Một Khúc Mắc Về Kinh Kim Cang

9/13/202508:22(View: 1320)
Một Khúc Mắc Về Kinh Kim Cang


Phat thuyet phap-1

 Một Khúc Mắc Về Kinh Kim Cang


Có một nhà trí thức, có thể nói là “Thiên kinh vạn quyển” ái mộ Phật, nghiên cứu kinh điển rất nhiều. Thế nhưng có một đoạn trong Kinh Kim Cang ông không sao hiểu nổi. Ông đã nhờ nhiều nhà trí thức  giải thích dùm nhưng những lời giải thích có vẻ gượng gạo càng làm cho vấn đề trở nên bế tắc. Cuối cùng ông quyết định vấn hỏi một vị thiền sư xem Phật gia có thật sự hiểu thấu đáo kinh điển hay chỉ đọc tụng như một cái máy, tin mà không hiểu gì hết. Khi hội kiến thiền sư, ông trình bày thắc mắc của mình:

-Thưa thầy, trong Kinh Kim Cang có đoạn: “Tu Bồ Đề, ví như có người thân như Núi Tu Di. Ý ông thế nào? Thân người ấy có to lớn không? Tu Bồ Đề thưa, bạch Thế Tôn, rất lớn. Vì sao? Phật nói chẳng phải thân to lớn, như thế mới là thân to lớn.”

Thưa thầy,”Thân to lớn mà không phải thân to lớn”, tức thân nhỏ bé, làm sao có thể lại là thân to lớn? Phải chăng có cái gì mâu thuẫn trong câu kinh này?

Nghe hỏi vậy, sư mỉm cười rồi nhẹ nhàng nói:

-Để hiểu đoạn kinh này xin ông lắng nghe câu chuyện sau đây.

 Nói rồi sư kể:

“Có hai vị sa môn huynh đệ, trong một chuyến du hóa tình cờ xe đò bị hư phải dừng lại bên đường. Cũng đã tới giờ Ngọ, hai vị tìm vào một quán cơm chay. Khi thấy khách bước vào, người hầu bàn tới chào rồi chờ khách gọi món ăn. Vị sư đệ gọi một tô hủ tíu chay, còn vị sư huynh gọi một tô mì chay. Một lát sau, có thể do lầm lẫn của nhà bếp và vô ý, người hầu bàn đưa ra hai tô hủ tíu. Vị sư đệ nhận và ăn tô hủ tíu đã đành, còn vị sư huynh cũng nhận và điềm nhiên ăn tô hủ tíu.  Khi ăn xong, vị sư đệ với vẻ bồn chồn, lên tiếng hỏi:


-Sư huynh gọi tô mì chay, khi bồi bàn đem ra tô hủ tíu, sư huynh có thấy đó là tô hủ tíu không?

Vị sư huynh đáp:


-Có chứ, huynh biết đó là tô hủ tíu chứ.


-Thế tại sao huynh ăn mà không phản ứng gì? Không than phiền hay yêu cầu chủ quán đổi tô mì chay cho sư huynh?

Vị sư huynh cười đáp:

-Đệ đọc tụng hằng ngày Kinh Kim Cang đã quên mất đoạn, “Thân to lớn chẳng phải thân to lớn như thế mới là thân to lớn” rồi sao? Thì ngày hôm nay, “Tô mì chay chẳng phải tô mì chay như thế mới là tô mì chay.” Sau khi gọi tô mì chay, huynh quên tất cả và không còn nhớ tới nó nữa. Chính vì thế mà tô mì chay hay tô gì đó hay tô hủ tíu cũng đều như nhau cả. Cho nên trước mắt huynh tô hủ tíu cũng là tô mì. Theo lời dạy trong Kinh Kim Cang, huynh đang luyện tâm không phân biệt.

Nghe sư huynh giảng thế, vị sư đệ như bừng nở hoa tâm và đứng lên vái lạy vị sư huynh của mình.”

Kể tới đây, sư dừng lại một chút rồi nói tiếp:

-Kinh Kim Cang không thể hiểu chữ bằng nghĩa, bằng biện luận mà bằng cái Tâm Vô Sai Biệt. Kinh Kim Cang là kinh phá mọi ràng buộc, mê lầm. Khi đã vô sai biệt thì làm gì có lớn có nhỏ? Lớn cũng là nhỏ mà nhỏ cũng là lớn. Nó cũng chính là Trí Tuệ Bát Nhã. Nó là kinh đại thừa đốn giáo mà Lục Tổ Huệ Năng tu thành Phật. Thưa ông, khi đã thấu đáo Trí Tuệ Bát Nhã thì:

-Khi người đời tán dương ông là một học giả mà ông coi mình không phải học giả, như thế mới là học giả.

-Khi người đời tán dương ông là nhà đạo đức mà ông thấy mình chưa phải là nhà đạo đức, như thế mới là nhà đạo đức.

-Khi ông thông minh mà không bao giờ tỏ ra thông minh, như thế mới thật là thông minh.

-Khi ông biết mà tỏ ra mình như không biết, như thế mới là biết.

-Khi ông là tỷ phú mà ông coi mình như kẻ nghèo khó như thế mới là tỷ phú.

-Khi ông thành công mà ông nói có gì gọi là thành công đâu và hồi hướng công đức về tất cả mọi người, như thế mới là thành công.

-Khi ông phục vụ mà nói rằng tôi có phục vụ gì đâu, đó chỉ là bổn phận, như thế mới là phục vụ.

-Khi ông nổi tiếng mà nói rằng hư không vốn thanh tịnh, làm gì có sự nổi tiếng trong hư không, như thế mới là người nổi tiếng.

-Khi ông bố thí mà không thấy có chuyện bố thí, như thế mới là bố thí.

-Khi ông cúng dường mà không chấp mình có cúng dường, tức không kể công, như thế mới gọi là cúng dường.

Người đời cần có hình, danh, sắc, tướng để mà sống. Nhưng người tu hành hay thiện tri thức phải phá bỏ mọi hình, danh, sắc, tướng đang tạm gắn trên người mình. Cũng chính vì thế mà ngài Tu Bồ Đề đã thưa với Phật rằng, “Con không chấp niệm con là A La Hán Ly Dục. Bạch Thế Tôn, nếu con còn chấp niệm rằng con là A La Hán Ly Dục thì chắc Thế Tôn không nói Tu Bồ Đề ưa làm hạnh tịch tịnh A Lan Na.

Nghe tới đây vị trí thức bừng nở hoa tâm, như giữa cơn khát cháy được uống một ly nước dừa tươi, như trời nắng hạn gặp cơn mưa rào và trút được một gánh nặng đã đeo đuổi ông bao năm trời. Ông nói:

-Kim Cang đúng là tâm kinh, hiểu bằng tâm chứng ngộ, đó là pháp môn tu thành Phật mà người bình thường không sao hiểu được, Xin tạ ơn thầy.

Thiện Quả Đào Văn Bình 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
11/6/2010(View: 6317)
Sức khỏe đựơc định nghĩa “ là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái (well-being, bien-être) về thể chất, tâm thầnvà xã hội, chớ không phải chỉ là không có bệnh hay tật “ (WHO, Tổ chức sức khỏe thế giới, 1946) . Một định nghĩa như thế cho thấy cái gọi là “sức khỏe” của một con người không thể chỉ khu trú vào chuyện có hay không có bệnh, tật; cũng như không thể đánh giá sức khỏe của một cộng đồng mà chỉ dựa vào tỷ lệ giường bệnh, tỷ lệ bác sĩ…!
11/6/2010(View: 6664)
Có một sự nhất quán, xuyên suốt trong lời dạy hướng dẫn kỹ năng thiền định của Phật, từ Tứ niệm xứ (Satipatthàna) tới Thân hành niệm ( Kàyagatàsati), rồi Nhập tức xuất tức niệm (Ànàpànasati), đó là thở: Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn… Tóm lại, đó là luôn bắt đầu bằng sự quán sát hơi thở, đặt niệm (nhớ, nghĩ) vào hơi thở.
10/31/2010(View: 9943)
Lịch sử Thiền tông Trung Hoa sơ kỳ xuất hiện với hai tên tuổi tiêu biểu. Một vị đương nhiên là Bồ-đề Đạt-ma, người khai sáng Thiền tông Trung Hoa, và vị thứ hai là Lục Tổ Huệ Năng, người định hướng dòng mạch Thiền tông bắt nguồn từ Tổ Đạt-ma. Nếu không có Tổ Huệ Năng và môn đệ trong tông môn của Ngài thì Thiền tông không thể nào phát huy và hưng thịnh vào đầu đời Đường Trung Hoa. Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ chiếm một vị thế tối quan trọng trong nhà Thiền, và những thăng trầm thuộc về duyên nghiệp mà bộ kinh đã khứng chịu có nhiều điều rất lý thú.
10/27/2010(View: 18789)
Tu thiền là thực hiện theo nguồn gốc của đạo Phật. Vì xưa kia, Đức Phật tọa thiền suốt bốn mươi chín ngày đêm dưới cội bồ đề mới được giác ngộ thành Phật. Chúng ta là Tăng Ni, Phật tử học giáo lý của Phật thì phải đi theo con đường mà Phật đã đi, không đi con đường nào khác, dù đường ấy người thuyết giảng nói linh thiêng mầu nhiệm, chúng ta cũng không theo. Chúng ta cần phải giảng trạch pháp thiền nào không phải của Phật dạy và pháp thiền nào của Phật dạy, để có cái nhìn chính xác, để tu và đạt được kết quả tốt đúng với giáo lý mà mình đã tôn thờ.
10/19/2010(View: 6409)
Phép quán niệm hơi thở, nếu được phát triển và thực tập liên tục, sẽ đem lại những thành quả và lợi lạc lớn, có thể làm thành tựu bốn lĩnh vực quán niệm; bốn lĩnh vực quán niệm nếu được phát triển và thực tập liên tục, sẽ làm thành tựu bảy yếu tố giác ngộ; bảy yếu tố giác ngộ nếu được phát triển và thực tập liên tục sẽ đưa tới trí tuệ và giải thoát
10/18/2010(View: 7651)
Thiền là phương pháp tu hành chủ yếu của nhà Phật. Khi Đức Phật Thích Ca còn tại thế, các đệ tử của Ngài đều lấy việc hành thiền làm cơ bản. Các phương pháp hành thiền này đều nương theo các kinh, luật và luận đã thuyết; như thiền Quán niệm hơi thở, thiền Tứ niệm xứ, Thiền na Ba la mật v.v...Tu các pháp thiền này được chứng nhập tuần tự theo thứ bậc, tùy theo trình độ và thời gian hành trì của hành giả. Loại thiền này được gọi là Như Lai Thiền. Còn Tổ Sư Thiền thì ngược lại không có thứ bậc, là pháp trực tiếp chỉ thẳng vào bản thể chân tâm Phật tánh.
10/16/2010(View: 6786)
Sự chia rẽ giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa trầm trọng ở mức độ nào? Sao bên nào cũng tự nhận là đi đúng đường và cao siêu hơn? Và tại sao Phật từng nói trong Kinh Pháp Hoa, Đại Thừa là hạt giống rắn chắc, khác với Tiểu Thừa là hàng thấp thỏi, trình độ kém, như vậy Phật đã xếp hạng giữa hai phái, vậy mà Tiểu Thừa vẫn tự nhận là Nguyên Thuỷ đúng lời Phật dạy
10/12/2010(View: 7026)
Niêm hoa vi tiếu: nói đầy đủ là: "Thế tôn niêm hoa, Ca Diếp vi tiếu." Nghĩa là: Đức Phật Thích Ca cầm cái hoa đưa lên, ông Ma Ha Ca Diếp mỉm cười.
10/12/2010(View: 8963)
Thiền sư Đạo Nguyên Hy Huyền (Dogen Kigen, 1200-1253) là khai tổ tông Tào Động Nhật Bản. Năm 1224 sư sang Trung Hoa học đạo với thiền sư Thiên Đồng Như Tịnh (1163-1228) là tổ tông Tào Động đời thứ 15. Sau khi được thầy ấn chứng, sư trở về Nhật Bản vào năm 1228.
10/12/2010(View: 11688)
Phật giáo Nguyên thủy (Theravada) đã miêu tả hai Chân lý: Chân lý Tuyệt đối (Paramatha Sathya) và Chân lý có tính Quy ước (Sammuti Sathya). Luận sư Long Thọ của Truyền thống Phật giáo Đại thừa (Mahayana) cũng đã đồng nhất hai Chân lý ấy, nhưng luận thuyết của Ngài khác với luận thuyết của Truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy (Theravada).