thiền quán. Những lời dạy của Phật trong kinh điển, những lời huấn thị của các vị tổ sư ngộ đạo, những lời đối đáp giữa các vị thiền sư, đều là những pháp tắc, mô phạm mà các hành giả trong thiền môn phải lấy đó để chiêm nghiệm, tu tập, nhờ đó mà được khai ngộ. “Khán thoại đầu”tức là dùng trí tuệ để chiêm nghiệm, quán chiếu một lời dạy của Phật, một câu nói của bậc tổ sư ngộ đạo, cho đến khi toàn vẹn yếu nghĩa của nó bùng vỡ, đó là lúc hành giả được khai ngộ.

[7]Tham thoại đầu:cũng tức là “khán thoại đầu”.

[8]Đồng tham:tức là những người bạn cùng nhau tu tập thiền quán.

[9]Thùng sơn đen(hắc tất thông): tức là cái thùng đựng đầy sơn đen kịt, là một thuật ngữ dùng trong chốn thiền lâm để ví dụ cho vô minh dầy đặc, cứng chắc, khó phá trừ.

[10]Tham công án:cũng tức là tham thoại đầu.

[11]Thời gian của thánh nhân:tức là thời kì mà người ta tu hành chứng quả thánh rất dễ dàng, rất nhiều; có thể chỉ cho thời Phật tại thế, hoặc vài trăm năm sau ngày Phật nhập diệt.

[12]Hư Vân (1840-1959):Ngài họ Tiêu, tên Trai, pháp danh Cổ Nham, tự Đức Thanh, quê ở huyện Tương-lương, tỉnh Hồ-nam. Từ sau thời kì Dân-quốc, ngài đã một mình gánh vác trọng nhiệm truyền thừa của cả 5 phái Thiền tông: Tào Động, Lâm Tế, Vân Môn, Pháp Nhãn, Qui Ngưỡng. Năm 19 tuổi ngài xuất gia với hòa thượng Thường Khai, chùa Dũng-tuyền, ở núi Cổ-sơn, tỉnh Phúc-kiến; năm sau ngài thọ giới cụ túc với hòa thượng Diệu Liên, cũng ở Cổ-sơn. Sau đó ngài trải bước khắp các danh sơn để tham phỏng học đạo. Hành tung của ngài biến khắp đó đây, nào Tứ-xuyên, Tây-khương, rồi ra các nước ngoài như Tây-tạng, Ấn-độ, Nam-dương, Miến-điện, v.v... Năm 43 tuổi ngài phát tâm triều bái (đi ba bước lạy một lạy) núi Ngũ-đài để đền báo thâm ân cha mẹ. Khởi hành từ am Pháp-hoa, núi Phổ-đà, ngài đi ròng rã 3 năm, chịu đủ điều đói lạnh, ba lần bị bệnh nặng tưởng chết, nhưng nhờ được đức Bồ-tát Văn Thù cảm ứng cứu độ, cuối cùng ngài đã tới được chùa Hiển-thông ở núi Ngũ-đài. Năm 56 tuổi, trong thời gian tham dự khóa tu nhập thiền thất tại chùa Cao-mân ở Giang-tô, một hôm, vì sơ ý làm rớt tách trà xuống đất, vừa nghe tiếng tách nước bể, ngài liền dứt hết căn nghi, triệt ngộ tự tánh. Năm 61 tuổi (1900) ngài về ẩn cư ở núi Chung-nam, đổi tên lại là Hư Vân, và lấy hiệu là Huyễn Du. Sau đó ngài lại lên đường du phương giảng kinh hoằng hóa, trong thời gian này, năm 68 tuổi, ngài cũng từng sang giảng kinh ở Thái-lan, Mã-lai. Từ năm 72 tuổi ngài đến giáo hóa ở Vân-nam, suốt 18 năm, đến năm 90 tuổi ngài mới trở về núi Cổ-sơn (Phúc-kiến), trụ trì và trùng tu chùa Dũng-tuyền, lập Phật học viện Cổ-sơn, đào tạo tăng tài. Năm 95 tuổi (1934) ngài xuống Quảng-đông, tu sửa chùa Nam-hoa, di tích của Lục tổ Tuệ Năng. Năm 105 tuổi (1944) ngài đi Triết-giang trùng tu tổ đình Vân-môn. Năm 110 tuổi (1949) ngài sang hoằng pháp ở Hương-cảng, rồi trở về lại Vân-môn; lúc đó đảng Cộng sản Trung-quốc đã làm chủ Hoa-lục. Mùa xuân năm 1951, lúc này ngài đã 112 tuổi, vẫn lãnh đạo tăng chúng cả ngàn người tu học tại đạo tràng Vân-môn. Buổi sáng ngày 20 tháng 2, hơn 100 công an cộng sản kéo lên núi bao vây chùa, rồi tấn công lục soát, cướp phá chùa. Ngài bị họ giam riêng một phòng, các vị đệ tử của ngài đều bị tra tấn, đánh đập tàn nhẫn; đệ tử lớn của ngài là thiền sư Diệu Vân đã bị đánh đến chết, một số bị gãy cả tay chân, một số bị bắt đem đi mất tích. Họ phá phách như vậy đến hơn 10 ngày, cuối cùng thì đến lượt ngài bị hành hung, tra tấn, bắt phải chỉ chỗ giấu vàng bạc, tiền của quân nhu, vũ khí. Họ chửi rủa tục tằn, đánh ngài bằng cây gỗ, gậy sắt, đến nỗi bong gân gẫy xương, mắt tai mũi miệng đều tuôn máu; nhưng ở chùa thì làm gì có vàng bạc, quân nhu, vũ khí để chỉ! Cho nên ngài chỉ một mực niệm Phật, cho đến khi bất tỉnh nhân sự. Chẳng bao lâu bịnh phát, ngài bèn ngồi xếp bằng, nhịn ăn đến 9 ngày, thì thần trí phiêu diêu cõi Đâu-suất, được nghe đức Di Lặc giảng kinh. Cộng quân thấy sự việc diệu kì, đâm ra khiếp sợ, bèn qui phục. Từ đó không dám đến quấy phá ngài nữa. Mùa xuân năm 1952, bệnh tình đã thuyên giảm, chính quyền Bắc-kinh đã cử phái đoàn vào Vân-môn để mời ngài ra Bắc-kinh. Tại đây, ngài đã yêu cầu chính phủ ngưng các hành động đập phá chùa chiền, hủy hoại tượng Phật và kinh điển; hủy bỏ lệnh bắt tăng ni hoàn tục; tài sản của tự viện phải để cho tăng chúng tự túc. Ngài cũng phản đối kịch liệt nhóm tăng sĩ cộng sản muốn hủy phá giới luật cùng thanh qui thiền viện. Giữa năm 1953, theo lệnh của chính quyền, ngài về núi Lô-sơn để tịnh dưỡng. Ở đây chỉ vài tháng, ngài lại đến núi Vân-cư ở Giang-tây để tu sửa chùa Chân-như, và cư trú luôn tại đây. Năm 1958, thấy ảnh hưởng của ngài quá lớn đối với Phật giáo toàn quốc, chính quyền cộng sản bèn bày trò đấu tố ngài. Họ phát động phong trào học tập cải tạo cho các đoàn thể tôn giáo. Họ kết tội này tội nọ cho các sư trụ trì các chùa Nam-hoa, Vân-môn, Vân-cư, để ép buộc các vị này phải đấu tố ngài, nhưng quí thầy vẫn bất khuất, không chịu thi hành mệnh lệnh của họ. Nhóm tăng sĩ cộng sản thì chính thức vu cáo cho ngài các tội nghiêm trọng như tham ô, phản động, đạo đức giả, truyền giới pháp sai lầm v.v... Ngài lại bị bắt giam ở một nơi kín đáo, mấy tháng mới được thả về chùa. Các vị đệ tử đắc lực của ngài đều bị bắt giam ở các trại cải tạo, rồi bị phân tán đi các nơi biệt tích. Năm 1959, lúc này ngài đã 120 tuổi, bệnh tình trở nặng, đến tháng 8 thì thị tịch; tăng lạp 101 năm. Suốt một đời tu hành, ngài thực hành đủ các hạnh, như hiếu, nhẫn, tịnh, định, xả, bi, vô úy, bất phóng dật v.v... Gặp thời tao loạn, tông phong xuống thấp, đạo tràng bỏ phế, ngài đã phát nguyện chấn hưng các tòng lâm danh tiếng ở các nơi như chùa Hoa-hanh ở Vân-nam, chùa Nam-hoa ở Tào-khê, chùa Dũng-tuyền ở Phúc-kiến, chủa Vân-môn ở Quảng-đông, v.v... cả thảy đến hơn 80 tòng lâm. Ngài trước tác rất nhiều, nhưng đều bị mất hết trong “sự biến Vân-môn”. Người sau bèn góp nhặt những pháp ngữ, khai thị v.v... của ngài mà làm thành tập sách Hư Vân Hòa Thượng Pháp Vựng.

[13]Chữ “thật pháp”ở đây có nghĩa là những phương pháp hoặc nghi thức hành trì cụ thể mà mọi người có thể trông thấy rõ ràng, có qui định chung và thống nhất chấp hành.

[14]Tâm hành:tức là ý thức suy nghĩ, tính toán, phân biệt, so đo, phán đoán v.v...

[15]Mười sáu phép quán:tức 16 phép quán tưởng dành cho hành giả tu pháp môn Tịnh Độ, được nêu rõ trong kinh Quán Vô Lượng Thọ: 1) Quán tưởng ánh sáng mặt trời; 2) Quán tưởng nước; 3) Quán tưởng đất; 4) Quán tưởng cây báu; 5) Quán tưởng ao báu; 6) Quán tưởng lầu gác báu; 7) Quán tưởng tòa sen báu; 8) Quán tưởng hình tượng Phật, Bồ-tát; 9) Quán tưởng chân thân Phật A Di Đà; 10) Quán tưởng thân tướng Bồ-tát Quán Thế Âm; 11) Quán tưởng thân tướng Bồ-tát Đại Thế Chí; 12) Quán tưởng chính mình được vãng sinh; 13) Quán tưởng chung chân thân Phật, hóa thân Phật, thân lớn, thân nhỏ v.v...; 14) Quán tưởng vãng sinh bậc Thượng-phẩm; 15) Quán tưởng vãng sinh bậc Trung-phẩm; 16) Quán tưởng vãng sinh bậc Hạ-phẩm. (Xin xem kinh Quán Vô Lượng Thọ để được rõ ràng hơn.)

[16]Bồ-tát:Danh xưng Bồ-tát ở đây là chỉ cho những người đã thọ giới Bồ-tát; hoặc giả người Hoa cũng thường xưng người đối diện (tăng hay tục) là Bồ-tát để tỏ ý kính trọng.

[17]Ba tạnglà tạng Kinh, tạng Luật và tạng Luận, là toàn bộ giáo điển của Phật giáo. Mười hai bộtức mười hai bộ kinh, là 12 thể loại của toàn bộ kinh điển Phật dạy: 1) Khế kinh (Trường hàng):những lời dạy của đức Phật bằng văn xuôi, thường được gọi tổng quát là “KINH”. 2) Ứng tụng(Trùng tụng):những bài kệ tụng dùng để tóm tắt ý nghĩa của khế kinh, thường đặt ở sau và luôn luôn tương ứng với phần khế kinh. 3) Kí biệt (Thọ kí):lời Phật thọ kí cho các đệ tử sẽ thành Phật trong đời vị lai. 4) Phúng tụng (Cô khởi): một bài kinh Phật dạy toàn dùng kệ tụng để diễn đạt; nhưng không phải là những bài kệ tụng tóm tắt kinh văn “trường hàng” như thể loại “Trùng tụng” (số 2 ở trên). 5) Tự thuyết:Phật tự mở lời khai thị mà không đợi có người thỉnh cầu chỉ dạy. 6) Nhân duyên:nêu lên cái nhân duyên đưa đến trường hợp thuyết giáo của Phật – thường là phẩm “Tựa”ở đầu mỗi bộ kinh. 7) Thí dụ:những thí dụ Phật đưa ra trong lúc giảng thuyết để giúp thính chúng hiểu ý kinh dễ dàng hơn. 8) Bản sinh:các kiếp tu hành đời trước của Phật do chính Ngài thuật lại. 9) Bản sự:những hành vi cùng phẩm hạnh của chư vị Bồ-tát và thánh chúng đệ tử trong các kiếp trước do đức Phật thuật lại. 10) Phương quảng:kinh điển Phật nói có văn từ phong phú, giáo nghĩa sâu xa rộng lớn; đặc biệt chỉ cho kinh điển đại thừa. 11) Hi pháp (Vị tằng hữu):những sự việc ít có của Phật và chư vị đệ tử được ghi chép trong kinh. 12) Luận nghị:những lời nghị luận rành mạch, rõ ràng của đức Phật nhằm giúp thính chúng hiểu rõ về thể tánh của vạn pháp.

[18]Quyền nghi và thật tướng:nói tắt là quyền và thật, là hai thuật ngữ Phật học. “Quyền”nghĩa là phương tiện chỉ dùng trong nhất thời, tùy trường hợp, hoàn cảnh, đối tượng mà nói năng, hành động, xử sự cho được thích nghi, không cứ phải chấp nê theo một khuôn thức cứng ngắc, nhất định nào cả. “Thật”nghĩa là chân thật, chắc chắn, rốt ráo cùng cực, vĩnh viễn không thay đổi; đó là mục đích thật sự phải đạt tới. Vậy, “quyền”đồng nghĩa với “phương tiện”; và “thật”đồng nghĩa với “cứu cánh”. Từ hai thuật ngữ này, trong Phật học đã phát sinh nhiều thuật ngữ liên hệ, như: quyền giáo, thật giáo; quyền trí, thật trí; v.v...

[19]Hóa thân:là một trong ba thân của Phật, cũng gọi là ứng thân, hay ứng hóa thân. Đó là thân tướng do Phật vì cảm ứng độ sinh mà hóa hiện ra.

[20]Tam muội:tức là định lực.

[21]Báo thân:là một trong ba thân của Phật. Đó là hiện thân chúng sinh của Phật, như thân người của đức Thích Ca Mâu Ni, có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, cũng chịu luật vô thường biến hoại với đầy đủ bốn tướng trạng sinh già bệnh chết.

[22]Pháp thân:là một trong ba thân của Phật. Đó là thân chân thật, thường trú, không sinh không diệt của Phật.

[23]Đệ nhất nghĩa:chân lí thâm diệu tuyệt đỉnh, không có gì hơn.

[24]Giác quán:“Giác”là suy cứu sự lí một cách sơ lược – danh từ Duy Thức Học gọi là “tầm”(một trong bốn tâm sở bất định); “quán”là suy cứu sự lí một cách tinh tường, sâu sắc – danh từ Duy Thức Học gọi là “từ”(một trong bốn tâm sở bất định). Nói chung, “giác quán” là ý thức hay suy nghĩ, tìm hiểu, nghiên cứu để làm cho dồi dào kiến thức. Giác và quán nếu được duy trì liên tục, có thể làm mất chánh niệm, thân tâm lao tổn, cho nên chúng có thể làm chướng ngại cho thiền định.

[25]Ba căn: tức ba loại căn cơ hay căn tánh: thượng căn (căn cơ cao), trung căn (căn cơ trung bình) và hạ căn (căn cơ thấp).

[26]Hoằng Nhất (1880-1942):là vị cao tăng Trung-quốc đã có công trung hưng Luật học của hệ phái Nam-sơn. Ngài họ Lí, tên Quảng Hầu, hiệu Thúc Đồng, quê ở huyện Bình-hồ, tỉnh Triết-giang. Ngài tính tình hào phóng mà điềm đạm, rất giỏi thi văn từ phú, kiêm cả thư pháp, hội họa, khắc chữ. Năm 26 tuổi ngài sang Nhật-bản, học trường Mĩ-thuật ở Thượng-dã, nghiên cứu cả âm nhạc, thành lập ban kịch Xuân Liễu, được coi là người đi đầu trong phong trào vận động nền kịch mới ở Trung-quốc. Sau khi về nước, ngài vào dạy ở trường Công nghiệp Thiên-tân; sau đó lại đi Thượng-hải làm chủ bút báo Thái Bình Dương, mượn văn chương chữ nghĩa cùng hội họa để tuyên truyền cách mạng. Sau đó ngài được trường Sư phạm Đệ nhất ở Triết-giang mời chủ trì các khoa Hội họa và Âm nhạc. Tại đây, ngài cũng là người đầu tiên đem giới thiệu các môn kịch nghệ, âm nhạc, hội họa của Tây phương, mở ra một phong khí mới. Năm 1918, lúc đó ngài 39 tuổi, ngài bỗng đem tất cả các tác phẩm của ngài như sách vở, tranh vẽ, thư pháp v.v... tặng hết cho người, rồi đi xuất gia ở chùa Đại-từ tại Hàng-châu. Chẳng bao lâu ngài thọ đại giới tại chùa Linh-ẩn, Hàng-châu, pháp danh là Diễn Âm, hiệu là Hoằng Nhất. Ngài thường than rằng, sở dĩ tăng giới thường bị người đời chê trách là vì không tuân giữ giới luật, cho nên đã phát nguyện đem hết khoảng đời còn lại để tinh nghiên giới pháp. Ban đầu ngài học luật của Hữu bộ, sau đó thì chuyên hoằng dương Nam-sơn Luật tông. Ngài chịu đựng khó nhọc, thường đi chân trần hoặc dùng giày cỏ, một mình một gánh, vân du các xứ, giảng kinh hoằng pháp. Năm 1942 ngài thị tịch, thọ thế 63 tuổi, tăng lạp 24 năm.

[27]Đới nghiệp vãng sinh:là một thuật ngữ chuyên dùng trong tông Tịnh Độ. Theo giáo nghĩa của tông này, người tu hành pháp môn Niệm Phật, nếu điều kiện nhân duyên đầy đủ, dù chưa dứt hết các nghiệp đời trước, khi mạng chung vẫn được vãng sinh về nước Cực-lạc. Vãng sinh về đó rồi thì bao nhiêu nghiệp ác cũ không còn có cách nào hiện hành được nữa, chỉ còn một cách tiêu mất mà thôi. Như thế là hành giả cứ tinh tấn tu tập, không bị thối chuyển, cho đến ngày thành Phật.

[28]Vô sinh nhẫn:cũng gọi là “vô sinh pháp nhẫn”, hay “vô sinh nhẫn pháp”. Chữ “nhẫn”ở đây có nghĩa là an trú, tâm bất động. Hành giả tu tập, quán chiếu thấy rõ thật tướng bất sinh bất diệt của các pháp, tâm an trú nơi chân lí ấy, không còn hoài nghi, không còn vọng động, không còn thối lui, tự tại vô ngại, gọi là “vô sinh nhẫn”.

[29]Sáu niệm (lục niệm):tức là sáu đối tượng mà người tu học luôn luôn nhớ nghĩ tới:

1) Niệm Phật:nhớ nghĩ tới Phật là bậc đại từ đại bi đại trí đại lực, gồm đủ vô lượng công đức.

2) Niệm pháp:nhớ nghĩ tới Ba Tạng mười hai bộ kinh do Phật nói có công năng đem lại lợi ích lớn lao cho chúng sinh.

3) Niệm tăng:nhớ nghĩ tới chư tăng có đầy đủ giới định tuệ, làm ruộng phước tốt cho chúng sinh ở thế gian.

4) Niệm giới:nhớ nghĩ tới giới hạnh có năng lực rất lớn, có năng lực tiêu trừ mọi phiền não xấu ác của chúng sinh.

5) Niệm thí:nhớ nghĩ tới hạnh bố thí có công đức rất lớn, làm tiêu trừ tính xan tham của chúng sinh.

6) Niệm thiên:nhớ nghĩ tới chư thiên trong ba cõi, do đời trước có căn lành được nghe chánh pháp, tu trì tịnh giới, thực hành bố thí v.v... mà hiện tại hưởng được quả báo an lành, sung sướng.

[30]Vĩnh Minh Diên Thọ (904-975):cũng gọi là Vĩnh Minh, hay Diên Thọ, hoặc Vĩnh Minh Thọ thiền sư, vừa là tổ thứ 3 của phái thiền Pháp Nhãn, vừa là tổ thứ 6 của tông Tịnh Độ Trung-quốc. Ngài họ Vương, tự Trọng Huyền, vốn quê ở huyện Giang-ninh, tỉnh Giang-tô, sau dời qua huyện Dư-hàng, tỉnh Triết-giang. Lúc trẻ ngài làm quan trông coi về thuế vụ dưới thời vua Tiền Lưu của nước Ngô-Việt (một trong 10 nước thời Ngũ-đại, 907-978, Trung-quốc). Năm 30 tuổi ngài vào núi Tứ-ninh (Triết-giang), xin xuất gia với thiền sư Thúy Nham ở chùa Long-sách. Sau đó ngài đến núi Thiên-thai, xin tham yết quốc sư Đức Thiều tu tập thiền quán, được truyền pháp, trở thành người thừa kế đời thứ 3 của tông Pháp Nhãn. Ngài lại đến chùa Quốc-thanh, chuyên đọc tụng kinh Pháp Hoa, và hành trì Pháp Hoa Sám Pháp. Sau đó ngài đến trú tại núi Tuyết-đậu ở Minh-châu. Tại đây ngài ra công hoằng pháp, đồ chúng theo học rất đông. Từ năm 961 (dưới vương triều Tống) ngài trú tại chùa Vĩnh-minh (Tây-hồ, Hàng-châu) cho đến cuối đời, nhiếp hóa đồ chúng đông đúc, khiến nơi đây trở thành một đạo tràng quan trọng của cả hai tông phái Thiền và Tịnh Độ. Ngài mỗi ngày hành trì 108 điều – mà hai điều quan trọng nhất là tụng một bộ kinh Pháp Hoavà niệm Phật mười vạn biến. Buổi tối lại ra một hang đá riêng để niệm Phật. Tất cả công đức tu trì ngài đều hồi hướng về cõi Tịnh-độ. Ngài viên tịch năm 975, thọ thế 72 tuổi, được vua ban thụy hiệu là Trí Giác thiền sư. Ngài chủ xướng con đường “Thiền Tịnh song tu”. Ngài có hai tác phẩm quan trọng: Tông Cảnh Lục(dung hòa những dị đồng giữa ba tông Hoa Nghiêm, Pháp Hoa và Duy Thức), Vạn Thiện Đồng Qui(trình bày yếu chỉ tông Tịnh Độ).

[31]Trường Lô Tông Trách (?-?):vị cao tăng đời Tống, vừa thuộc thiền phái Vân Môn, vừa thuộc tông Tịnh Độ. Ngài họ Tôn, người huyện Tương-dương, tỉnh Hồ-bắc, không rõ năm sinh và năm viên tịch. Ngài mồ côi cha từ thuở nhỏ, được mẹ đem về nhà người cậu nương náu, nuôi nấng cho tới ngày lớn khôn. Lúc đầu ngài học Nho, mọi kinh sách thế tục đều thông suốt. Năm 29 tuổi ngài xin xuất gia với thiền sư Viên Thông Pháp Tú ở chùa Trường-lô (tỉnh Giang-tô), chẳng bao lâu thì tỏ ngộ thiền cơ, được thầy ấn khả. Khoảng năm 1086 ngài được kế thế trụ trì chùa Trường-lô. Nghĩ đến công sinh thành dưỡng dục của mẹ, ngài xây một căn nhà nhỏ ở phía Đông phương trượng, mời bà về ở, rồi vân tập đại chúng đến hộ niệm để làm lễ xuống tóc cho bà. Từ đó ngài khuyên bà chuyên tâm niệm Phật. Sau 7 năm, một hôm, không đau ốm gì, bà an nhiên giã từ cõi thế. Năm 1089, ngài noi theo qui củ của Bạch Liên Xã ở Lô-sơn, lập ra Liên Hoa Thắng Hội tại chùa Trường-lô, khuyến khích tứ chúng trì danh niệm Phật, cầu vãng sinh Tịnh-độ. Trước tác của ngài có: Thiền Uyển Thanh Qui, Tịnh Độ giản Yếu Lục, Niệm Phật Tham Thiền Cầu Tông Chỉ Thuyết, v.v...

[32]Vân Thê Châu Hoằng (1532-1612):tức đại sư Liên Trì, người quê Hàng-châu, sống vào đời Minh (1368-1661). Ngài họ Thẩm, pháp danh Châu Hoằng, tự Phật Tuệ, hiệu Liên Trì. Lúc nhỏ ngài học Nho, 17 tuổi đã nổi tiếng khắp trường huyện về học lực lẫn hạnh kiểm; nhưng vì chịu ảnh hưởng của hàng xóm, nên tâm đã sớm hướng về Phật pháp, bèn viết bốn chữ “SINH TỬ SỰ ĐẠI”đặt trên bàn học, để tự cảnh giác mình. Vào tuổi trung niên ngài quay hẳn về Phật giáo. Sau khi song thân đều mất, ngài đi xuất gia, lúc đó đã trên 30 tuổi. Sau khi thọ giới cụ túc với đại sư Vô Trần, ngài dốc chí vân du bốn phương để tham cầu học đạo. Năm 1571 ngài vào núi Vân-thê ở Hàng-châu, ẩn cư trong một ngôi chùa bỏ hoang. Từ đó ngài chuyên trì pháp môn Niệm Phật tam muội, giáo hóa quanh vùng, đồ chúng ngày càng đông, nơi đó bèn trở thành một ngôi tòng lâm. Tuy chuyên tu Tịnh Độ, nhưng ngài cũng hô hào “Thiền Tịnh song tu”. Đạo phong của ngài cao vọi, rất nhiều sĩ phu quanh vùng được ngài giáo hóa. Năm 1612 ngài thị tịch, thế thọ 81 tuổi. Người đời xưng ngài là Vân Thê hòa thượng, hoặc Liên Trì đại sư, và là vị tổ thứ 8 của tông Tịnh Độ. Trước tác của ngài có Vãng Sinh Tập, A Di Đà Kinh Sớ Sao, Thiền Quan Sách Tấnv.v...

[33]Minh:là một thể văn (thường khắc trên bia) dùng để ca tụng công đức người xưa, hoặc để cảnh tỉnh người sau.

[34]Tiếu Lãnh Đức Bảo (1512-1581):Ngài họ Ngô, quê ở Kim-đài (Bắc-kinh), là thiền sư tông Lâm Tế ở đời Minh. Ngài có hiệu là Tiếu Nham, nên thường được người đời xưng là Tiếu Nham Đức Bảo thiền sư. (“Tiếu Nham”, ở đây tác giả viết là Tiếu Lãnh. hai chữ NHAM và LÃNH, ý nghĩa giống nhau nhưng tự dạng và âm đọc khác nhau. Như vậy là có sự nhầm lẫn, nhưng chưa biết do đâu.) Ngài mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, đến năm 20 tuổi gặp duyên lành được nghe giảng Hoa Nghiêm Đại Sớ. Năm 22 tuổi ngài xuất gia và thọ cụ túc giới với thiền sư Đại Tịch ở chùa Quảng-tuệ. Sau đó ngài vân du các nơi, tham học với hơn ba mươi vị tri thức, rồi lại tới chùa Long-tuyền tham học với thiền sư Vô Văn Minh Thông. Một hôm ngài xuống mé sông rửa rau, nhân vài cọng rau rớt xuống nước, bị nước cuốn trôi đi, không vớt lên được, mà ngài hốt nhiên khai ngộ, được thiền sư Minh Thông ấn khả. Về sau ngài vào núi Chung-nam, giáo hóa đồ chúng ở các đạo tràng Cao-tòa, Ngưu-thủ, Viên-thông v.v... Năm 1577 ngài về Yên-kinh (Bắc-kinh) cất am ẩn cư, đến năm 1581 thị tịch, thế thọ 70 tuổi.

[35]Ném kích (trịch kích) là chỉ cho việc Đổng Trác (thời Tam-quốc) ném cây kích muốn giết người con nuôi là Lữ Bố, chỉ vì hai cha con cùng giành nhau một người đàn bà (Điêu Thuyền); ý nói là việc ác. Đốt hương (phần hương)là chỉ cho việc thờ kính cúng dường; ý nói là việc thiện.

[36]Cao Phong Ngữ Lục:tức Cao Phong Nguyên Diệu Thiền Sư Ngữ Lục, cũng gọi là Cao Phong Đại Sư Ngữ Lục, do thiền sư Nguyên Diệu (1238-1295) soạn vào đời Tống.

[37]Thiền sư Cao Phong:tức thiền sư Nguyên Diệu (1238-1295), cũng gọi là Cao Phong Nguyên Diệu, hoặc Cao Phong Diệu, là vị thiền sư thuộc tông Lâm Tế, sống vào thời đại nhà Tống. Ngài họ Từ, hiệu là Cao Phong, quê ở huyện Ngô-giang (tỉnh Giang-tô). Ngài xuất gia khi lên 17 tuổi, ban đầu tu học theo tông Thiên Thai, sau chuyển qua tham thiền, đắc pháp với thiền sư Tuyết Nhan Tổ Khâm (?- 1287). Năm 29 tuổi ngài ẩn cư ở chùa Long-tu tại Lâm-an. Vào năm 32 tuổi, một hôm, tình cờ người bạn đồng tham đẩy cái gối rớt xuống đất, nghe tiếng động ấy mà hoát nhiên đại ngộ. Năm 45 tuổi ngài lên núi Thiên-mục ở Hàng-châu, kiến tạo hai ngôi chùa Sư-tử và Đại-giác, độ đệ tử vài trăm người, còn số người xin thọ giới với ngài có đến vài vạn. Năm 58 tuổi, một hôm ngài thắp hương, nói kệ, rồi ngồi ngay ngắn thị tịch; thụy hiệu là Phổ Minh Quảng Tế thiền sư.

[38]Khuông-sơntức là núi Lô-sơn (tỉnh Giang-tây), nơi ngài Tuệ Viễn thành lập Bạch Liên Xã, khởi đầu cho pháp môn tu niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh-độ ở Trung-quốc. Vĩnh-minhlà tên chùa (ở tỉnh Triết-giang), là đạo tràng tu Tịnh Độ rất lớn dưới sự dẫn dắt của thiền sư Diên Thọ.

[39]Lăng-nghiêm đại định:tức là “Thủ-lăng-nghiêm tam muội”, dịch âm từ tiếng Phạn “Suramgamasamadhi”, có nghĩa là định lực rốt ráo (thủ-lăng), kiên cố (nghiêm), nhiếp trì tất cả các pháp. Nó được gọi là “đại căn bản định”, vốn có trong bản tánh của tất cả chúng sinh, nhưng chỉ có Phật và hàng Bồ-tát ở Địa thứ mười (Thập-địa) trở lên mới chứng đắc được.

[40]Hai chướng sự và lí:tức hai thứ chướng ngại (nhị chướng): - chướng ngại về , gọi là “sở tri chướng”; - chướng ngại về sự, gọi là “phiền não chướng”.

[41]Chỉ tịnh (tĩnh):Chữ “chỉ”nghĩa là ngưng hết mọi hoạt động; chữ “tịnh” (tĩnh)nghĩa là hoàn toàn yên lặng. “Chỉ tịnh”là một thuật ngữ được dùng trong thiền môn, chỉ cho lúc bắt đầu giờ tọa thiền và lúc đi ngủ.

[42]Cơ phong:cũng gọi là “thiền cơ”, là một thuật ngữ được dùng trong thiền môn, chỉ cho cái tác dụng mẫn nhuệ của tâm để khế hợp với chân lí, khi một thiền tăng thọ giáo với một vị thiền sư. Do sự phát lộ của “cơ phong”này mà vị thiền sư thấy được trình độ tâm linh của người đối diện.

[43]Vô sự:là một thuật ngữ Thiền học, có nghĩa là không mong cầu gì cả. Có một phái Thiền chủ trương xa lìa tất cả tạo tác, không dụng tâm cố sức tu tập để mong cầu chứng ngộ. Tập thiền theo cách đó gọi là “vô sự thiền”.

[44]Hình nhi thượng học:cũng gọi là “huyền học”, tức là phần triết học về siêu hình, trừu tượng; trái lại là “hình nhi hạ học”, tức là phần triết học hữu hình, cụ thể.

[45]Nghi tình:là tâm trạng nghi hoặc, dụ dự, không quyết định. “Nghi”là lí trí suy xét nhưng không nhận rõ được lẽ thật hư, là trạng thái tâm lí không biết chắc rõ ràng, không thể xác quyết là phải hay quấy. Khi có điều nghi ngờ, người ta thường có khuynh hướng dùng triết lí để phân tích vấn đề, hoặc quán sát trực tiếp vấn đề, để mong thấy rõ cái lí lẽ chân thật. Như vậy, đặc tính của “nghi”, khởi đầu là nghi một hiện tượng ngoại giới, rồi dần dần chuyển hướng vào nội giới, hình thành một “khối nghi” - tức là“nghi tình”, làm điều kiện dễ dàng cho trí quán chiếu trực tiếp phát sinh. Bởi vậy, Thiền tông thường nhấn mạnh rằng, cái nghi lớn (đại nghi) chính là cái tuyệt đối cần thiết cho sự tham thiền ngộ đạo. Ví như có vị sư làm mất chiếc áo cà sa duy nhất, tìm không thấy, cứ nhớ mãi trong lòng, niệm niệm không quên, để rồi lại đi tìm, cho đến khi nào tìm thấy mới thôi. Cho nên, “nghi”là điều tối quan trọng của hành giả tập thiền, có nghi mới có chứng ngộ; và cái nghi đó được gọi là “chân nghi”(cái nghi chính đáng). Không có cái nghi tình (chân nghi) này thì sẽ không hi vọng có ngày chứng ngộ.

[46]Theo Kinh Đại A Di Đà(cư sĩ Chi Khiêm dịch, nước Ngô, thời Tam-quốc), 12 đức Phậtđó là: Vô Lượng Quang, Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang, Vô Đối Quang, Viêm Vương Quang, Thanh Tịnh Quang, Hoan Hỉ Quang, Trí Tuệ Quang, Bất Đoạn Quang, Nan Tư Quang, Vô Xưng Quang, và Siêu Nhật Nguyệt Quang.

[47]Hương quang trang nghiêm:“Hương”tức là mùi hương pháp thân Phật; “quang”tức là trí tuệ; “trang nghiêm”tức là trang sức cho đẹp đẽ. Niệm Phật tức là đem mùi hương pháp thân Phật và ánh sáng trí tuệ để trang sức cho bản tính giác ngộ của chính mình, gọi là “hương quang trang nghiêm”.

[48]Đoạn kinh văn này tác giả trích từ Kinh Lăng Nghiêm (do sa môn Bát Lạt Mật Đế dịch ra Hán văn vào đời Đường); đó là đoạn chót của quyển 5, từng được chư cổ đức đặt tựa đề là “Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương”. Ở phần đầu của quyển 5, đức Phật có hỏi các vị Đại Bồ-tát và Đại A-la-hán rằng: “Nay tôi hỏi các ông: Lúc ban đầu mới phát tâm, trong mười tám khu vực (thập bát giới), các ông chứng ngộ viên thông ở khu vực nào? Và do phương tiện gì mà nhập vào chánh định?”Có tất cả 25 câu trả lời cho câu hỏi của đức Phật; và đoạn kinh văn trên là câu trả lời thứ 24 của Bồ-tát Đại Thế Chí. Để trả lời câu hỏi của đức Phật, có vị chọn thanh trần, nhãn căn, thân thức, v.v... Riêng Bồ-tát Đại Thế Chí thì đã không chọn lựamột căn nào, mà thu nhiếp cả sáu căn, nhất tâm niệm Phật, từ đó mà nhập vào chánh định.

[49]Hai chữ “ức”“niệm”có nghĩa gần giống như nhau. “Ức”nghĩa là ghi giữ trong tâm, không để quên mất, tức là “nhớ”, trái lại với “quên”; “niệm”là nghĩ tới, không xa rời, cũng tức là nhớ.

[50]“Tín”là lòng tin sâu sắc đối với đức Phật A Di Đà và thế giới Cực-lạc; “nguyện”là tâm tha thiết nguyện cầu được vãng sinh về cõi Cực-lạc; “hạnh”là hành trì pháp môn niệm Phật đến chỗ nhất tâm bất loạn để được vãng sinh về Cực-lạc.

[51]Đoạn kinh văn này nằm trong chương “Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông”vừa được trích ở bên trên.

[52]Đây là hai câu chót trong bài ca dao “Quan Thư”, là bài đầu tiên trong thiên “Quốc Phong”của bộ Kinh Thi(Trung-hoa). Bài ca dao ấy như sau:

Quan quan thư cưu

Tại hà chi châu

Yểu điệu thục nữ

Quân tử hảo cầu

(nghĩa là: Ở bãi sông có đôi chim thư cưu, cất tiếng kêu “quan quan” tỏ ý cùng nhau thương yêu hòa hợp. Có người con gái xinh đẹp dịu dàng yểu điệu, sánh đôi với người quân tử thật là tốt đẹp.)

[53]Từ “Vô-học”ở đây được dùng để chỉ các vị đệ tử Phật đã chứng thánh quả A-la-hán. Các vị này đã dứt hết phiền não, tu tập thành công, thoát ra ngoài ba cõi, chứng nhập niết bàn, không còn phải tu học gì nữa, nên gọi là bậc “Vô-học”. Trái lại, các vị hành giả từ quả A-na-hàm trở xuống, còn phải tinh tấn tu học để chứng quả A-la-hán, nên gọi là bậc “Hữu-học”. Đó là Thanh-văn thừa. Giống như quả vị A-la-hán của Thanh-văn thừa, quả vị Bích-chi Phật của Duyên-giác thừa cũng gọi là bậc Vô-học. Ở Bồ-tát thừa thì quả vị Diệu-giác (Phật) được gọi là bậc Vô-học, còn từ địa vị Đẳng-giác trở xuống đều thuộc hàng “Hữu-học”.

[54]Bảy đức Phật:cũng nói là bảy đức Phật quá khứ, tức đức Phật Thích Ca Mâu Ni và sáu đức Phật ra đời trước Ngài, đó là: Phật Tì Bà Thi, Phật Thi Khí, Phật Tì Xá Phù, Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Phật Ca Diếp, và Phật Thích Ca Mâu Ni.

[55]25 pháp môn viên thông của 25 vị Vô-học và Bồ-tát:

1) Tôn giả Kiều Trần Như (viên thông thanh trần)

2) Tôn giả Ưu Ba Ni Sa Đà (sắc trần)

3) Tôn giả Hương Nghiêm (hương trần)

4) Bồ-tát Dược Vương và Dược Thượng (vị trần)

5) Bồ-tát Bạt Đà Bà La (xúc trần)

6) Tôn giả Đại Ca Diếp (pháp trần)

7) Tôn giả A Na Luật (nhãn căn)

8) Tôn giả Chu Lị Bàn Đà Già (tị căn)

9) Tôn giả Kiều Phạm Ba Đề (thiệt căn)

10) Tôn giả Tất Lăng Già Bà Tha (thân căn)

11) Tôn giả Tu Bồ Đề (ý căn)

12) Tôn giả Xá Lợi Phất (nhãn thức)

13) Bồ-tát Phổ Hiền (nhĩ thức)

14) Tôn giả Tôn Đà Lị Nan Đà (tị thức)

15) Tôn giả Phú Lâu Na (thiệt thức)

16) Tôn giả Ưu Ba Li (thân thức)

17) Tôn giả Mục Kiền Liên (ý thức)

18) Tôn giả Ô Sô Sắt Ma (hỏa đại)

19) Bồ-tát Trì Địa (địa đại)

20) Bồ-tát Nguyệt Quang (thủy đại)

21) Bồ-tát Lưu Li Quang (phong đại)

22) Bồ-tát Hư Không Tạng (không đại)

23) Bồ-tát Di Lặc (thức đại)

24) Bồ-tát Đại Thế Chí (căn đại - nhiếp cả 6 căn)

25) Bồ-tát Quán Thế Âm (viên thông nhĩ căn)

[56]Nhập lưu – vong sở:“Lưu”nghĩa là dòng; có hai dòng xuôi ngược: một chiều là dòng thánh (hay dòng giải thoát, dòng niết bàn), một chiều là dòng phàm phu (hay dòng vọng nghiệp, dòng sinh tử). Khi nói “nhập lưu”thì có nghĩa là vào dòng thánh; trái lại là “xuất lưu”, tức là xa lìa dòng thánh mà xuôi theo dòng sinh tử. “Nhập lưu”cũng tức là “nghịch lưu”, nghĩa là đi ngược dòng sinh tửđể nhập vào dòng niết bàn; trái lại là “thuận lưu”, tức là trôi xuôi theo dòng sinh tử. Chữ “sở”ở đây là chỉ tất cả những gì nghe được, tức là thanh trần. “Vong sở”tức là quên đi cái sở-văn, cũng tức là xa lìa thanh trần. Trong kinh Lăng Nghiêm, khi đức Bồ-tát Quán Thế Âm trình bày về pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông(tức pháp môn thứ 25 vừa nói trên) của mình, có nói: “Sơ ư văn trung, nhập lưu vong sở, sở nhập kí tịch, liễu nhiên bất sinh......”(Đầu tiên là ở trong tánh nghe, nhập vào dòng, quên sở-văn, sởnhậpđã vắng lặng thì hai tướng động và tĩnh tuyệt nhiên không phát sinh......) Vậy, hai từ “nhập lưu” “vong sở” ở đây, đều là những dụng ngữ đặc biệt của kinh Lăng Nghiêm, nói lên một phần giáo nghĩa chủ yếu của kinh Lăng Nghiêm, nhất là trong pháp tu Lăng-nghiêm đại định.

[57]Tâm phan duyên:tức tâm ý luôn luôn theo đuổi, nắm bắt hết đối tượng này đến đối tượng khác, hết trần cảnh này đến trần cảnh kia, từ đó mà khởi vọng niệm, sinh phiền não, gây tội nghiệp.

[58]Đạo Tín (580-651):là vị tổ thứ tư của Thiền tông Trung-quốc, là đệ tử đắc pháp của tổ thứ ba Tăng Xán (?-?), và là thầy của tổ thứ năm Hoằng Nhẫn (602-675). Ngài họ Tư-mã, quê ở huyện Quảng-tế, tỉnh Hồ-bắc. Lúc nhỏ ngài nhân hâm mộ Không tông mà xuất gia. Năm 13 tuổi ngài vào núi Hoãn-công ở Thư-châu (nay là thành phố An-khánh, tỉnh An-huy), tham yết thiền sư Tăng Xán, chỉ do một lời nói mà đại ngộ; hầu cận 9 năm thì được truyền y bát. Năm 38 tuổi ngài dẫn đồ chúng đến thành Lư-lăng (nay là huyện Cát-an, tỉnh Giang-tây), gặp lúc thành này bị đạo tặc bao vây đến 7 tuần (một tuần ngày xưa ở Trung-quốc là 10 ngày), giếng, suối đều khô nước, dân chúng lo lắng sợ sệt. Ngài bèn khuyên mọi người tăng tục trong thành tụng tâm kinh Ma Ha Bát Nhã. Đạo tặc từ ngoài nhìn vào thành, trông thấy như có binh thần canh giữ bảo vệ, liền bảo nhau: “Trong thành tất có dị nhân, không dễ gì tấn công.” Rồi chúng kéo nhau bỏ đi. Sau đó ngài đến chùa Đại-lâm ở Lô-sơn (tỉnh Giang-tây) mở đạo tràng hoằng hóa. Năm 45 tuổi ngài về lại Hồ-bắc, trú ở núi Phá-đầu đến hơn 30 năm, truyền pháp cho thiền sư Hoằng Nhẫn. Một vị đệ tử khác của ngài là thiền sư Pháp Dung (594-657) ở núi Ngưu-đầu (Nam-kinh) biệt lập một phái thiền gọi là “Ngưu Đầu Thiền”. Năm 64 tuổi ngài ba lần được vua Đường Thái-tông (627-649) triệu vào cung, ngài đều từ khước. Vua cho sứ giả đến truyền lệnh: Nếu ngài không chịu vào cung thì sẽ bị chém đầu. Ngài lập tức đưa cổ cho sứ giả chém. Sứ giả kinh dị, về triều tâu lại, vua rất sùng kính. Năm 72 tuổi ngài thị tịch. Trước tác của ngài có Nhập Đạo An Tâm Yếu Phương Tiện Pháp Môn, Bồ Tát Giới Tác Pháp,v.v...

[59]Một niệm ban sơ:chỉ cho Bồ-tát lúc mới phát tâm bồ đề tu hành Phật đạo.

[60]Tâm viên ý mã:là một thuật ngữ Phật học, chỉ cho tâm ý con người luôn luôn rong ruổi, đuổi theo ngoại cảnh, lăng xăng tán loạn, không đứng yên một chỗ, giống như ngựa phi nước đại, hoặc như vượn khỉ lúc nào cũng leo trèo chuyền nhảy, ít có lúc ngồi yên.

[61]Vị-đáo-địa định:cũng gọi là “vị-chí định”, tức là loại định ở giai đoạn tu tập (sau khi đã dứt hết kiến tư hoặc Dục giới) để chuẩn bị tiến vào định Sơ-thiền của Sắc giới. Sắc giới có bốn thiền định (Sơ-thiền, Nhị-thiền, Tam-thiền và Tứ-thiền), Vô-sắc giới có bốn vô-sắc định (Không-vô-biên-xứ định, Thức-vô-biên-xứ định, Vô-sở-hữu-xứ định và Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ định), cộng lại có tám thiền định. Tự thể của mỗi thiền định này được gọi là “căn bản định”(tức là, cả Sắc giới và Vô-sắc giới có tám căn bản định); trước khi tiến vào mỗi căn bản định thì có một giai đoạn chuẩn bị, được gọi là “cận phần định”(tức là, cả Sắc giới và Vô-sắc giới có tám cận phần định) – riêng cận phần định để chuẩn bị tiến vào căn bản định Sơ-thiềnthì được gọi đặc biệt là “vị-chí định”, hay “vị-đáo-địa định”. – Hai chữ “vị đáo”hay “vị chí”ở đây có nghĩa là chưa đạt đến căn bản định.

[62]Giác quán hỉ lạc:Người tu tập thiền định, trước khi nhập được vào Sơ-thiền, định lực còn non kém, thì tâm “giác quán”, cả thô lậu lẫn vi tế, được coi như một thứ phiền não, có thể làm chướng ngại cho công phu tu tập; phải buông bỏ tâm giác quán ấy mới có thể vào được Sơ-thiền. Khi đã nhập được vào Sơ-thiền, tâm giác quán ấy liền trở nên trong sáng, thành tâm hỉ lạc của cảnh giới Sơ-thiền, gọi là “giác quán hỉ lạc”.

[63]Bác Sơn Vô Dị Nguyên Lai thiền sư (1575-1630):là vị thiền sư thuộc tông Tào Động đời Minh, đệ tử truyền pháp của thiền sư Vô Minh Tuệ Kinh (1548-1618). Ngài họ Sa, quê ở huyện Thư-thành, tỉnh An-huy, húy là Nguyên Lai (hoặc Đại Nghĩ), hiệu Vô Dị, người đời thường xưng ngài là Bác Sơn thiền sư. Năm 16 tuổi, ngài xuất gia tại núi Ngũ-đài, tu học về tánh không suốt 5 năm. Sau đó ngài đến chùa Bảo-phương tham học với thiền sư Vô Minh Tuệ Kinh, và được truyền pháp. Năm 28 tuổi ngài ẩn cư tại chùa Năng-nhân ở Bác-sơn (tỉnh Giang-tây), hàng vạn người ở các nơi khắp vùng Giang-nam nghe danh tiếng, qui tụ về cầu giới với ngài, khiến cho Bác-sơn trở thành một ngôi tòng lâm phong thạnh. Năm 56 tuổi ngài thị tịch, đệ tử xây tháp thờ ngài tại Bác-sơn. Trước tác của ngài có Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục(35 quyển), Vô Dị Đại Sư Ngữ Lục Tập Yếu (6 quyển) v.v..., đều tận lực đề xướng tông chỉ “Thiền Tịnh không hai”.

[64]Nhà Minh (1368-1644):là một vương triều của Trung-quốc, do Chu Nguyên Chương (1328-1398) kiến lập, truyền nối được 17 đời vua, kéo dài 273 năm.

[65]Tông-môn và Giáo-hạ:“Tông-môn”là một thuật ngữ vốn được dùng để chỉ chung cho các tông phái ở Trung-quốc, nhưng từ đời Tống trở về sau thì Thiền tông tự dùng từ này để chỉ riêng cho tông phái của mình; nhân đó, các tông phái khác đều được gọi là “Giáo-môn”, hay “Giáo-hạ”.

[66]Chờ ngộ (đãi ngộ):“Đãi ngộ”là một phép tắc tu thiền rất được th���nh hành ở Trung-quốc vào cuối thời đại nhà Tống, gọi là “đãi ngộ thiền”. Theo pháp thiền này, người tu thiền lấy việc được chứng ngộ làm mục đích, cho nên đã coi việc tọa thiền chính là phương pháp khai ngộ, chê bỏ ngôn ngữ văn tự.

[67]Kinh Đại Phẩm:tức Kinh Đại Phẩm Bát Nhã, cũng gọi là Kinh Nhị Vạn Ngũ Thiên Tụng Bát Nhã, hay Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, do ngài Cưu Ma La Thập dịch từ Phạn văn ra Hán văn tại Trung-quốc, từ năm 402 đến năm 412 (dưới thời đại Hậu-Tần). Kinh này cũng có các bản dịch khác, như: Quang Tán Bát Nhã Ba La Mật Kinh(ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào thời Tây-Tấn), Phóng Quang Bát Nhã Ba La Mật Kinh(ngài Vô La Xoa dịch vào thời Tây-Tấn); ngài Huyền Trang (đời Đường) cũng dịch kinh này, và xếp thành “Hội Thứ Hai”trong bộ Kinh Đại Bát Nhãcủa ngài.

[68]Cư sĩ Bành Nhị Lâm (1740-1796):là một học giả sống vào đời Thanh. Ông tên là Thiệu Thăng, pháp danh Tế Thanh, quê ở Ngô-huyện, tỉnh Giang-tô, tự là Doãn Sơ, hiệu Xích Mộc, lại có hiệu là Nhị Lâm cư sĩ. Ông xuất thân trong gia đình sĩ tộc, được cử tiến sĩ dưới triều vua Càn Long, nhưng ông từ quan, không nhận. Ông thường đọc sách của các vị tiên Nho, thông suốt lí học của các thời Tống, Minh, giỏi cả cổ văn. Ông cũng theo học với đạo sĩ Đạo giáo, từng tu luyện 3 năm nhưng không thành công. Một hôm, nhân đọc sách Phật mà chuyển chí hướng tin Phật, tự lấy hiệu là Tri Qui Tử; năm đó ông 29 tuổi. Hằng ngày ông lấy việc tụng kinh lễ bái làm chính, cùng đọc Đại Tạng Kinh, thọ giới Bồ-tát, ăn chay, và sống tịnh hạnh. Sau đó ông lại theo Văn Học Định Công (1712-1788) thọ giáo về pháp môn Tịnh Độ. Tại Văn-tinh các ở Tô-châu, ông bế quan chuyên cần tu Nhất-hạnh tam muội (tức Niệm-Phật tam muội). Từ đó ông nỗ lực hoằng truyền pháp môn Tịnh Độ, soạn thuật phong phú, như: Nhất Thừa Quyết Nghi Luận, chủ trương Phật Nho nhất trí; Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội Luận, chủ trương Thiền, Tịnh dung hợp; Tịnh Độ Tam Kinh Tân Luận, phát huy giáo nghĩa Tịnh Độ. Ngoài ra, tác phẩm của ông còn có: Cư Sĩ Truyện, Thiện Nữ Nhân Truyện, Tịnh Độ Thánh Hiền Lụcv.v... Tông Tịnh Độ gần đây được hưng thịnh là cũng nhờ ảnh hưởng của ông rất nhiều. Rất tiếc, ông đã không sống được lâu, thế thọ chỉ có 57 tuổi.

[69]Hoàng Bá Hi Vận (?-850):là một vị thiền sư rất có danh tiếng ở thời đại nhà Đường. Ngài là người Phúc-kiến, không rõ họ là gì, thuở nhỏ xuất gia ở chùa Kiến-đức trên núi Hoàng-bá, tỉnh Phúc-kiến, cho nên thường được người đời xưng là Hoàng Bá Hi Vận, hay Hoàng Bá. Ngài thông minh mẫn nhuệ, học thông nội ngoại điển, tướng mạo kì lạ, cao gần 3 mét, trên trán nổi lên cục thịt giống như hạt châu, nên có hiệu là Nhục Châu. Một hôm ngài đi dạo núi Thiên-thai, gặp một dị tăng, nhìn ngài nói: “Ngươi quả là pháp khí của đại thừa, ta thật chẳng sánh kịp!” Sau đó ngài tìm đến yết kiến tổ Bách Trượng (720-814), được truyền tâm ấn, danh tiếng lừng lẫy từ đó. Về sau ngài về lại núi Hoàng-bá, cổ xúy tâm yếu “truyền thẳng từng người” (trực chỉ đơn truyền), người từ bốn phương vân tập về đông đúc. Từ đó núi Hoàng-bá nghiễm nhiên trở thành một đạo tràng lớn của phái Lâm Tế thuộc Thiền tông Trung-quốc; và tên núi Hoàng-bá cũng trở thành tên thường gọi của ngài. Ngài viên tịch năm 850, được ban thụy hiệu là Đoạn Tế thiền sư. Pháp ngữ của ngài, sau đó đã được người bạn thân của ngài là tiết độ sứ Bùi Hưu sưu tập, làm thành sách ngữ lục tên là Hoàng Bá Sơn Đoạn Tế Thiền Sư Truyền Tâm Pháp Yếu, vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay. Trong số môn đồ đông đúc của ngài, có Lâm Tế Nghĩa Huyền (?-867) là vị cao đồ đắc pháp và xuất sắc nhất, đã thừa kế và làm rạng rỡ tông môn, thanh thế còn vượt trội hơn cả ngài nữa.

[70]Đẳng-giác:Hàng Bồ-tát cấp Thập-địa, sau khi đã chứng Địa thứ mười (Pháp-vân địa) thì tiến lên bậc Đẳng-giác (tức bậc thứ 51 của 52 bậc của Bồ-tát hạnh), gọi là Bồ-tát Đẳng-giác. Diệu-giác là địa vị cuối cùng (bậc thứ 52) của Bồ-tát hạnh, cũng tức là quả vị Phật-đà, quả vị Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác; nói cách khác, đó là vị Bồ-tát đã thành Phật.

[71]Trong quá trình tu tập hạnh Bồ-tát, từ lúc mới phát tâm cho đến khi thành Phật, hành giả phải tuần tự trải qua 52 bậc thang, gồm trong 7 cấp: Thập-tín (10 bậc), Thập-trụ (10 bậc), Thập-hạnh (10 bậc), Thập-hồi-hướng (10 bậc), Thập-địa (10 bậc), Đẳng-giác (1 bậc), và Diệu-giác (1 bậc). Hành giả ở cấp Thập-tín được gọi là Bồ-tát ở địa vị Phàm-phu; ở 3 cấp Thập-trụ, Thập-hạnh và Thập-hồi-hướng được gọi là Bồ-tát ở địa vị Hiền; ở cấp Thập-địa được gọi là Bồ-tát ở địa vị Thánh; trên nữa là địa vị Đẳng-giác, rồi địa vị Diệu-giác.

[72]Năm vóc:danh từ Hán Việt gọi là “ngũ thể” hay “ngũ luân”, gồm có đầu, hai tay và hai gối. Khi lễ lạy, cả năm vóc này đều phải chạm đất, gọi là cách lạy “năm vóc chạm đất”(ngũ thể đầu địa). Đây là cách lễ lạy cung kính nhất trong các cách lễ lạy của người Ấn thời xưa, được tín đồ Phật giáo sử dụng để lạy Phật, lạy chư tăng, từ ngày Phật còn tại thế cho đến ngày nay đều thống nhất hành trì như vậy.

[73]Chữ “tịnh nghiệp”ở đây có nghĩa là tu các thiện nghiệp để cầu vãng sinh Tịnh-độ.

[74]Rau bên thịt (nhục biên thái 肉邊菜):Ví dụ, một món rau xào với thịt, người ăn chay có thể lấy riêng rau ra mà ăn, còn thịt thì không ăn; nếu một món canh cũng giống như vậy, thì cũng chỉ ăn rau thôi, còn thịt và nước canh không đụng tới. Trong thời gian sống ẩn mình trong đám thợ săn, tổ Huệ Năng cũng đã từng áp dụng cách ăn uống này, vừa khỏi bị lộ tông tích, lại vừa làm phương tiện giáo hóa người.

[75]Pháp tướng:Theo Luận Đại Trí Độ, các pháp 5 uẩn(sắc, thọ, tưởng, hành, thức), 12 nhập(nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) và 18 giới(6 căn, 6 cảnh và 6 thức), nếu lấy con mắt phàm tục (tục nhãn) mà nhìn thì thấy là có; nếu lấy con mắt trí tuệ (tuệ nhãn) mà nhìn thì thấy là không. Chúng sinh vì mê lầm, đối với các pháp trên, tâm khởi chấp trước, thấy có hình tướng, cho nên gọi là “pháp tướng”.

[76]Các hành giả từ bậc Tu-đà-hoàn đến bậc A-la-hán, gọi là chúng Thanh-văn; các hành giả thuộc trong ba cấp Thập-trụ, Thập-hạnh và Thập-hồi-hướng, gọi là chúng Bồ-tát hiền; các hành giả thuộc trong cấp Thập-địa, gọi là chúng Bồ-tát thánh.

[77]Ba phẩm bậc Thượng:tức ba phẩm Thượng-thượng, Thượng-trung và Thượng-hạ.

[78]Ba phẩm bậc Trung:Trung-thượng, Trung-trung và Trung-hạ. Tiếp sau đó, ba phẩm của bậc Hạ là: Hạ-thượng, Hạ-trung và Hạ-hạ.

[79]Chữ “niệm”này (có bộ khẩu bên trái) nghĩa là đọc.

[80]Trong lịch Tàu không có năm nào là năm con lừa, cho nên câu này có ý nói là vĩnh viễn không bao giờ xảy ra.

[81]Chữ “xem”(khán) ở đây có nghĩa là chăm chú, theo sát không rời.

[82]Tướng niệm (niệm tướng):Tuy ý niệm không có hình tướng có thể thấy bằng mắt, nhưng chúng ta có thể “thấy” được bằng ý thức, cho nên nó vẫn có tướng. Có niệm ngắn có niệm dài là có tướng; có niệm trước phân biệt với niệm sau là có tướng.

[83]Thế giới Kham-nhẫn:tức là thế giới Ta-bà.

[84]Nội nhiếp:tức là tâm ý định tĩnh, không phan duyên; ngoại duyên: tức ngoại cảnh, là đối tượng mình đang tiếp xúc.

[85]Tướng định:Giống như “tướng niệm”đã nói trong một chú thích ở trên, mặc dù cảnh giới “định” không có hình tướng để trông thấy được bằng con mắt thường, nhưng vì đó là một khái niệm do phân biệt với trạng thái “tán loạn”mà có; đã có phân biệt, có khái niệm, là có tướng, gọi là “tướng định”.

[86]Tánh chướng:chỉ cho vô minh, vọng chấp.

[87]Hai câu này (仰之彌高,鑽之彌堅- Ngưỡng chi di cao, toàn chi di kiên. – Trông lên càng cao, dùi vào càng cứng.)đã được tác giả lấy từ sách Luận Ngữ, có ý khen ngợi đạo đức của đức Khổng Tử. Ngày nay hai câu ấy được dùng với ý nghĩa là cố sức tìm tòi nghiên cứu.

[88]Ba phược kết:tức ba loại phiền não căn bản là tham, sân và si. Ba thứ phiền não này trói buộc chúng sinh, khiến tạo ra vô vàn tội lỗi, không được tự tại, chân tánh không hiển lộ được, nên chúng, ngoài tên “phiền não”, còn được gọi là “phược kết”.

[89]Kiến-địa:là địa vị Kiến-đạo, tức quả Dự-lưu (Tu-đà-hoàn) ở thừa Thanh-văn, hoặc Địa thứ tư trong cấp Thập-địa của thừa Bồ-tát. Để tiến lên được địa vị này, hành giả phải tu tập đoạn trừ dứt tuyệt tất cả các loại kiến hoặctrong ba cõi, phát sinh trí tuệ vô lậu, giác ngộ chân lí Tứ Đế, cho nên gọi là “Kiến-địa”.

[90]Thật tế:tức là tuyệt đối xa lìa hư vọng, thực chứng niết bàn. Luận Đại Trí Độnói: “Pháp tánh là thật, chứng nhập pháp tánh là tế; như bậc A-la-hán, gọi là trụ nơi thật tế...... Thể nhập pháp tánh gọi là thật tế...... Thật tế tức là niết bàn.”

[91]Kim cang tam muội:là định lực kiên cố có công năng tiêu diệt mọi phiền não, thông đạt tất cả các pháp.

[92]Bản giác:là tánh giác vốn có sẵn từ vô thỉ, bình đẳng thanh tịnh; đối lại là “thỉ giác”, tức là trong đời này tu hành tinh tấn, từng bước diệt trừ phiền não, phá sạch vô minh, trí tuệ đạt đến chỗ siêu việt, tánh giác hiển lộ. Xét rõ ra, bản giác và thỉ giác chỉ là hai mặt của tánh giác. Khi chúng sinh còn mê muội thì tánh giác ấy tiềm ẩn, gọi là “bản giác”; khi vô minh bị phá sạch thì tánh giác ấy hiển lộ, gọi là “thỉ giác”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(Trong khi dịch và chú thích bổ túc cho tập sách này,

người dịch đã tham khảo các tài liệu sau đây:)

Nguyễn Kim Thản chủ biên. Từ Điển Hán Việt Hiện Đại. Việt-nam: Nhà xuất bản Thế Giới, 1996.

Tâm Minh Lê Đình Thám (dịch). Kinh Thủ Lăng Nghiêm.

Trần Trọng San và Trần Trọng Tuyên. Hán Việt Tự Điển. Canada: Bắc Đẩu, 1997.

Từ Di chủ biên. Phật Quang Đại Từ Điển. Đài-bắc: Phật Quang Văn Hóa Sự Nghiệp Hữu Hạn Công Ti, 1997.

Viên Anh pháp sư. Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa. Chương-hóa (Đài-loan): Tam Tuệ Học Xứ, 1999.

Vĩnh Cao - Nguyễn Phố. Từ Lâm Hán Việt Từ Điển. Việt-nam: Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2001.

---o0o---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn