Liệu pháp chánh niệm

19/03/202523:47(Xem: 1444)
Liệu pháp chánh niệm

duc phat thanh dao

Liệu pháp chánh niệm

Tác giả: Tara Bennett-Goleman

Dịch giả: Nguyên Giác

 

Cốt tủy của liệu pháp nhận thức là bạn không cần phải tin vào suy nghĩ của bạn. Liệu pháp nhận thức hoạt động bằng cách giúp mọi người nhận ra những suy nghĩ phản tác dụng, phi logic, để tháo gỡ những bóp méo nhận thức và để làm việc với các sự kiện trong cuộc sống hoặc với các suy nghĩ của chính họ để phát triển các chiến lược dẫn đến một góc nhìn cân bằng và thực tiễn hơn.

Khi tôi trải qua khóa đào tạo về liệu pháp nhận thức, tôi đã bị ấn tượng bởi sự tương đồng mạnh mẽ của nó với phương pháp thiền chánh niệm và tâm lý học Phật giáo. Tôi cũng đã làm việc với khách hàng bằng cách kết hợp liệu pháp nhận thức và chánh niệm, và tôi ngày càng thấy rõ hơn rằng hai phương pháp này có sự kết hợp với nhau.

Liệu pháp nhận thức chủ yếu hoạt động với những niềm tin tiềm ẩn mang tính hủy hoại—đôi khi được gọi là “sơ đồ thích nghi kém”—mà mọi người có về bản thân họ. Sơ đồ thích nghi kém có thể được diễn đạt bằng những cụm từ như “Tôi phải hoàn hảo trong mọi việc tôi làm”, hoặc “Tôi bất tài”, hoặc “Nếu tôi bày tỏ nhu cầu của riêng mình, mọi người sẽ từ chối tôi”. Theo Tiến sĩ Jeffery Young, người mà tôi đã được đào tạo, những chủ đề phổ biến nhất trong sơ đồ thích nghi kém là: thất bại, chia cắt, không đáng yêu, khuất phục sự phụ thuộc, mất kiểm soát và ngờ vực.

Thay đổi các lược đồ không thích nghi khiến bạn cảm thấy ngượng ngùng và xa lạ—nó không giống bạn, cũng giống như đôi giày thể thao mới không thoải mái bằng đôi giày cũ đã mòn. Liệu pháp nhận thức giúp mọi người thấy được cách các tình huống tự hủy hoại bản thân trong cuộc sống của họ phản ánh lược đồ rối loạn chức năng của họ. Khách hàng học cách tìm hiểu cách các lược đồ phát triển trong suốt cuộc sống của họ và về cách các lược đồ này hiện đang hoạt động để duy trì niềm tin tiêu cực của họ về bản thân. Dần dần, họ không còn tự thấy  đồng nhất với các lược đồ. Ngay cả những đôi giày thể thao mới cuối cùng cũng trở nên thoải mái.

Tâm lý học Phật giáo

Trong tâm lý học Phật giáo không có cái ngã cố định, mà thay vào đó là một quá trình phi nhân cách của các hiện tượng vật lý và tinh thần (nama-rupa; thân-tâm) phát sinh và biến mất trong từng khoảnh khắc tâm lý. Các yếu tố chính phát sinh trong tâm được gọi là các yếu tố tinh thần (tâm sở).

Khi kết hợp lại, các yếu tố tinh thần (tâm sở) đại diện cho quang phổ cảm thọ/nhận thức. Các lược đồ thích nghi kém giống như các yếu tố tinh thần không lành mạnh trong hệ thống Abhidhamma, quyết định cách chúng ta diễn giải thực tại. Chúng là các bộ lọc nhận thức, tô màu cho niềm tin của chúng ta.

Giống như Abhidhamma nói rằng người ta phải loại bỏ các yếu tố tinh thần không lành mạnh (tâm sở bất thiện) ra khỏi tâm để có được sức khỏe tinh thần (tâm sở thiện), liệu pháp nhận thức tìm cách vô hiệu hóa các lược đồ thích nghi kém.

Lý thuyết: Phá vỡ chuỗi nhân quả

Chuỗi nhân quả của sự phát sinh duyên khởi trong Abhidhamma rất giống với lý thuyết xử lý thông tin trong ngành tin học (information processing theory), vốn là cốt lõi của tâm lý học nhận thức. Ba mắt xích đầu tiên của chuỗi là “căn”, dẫn đến “xúc”, dẫn đến “cảm thọ”.

Cùng một trình tự trong quá trình xử lý thông tin được đặt theo thuật ngữ “cảm ứng” dẫn đến “nhận thức”, dẫn đến “cảm thọ”.

Chu trình đầy đủ, trong mỗi hệ thống, diễn ra ít nhiều như sau:

Chuỗi duyên khởi: Cơ sở giác quan (căn)> Xúc > Cảm thọ > Khát ái> Bám víu > Hành động.

Xử lý thông tin (trong hệ thống tin học): Cảm giác > Nhận biết > Cảm thọ > Ý định > Kế hoạch > Hành động.

Cả Abhidhamma và liệu pháp nhận thức đều thừa nhận rằng sự thay đổi có thể xảy ra thông qua nhận biết ở giai đoạn cảm giác/cảm thọ, để cảm thọ không dẫn đến hành động.

Trong liệu pháp nhận thức, nhận biết trung lập được sử dụng để can thiệp giữa nhận biết và cảm xúc, phá vỡ sự kìm kẹp của các lược đồ thích nghi kém. Nhà trị liệu nhận thức có thể đánh giá cao bình luận của Joseph Goldstein, “Nếu chúng ta có thể chánh niệm trong từng khoảnh khắc—nhận biết về đối tượng, nhận biết về cảm thọ, dù là dễ chịu hay khó chịu—thì nhận biết sẽ ngăn chặn sự phát sinh của tham muốn”.

Việc theo dõi các lược đồ tâm có thể được hỗ trợ bằng cách “ghi nhận”, giống hệt như được thực hiện trong một số kỹ thuật vipassana, bằng cách dán nhãn các lược đồ nhiều lần cho đến khi tâm có thể chuyển sang chế độ quan sát. Điều này giúp một người nhận ra tính minh bạch của các mô hình tâm đã bị điều kiện này. Một khách hàng có thể đạt được một số đòn bẩy cảm thọ bằng cách quan sát các trạng thái tâm tiêu cực này với sự bình tĩnh thay vì một sự thôi thúc bắt buộc họ phải tiếp tục hành động theo chúng.

Thuốc giải độc

Các tâm sở bất thiện có thể phát sinh trong thiền định gây ra những chướng ngại. Hệ thống Abhidhamma đề xuất các phương thuốc giải độc cụ thể cho những chướng ngại này—ví dụ, tu định để đối phó dao động, tinh tấn để đối phó lười biếng và buồn ngủ. Nguyên tắc tương tự được sử dụng để chống lại các khuynh hướng của tâm của các loại tính cách Abhidhamma. Ví dụ, người nhiều tham sẽ được cho một túp lều tồi tàn, đầy mạng nhện và côn trùng. Người nhiều sân giận sẽ được cho chỗ ở tốt nhất mà không có gì để phàn nàn, để vô hiệu hóa khuynh hướng thống trị của tâm.

Một chiến lược tương tự được sử dụng trong liệu pháp nhận thức tập trung vào lược đồ: các nhóm tâm sở có thói quen tự hủy hoại được trung hòa bằng các thuốc giải độc cụ thể. Các thuốc giải độc bao gồm việc cố ý đưa vào tâm những quan điểm đối lập để chống lại lược đồ. Ví dụ, người dễ bị lược đồ khuất phục sẽ được hướng dẫn để thực hành trở nên quyết đoán hơn, hoặc thực hành để có quyết tâm nhiều hơn với nhu cầu và mong muốn của chính họ. Mục đích là thay thế trạng thái tâm bị méo mó bằng trạng thái tâm cân bằng và thực tiễn hơn.

Nhiều lối đi riêng biệt

Liệu pháp tác động đến nội dung của tâm (mind’s content), trong khi thiền tác động đến bối cảnh (context). Hai con đường này là riêng biệt, nhưng chúng cũng có thể bổ sung và tạo điều kiện cho nhau.

Ngoài các khóa tu vipassana thường xuyên, một số thiền sinh có thể thấy hữu ích khi tham gia các khóa tu định hướng tâm lý với mục đích rõ ràng là kết hợp thực hành chánh niệm với quá trình điều tra tâm lý. Thêm vào lịch trình khóa tu thường xuyên sẽ là các buổi trị liệu, nơi mọi người có thể điều tra và xử lý các lược đồ tâm gây mất tập trung. Không nên nhầm lẫn các khóa tu này với quá trình thực hành thiền chuyên sâu.

Điều quan trọng là đừng để bị cuốn vào sự tĩnh lặng của thiền định mà không quan tâm đến những công việc tâm lý còn dang dở. Trong khi đó, những hiểu biết sâu sắc của pháp thiền định thâm sâu cũng có tác dụng chữa lành về mặt tâm lý. Nhìn thấy bản chất vô thường, vô ngã của các hiện tượng tinh thần cho phép chúng ta hiểu được tâm.


NGUỒN: Mindfulness Therapy, by Tara Bennett-Goleman

Text © Inquiring Mind, 1997-2020. Bản quyền CCA-NonCommercial

https://inquiringmind.com/article/0501_22_bennett-goleman_mindfulness-therapy/

.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/09/2019(Xem: 8211)
Narayan Helen Liebenson, Geshe Tenzin Wangyal Rinpoche và Blanche Hartman chia xẻ lời khuyên của họ về việc làm sao để ứng phó với các giai đoạn trầm cảm.Narayan Helen Liebenson là nữ giáo sư hướng dẫn tại Trung Tâm Thiền Cambridge Insight Meditation Center. Geshe Tenzin Wangyal Rinpoche là người nắm giữ truyền thừa của truyền thống Bön Dzogchen tradition của Tây Tạng. Ông là tác giả của cuốn sách “Spontaneous Creativity: Meditations for Manifesting Your Positive Qualities” [Sự Sáng Tạo Tự Phát: Thiền Để Thể Hiện Phẩm Chất Tích Cực Của Bạn] (xuất bản năm 2018).Zenkei Blanche Hartman (1926-2016) là Pháp Sư Cao Cấp và là phụ nữ đầu tiên Trú Trì Trung Tâm Thiền San Francisco.
24/08/2019(Xem: 16149)
Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo. Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời. Trạng thái này có thể đạt được khi còn đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã chết (Vô dư Niết bàn). Phật giáo Tiểu thừa hướng tới Vô dư Niết bàn - một Niết bàn tịch diệt, cô đơn, từ bỏ mọi thú vui trần thế. Phật giáo Đại thừa lại hướng tới Hữu dư Niết bàn - một Niết bàn nhân bản, nhập thế và hoạt động cùng những buồn vui nhân thế. Quan niệm này đã mang lại một sức hấp dẫn, sức sống mới cho Phật giáo, đặc biệt là trong xã hội hiện đại.
21/08/2019(Xem: 8012)
Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu xem độc tố này là gì. Xao lãng là xu hướng của tâm thức nhảy hết chuyện này sang chuyện khác. Đó là trường hợp của những người có một tâm thức tương tự như con cào cào hay con bướm, không sao có thể dừng lại với bất cứ một thứ gì, dù chỉ trong một khoảnh khắc. Câu thơ nổi tiếng của T.S. Eliot (Thomas Stearns Eliot, 1888-1965, thi hào người Anh gốc Mỹ, đoạt giải Nobel văn chương năm 1948) : « xao lãng bởi sự xao lãng của sự xao lãng » có thể nói lên điều đó. Câu thơ này nêu lên một cách ngắn gọn cuộc sống ngày nay trong xã hội : đó là một quá trình liên tục – hết ngày này đến tuần khác – của sự « xao lãng bởi sự xao lãng của sự xao lãng ». Liều thuốc hóa giải sự xao lãng trong hoàn cảnh đó – ít nhất là đối với lãnh vực tâm thần – là sự chú tâm vào hơi thở. Một sự tập trung thật mạnh hướng vào quá trình hô hấp của mình là một phương pháp rất hiệu nghiệm, có thể hóa giải được tất cả mọi hình thức xao lãng.
09/08/2019(Xem: 7705)
‘Khổ và sự diệt khổ’ là trọng tâm của lời đức Phật dạy, được diễn đạt qua Kinh Chuyển Pháp Luân.[2] ‘Idaṁ dukkhaṁ ariyasaccaṁ’ pariññeyyan-ti ‘Chính sự thật về khổ’, cần được con người am hiểu, rõ biết tường tận.[3] Nhận định này có thể tư duythông qua bài kinh ‘Ví Dụ Tấm Vải’[4] như sau: Ví như tấm vải bị hoen ố, vấy bẩn và người thợ nhuộm đã cố gắng làm đẹptấm vải bằng cách nhúng nó vào thuốc nhuộm loại tốt này hay loại tốt khác, nhưng kết quả cho ra không được như ý. Bởi vì thực chất của tấm vải là dơ bẩn, không sạch, uế nhiễm.
06/08/2019(Xem: 5461)
Trong toán học, muốn giải một bài toán cơ bản luôn cần có một mẫu số chung, đó là con số quan trọng cần thiết để đưa đến kết quả chính xác cho bài toán. Ngoài ra vì tính khoa học, những con số còn giúp cho mọi việc được mạch lạc, rõ ràng thứ lớp hơn mà chính Đức Thế Tôn của chúng ta cách đây 2600 năm cũng đã sử dụng nó để nói đến trong toàn bộ những bài giảng của Ngài. Khi giảng nói về các loại tâm vô hình, trừu tượng khó nhớ Đức Phật đã dùng những con số cụ thể trong Vi diệu pháp (Duy thức học). Chính nhờ vậy việc tìm hiểu về các loại Tâm vương, Tâm sở đầy phức tạp đã được Ngài hướng dẫn, phân loại rõ ràng cho từng loại tâm khác nhau. Tuy nhiên đây chỉ là những học thuyết sâu rộng của triết lý Phật giáo dành cho lãnh vực nghiên cứu.
02/08/2019(Xem: 6132)
Vào sáng Chủ Nhật 14 tháng 7 2019, tại hội trường báo Người Việt (Westminster, Little Saigon) đã có một cuộc hội thảo với chủ đề tìm cách đem sự thực tập chánh niệm tỉnh thức đến với giới thanh thiếu niên gốc Việt tại Quận Cam.
02/08/2019(Xem: 6101)
"Lý tưởng nhất là các lớp học không có cảm giác sợ hãi và căng thẳng làm việc dạy và học trở nên nặng nề. Lý tưởng nhất là giáo viên tạo dựng được nề nếp học trong không khí êm ả và chú tâm của lớp học. Tuy nhiên, không khí trong các lớp học công lập của Hoa Kỳ thường xuyên không được như vậy,…" Đó là lời phát biểu của Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ khi anh thuyết trình về lợi ích của việc thực tập hơi thở trong tỉnh thức ở học đường. Phương pháp này giúp con người trị được nhiều căn bệnh về tâm lý và đối đầu được những cảm giác hồi hộp, căng thẳng, sợ sệt, bất an, trầm cảm, thường xảy ra cho các học sinh và cả trong giới giáo chức.
20/07/2019(Xem: 9019)
Các bộ kinh Nikāya ghi nhận tầm quan trọng của thiềnna (jhana) trong cấu trúc của con đường hành trì trong Phật giáo. Trong bài kinh Sa-môn quả (Sāmaññaphala Sutta, DN 2), Tiểu kinh Dụ Dấu Chân Voi (Cūḷahatthipadopama Sutta, MN 27) và nhiều bài kinh khác về sự tu tập tiệm tiến (anupubbasikkhā) của một tu sĩ Phật giáo, Đức Phật luôn đề cập đến thiền-na để minh họa cho việc tu tập tâm định. Khi vị tỳ-khưu hoàn tất tu tập về căn bản giới đức, vị ấy tìm nơi thanh vắng, sống độc cư và thanh lọc tâm, loại trừ “năm triền cái”. Khi tâm vị ấy được thanh lọc, vị ấy nhập và an trú vào bốn tầng thiềnna, được mô tả rất nhiều trong kinh tạng Nikāya qua một công thức kiểu mẫu:
03/07/2019(Xem: 5613)
Bài này sẽ viết về Thiền, phần lớn sẽ ghi về một số lời dạy của Đức Phật trong thiền pháp Thiền Tông, còn gọi là Thiền Đông Độ, hay Thiền Đạt Ma, hay Thiền Tổ Sư, và riêng tại Việt Nam còn gọi là Thiền Trúc Lâm. Chủ yếu nơi đây dựa vào kinh điển, và người viết không phải là tiếng nói thẩm quyền nào. Tất cả những gì viết nơi đây đều rất dễ hiểu; độc giả có thể ngưng ở bất kỳ dòng nào để thử nghiệm tự nhìn lại tâm. Với các bất toàn tất nhiên sẽ có, xin thành kính sám hối trước Tam Bảo.
01/07/2019(Xem: 5736)
Tâm là chủ thể tiếp nhận các đối tượng từ bên ngoài lẫn bên trong. Khi đang ngủ say, thì tâm được cho là trống rỗng, hay nói cách khác, đó là trạng thái vô thức ( bhavaïga, tiềm thức, tâm hộ kiếp). Chúng ta luôn kinh qua một trạng thái tiêu cực như vậy khi tâm mình phản ứng lại các đối tượng bên ngoài. Dòng chảy vô thức (bhavaïga) này bị gián đoạn khi các đối tượng thâm nhập vào tâm. Kế đó, tâm vô thức (bhavaṅga) rung động trong một chóc lát ý tưởng và biến mất.