Những Vì Sao

23/09/201808:08(Xem: 6115)
Những Vì Sao

nhungvisaodem_1
NHỮNG VÌ SAO

        Bầu trời trên cao xa, có đêm thì trăng sáng rực trần gian, chị hằng như đang mĩm cười nhìn xuống trần gian, còn chú cuội bên cây đa đang thiêm thiếp ngủ, có bữa thì tối thui như đêm ba mươi, ngữa bàn tay không thấy. Lúc thì trời quang mây tạnh, mưa thuận gió hòa, khi thì phong ba bão táp, tàn hại thiên nhiên, phá bỏ biết bao công trình vĩ đại mà con người đã bỏ thật nhiều  sức lực tiền của để xây dựng qua nhiều thế kỷ, nhiều triều đại. Nhưng dù sao đi nữa, trời đất có biến đổi, vũ trụ cứ xoay vần chúng ta vẫn mang ơn trời đất đã cho mình đầu đội trời, chân đạp đất, mang ơn cha mẹ sanh thành dưỡng dục; mang ơn thầy tổ tác thành giới thân huệ mạng cho mình, để từ đó làm thềm thang bước lên đạo hạnh thanh cao, làm một con người cao cả hơn trên tất cả mọi chúng sanh đang hiện diện trên hành tinh này. Mang ơn những bạn hiền cùng sách tấn tu tập hoặc chia xẻ chân tình, giúp nhau những công việc trong đời sống thường nhật, mang ơn những người bạn có lúc làm mình đau lòng đến chảy nước mắt; mang ơn đàn na tín thí đã nhịn ăn nhín mặc hổ trợ tứ sự cho hành giả an tâm tu tập; xin hồi hướng tất cả phước báu đến cho muôn loài ngạ quỷ, súc sanh đang chịu nhiều khổ đau trong chốn địa ngục.

“Tỳ Gia đêm nay người cứu tinh

Trần gian trăng sao ngàn lung linh

Ánh mai vừa chói ngàn tia sáng

Là đấng Như Lai hiện bóng hình.”

       Đức Thế Tôn Thích Ca xuất hiện trên thế gian là ánh hào quang rực sáng, chiếu rọi khắp nhân sinh, xua tan bao u minh đang ngự trị trong tâm hồn của chúng sanh từ vô lượng kiếp. Ngài là ngọn hải đăng cho những người đi trong đêm tối không sợ lầm đường lạc lối; là vị thầy hay chữa lành bịnh thân tâm cho muôn người; là vị cứu tinh của những con người đang bị ngược đãi bởi những kỳ thị sang hèn; giải tỏa những khổ đau của những vị vua vì tham quyền cố vị mà tàn sát tình thâm cốt nhục. Giải cứu, giáo hoá những kỷ nữ đi vào phật pháp chứng được thánh quả, là vị cứu mạng của những đàn thú vật đang đến lò mỗ, thiêu sống...suốt một đời đem thân mạng mình phụng sự tha nhân mà không hề mong được đáp trả. Rồi một sáng tinh sương giữa hai cây Ta la nơi rừng Câu Thi Na thuộc nước …Đức Phật đã vào cõi vô dư tịch tịnh, pháp âm trong bài kinh Di Giáo vẫn là nền tảng để chư đệ tử hành trì tu tập sau khi không còn Như Lai trên trần thế.

         Đức Như Lai như ánh sáng đêm rằm, soi sáng tâm hồn những ai có duyên trực tiếp hoặc gián tiếp được một lần thọ nhận không ít thì nhiều cũng có ích lợi cho thân tâm. Tuy Như Lai không còn hiện diện trên trần thế, nhưng Giáo pháp bắt nguồn từ Ấn Độ vẫn luân lưu tuôn chảy qua các quốc độ, dù văn hóa phong tục địa phương, địa lý, có nhiều tông phái phát triển cách hành trì có khác nhau nhưng mục đích duy nhất là đưa con tu tập người đến chỗ tịnh hoá thân tâm, ví như trăm sông đều đổ về biển  cả,  giáo pháp Như Lai cũng vậy chỉ có một vị duy nhất là giác ngộ giải thoát.

      Chư Lịch Đại Tổ Sư tiếp nối ngọn đuốc, Tổ Tổ tương truyền trãi qua hơn hai mươi lăm thế kỷ, từ Tây Thiên qua Đông Độ đến Việt Nam các nước Á Châu như Thái Lan, Lào, Miến Điện, CamPuChia, hiện tại Phật Giáo đang dần đâm chồi nẩy lộc ở các nước tây phương. Mỗi ngọn đèn, có diệu dụng khác nhau, có ngọn tỏa sáng rực, có ngọn hơi sáng, có ngọn lu lu nhưng tất cả có công năng xua tan màn đêm đen tối. Như các ngôi sao trên trời, có vì sao thì tỏa sáng như các ngôi sao bắc đẩu, nhưng có vì sao không được sáng lắm bởi những vần mây bao phủ. Cũng tùy vào ngày tháng, như những ngày không có trăng thì sao toả sáng hơn, ngày có trăng thì ánh sáng trăng quá lớn, đã che bớt ánh sáng của sao, nhưng không vì thế mà diệu dụng của các vì sao bị giảm đi. Tâm tánh của mỗi chúng sanh cũng thế, ai ai cũng có sẵn bản tính Phật, có người nghe pháp liền tỏ ngộ, như các bậc Thanh Văn thời Đức Phật, nghe Như Lai thuyết pháp liền chứng thánh quả, các bậc Bích Chi Phật quán vô thường thấy hoa rơi lá rụng liền ngộ đạo, còn chúng ta vì nghiệp chướng sâu dày, vô minh bao phủ nên tỉnh đó liền mê, tuy hàng ngày đi nghe giảng nhiều nơi, tu tập nhiều chỗ, nhưng bản tánh tham sân si vẫn còn dẫy đầy. Đức Phật được tôn xưng là bậc toàn giác, còn phàm phu thì gọi là phần giác, nhưng dù nhanh hay chậm trong mỗi chúng sanh đều có sẵn viên minh châu phải nổ lực chuyên cần mài rửa trau dồi nó sẽ rực sáng, còn nếu không thì mỗi  ngày càng  xa dần chơn tâm phật tánh.

        Chư vị Thầy Tổ chúng ta mỗi vị một hạnh không ai giống ai. Có vị thì du phương hành đạo, không kể ngày đêm cực khổ, sống rày đây mai đó, suốt một đời hy hiến thân mình cho đạo pháp không màng danh lợi, không khuất phục uy quyền. Có vị cả đời dịch thuật trước tác kinh sách, có vị vì hạnh nguyện độ sanh giáo dục đàn hậu học mà suốt đời đứng trên bục giảng rao giảng những lời vàng ngọc của Phật Tổ, đưa vô số Tăng Ni hiểu sâu vào phật pháp, trang nghiêm tự thân, để từ đó chánh pháp được đi sâu vào thế gian. Có vị đào giếng đắp đường, có vị thì nhập thất tịnh tu, có vị nuôi trẻ mồ côi làm việc từ thiện xã hội, có vị thì chuyên lau chùi nhà xí, dọn dẹp chùa chiền, quét rác lượm củi, nấu cơm cho đại chúng dung, có vị phát nguyện nuôi chúng ăn học … nhưng mục đích duy nhất là tự thân mình nếm được vị ngọt của chánh pháp, rồi đem những gì mình đã đạt được đến cho chúng sinh để mọi người cùng hưởng pháp lạc an vui trong hiện tại cho đến tương lai. Nhưng các bậc tiền bối làm mà không trụ không chấp vào những việc mình đã làm nên dù có được tôn kính hay bị khinh chê ngược đãi các Ngài vẫn không động tâm, không phải có người khen ngợi ca tụng mới làm nhiều, còn chê trách là bỏ bê lười biếng. Tâm của các vị như như: 

                                                                 “Trời trong cánh nhạn bay qua

Bóng in đáy nước xóa nhòa một khi

Nhạn không để dấu làm chi

Nước không giữ bóng bởi vì vô tâm.”

         Đọc lại hành trạng chư vị Phật, chư vị Tổ Sư chúng ta cúi đầu sát đất đảnh lễ, dù xã bỏ thân mạng cũng không đền đáp được công ơn sâu dày cao quý mà các Ngài đã gian nan tìm ra chân lý vi diệu. Tuy các Ngài đã đi vào cõi Vô Dư Niết Bàn nhưng công hạnh và đạo đức sáng ngời vẫn tỏa rạng trên nền trời Phật pháp, nuôi dưỡng bao thế hệ kế thừa vẫn không ngừng đâm chồi phát triển. Mạch nguồn phật pháp vẫn tỏa rạng tuôn chảy, cho dù có lúc hưng thạnh cũng có lúc suy vi theo vận mệnh nước nhà, nhưng phật pháp là pháp bất định nên tùy theo hoàn cảnh, địa phương, tập quán, phong tục mà uyển chuyển cho thích hợp để tồn tại với thời gian.

     Những vì sao luôn chiếu sáng tâm linh cho những ai nguyện bước theo con đường giải thoát, là ngọn hải đăng cho hành giả trên lộ trình tìm về bản lai diện mục của mình. Ôi những vì sao lung linh huyền diệu trên bầu trời trong xanh, nhưng thật gần gũi bên cạnh những hành giả chân tu thật học. Xin thành kính đảnh lễ nguyện bước theo cho dù trên đường đi có thật nhiều chông gai thử thách, nguyện noi theo từ đây cho đến vô lượng đời vị lai

Không bao giờ thối chuyển.

                                                                                                                                                                       
                                                                                                                                          Thích Nữ Giới Định

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/10/2010(Xem: 9465)
Quyển sách này rất có giá trị đối với người tham thiền, nhưng rất tiếc vì có ý kiến của người biên soạn (Người biên soạn đây chỉ là người sưu tập để xuất bản) xen vào nên làm giảm giá trị quyển sách.
10/10/2010(Xem: 9750)
Quyển sách này trích dịch từ “Lai Quả Thiền Sư Ngữ Lục”. Ngài Lai Quả 24 tuổi xuất gia, 28 tuổi kiến tánh, tịch năm 1953 thọ 73 tuổi. Ngài trụ trì chùa Cao Mân hơn 30 năm, chuyên hoằng Tổ Sư Thiền, phàm có gì chướng ngại sự tham thiền, ngài đều bãi bỏ.
08/10/2010(Xem: 20395)
Phật nói : Lấy Tâm làm Tông, lấy không cửa làm cửa Pháp. Đã không cửa làm sao đi qua ? Há chẳng nghe nói : “Từ cửa vào không phải là đồ quý trong nhà. Do duyên mà được, trước thì thành, sau thì hoại.” Nói như thế giống như không gió mà dậy sóng, khoét thịt lành làm thành vết thương. Huống hồ, chấp vào câu nói để tìm giải thích như khua gậy đánh trăng, gãi chân ngứa ngoài da giầy, có ăn nhằm gì ? Mùa hạ năm Thiệu Định, Mậu Tý, tại chùa Long Tường huyện Đông Gia, Huệ Khai là Thủ Chúng nhân chư tăng thỉnh ích bèn lấy công án của người xưa làm viên ngói gõ cửa, tùy cơ chỉ dẫn người học. Thoạt tiên không xếp đặt trước sau, cộng được 48 tắc gọi chung là “Cửa không cửa”. Nếu là kẻ dõng mãnh, không kể nguy vong, một dao vào thẳng, Na Tra tám tay giữ không được. Tây Thiên bốn bẩy (4x7=28) vị, Đông Độ hai ba (2x3=6) vị chỉ đành ngóng gió xin tha mạng. Nếu còn chần chờ thì giống như nhìn người cưỡi ngựa sau song cửa, chớp mắt đã vượt qua.
08/10/2010(Xem: 5305)
1. Do đâu mà có Thiền Minh Sát? Thiền Minh Sát là một loại thiền căn bản và chính yếu của Phật Giáo Nguyên Thủy. 2. Vipassana nghĩa là gì? Chữ "Vipassana" được chia làm hai phần "Vi" có nghĩa là "bằng nhiều cách" và "Passana" có nghĩa là "nhìn thấy". Vậy "Vipassana" có nghĩa là thấy được bằng nhiều cách khác nhau. (Minh sát).
08/10/2010(Xem: 5087)
Dĩ nhiên chẳng ai muốn đau khổ và mọi người đều cố gắng tìm kiếm hạnh phúc. Khắp nơi trên thế giới nhân loại đang tìm đủ cách để ngăn ngừa hoặc làm vơi đi nỗi đau khổ và tạo an vui hạnh phúc. Tuy nhiên mục đích chính yếu của họ chỉ nhằm tạo hạnh phúc thể chất bằng phương tiện vật chất. Thật ra, hạnh phúc hay không đều do ở tâm của chúng ta. Vậy mà rất ít người nghĩ đến vấn đề phát triển tinh thần. Những người muốn rèn luyện tinh thần lại càng hiếm hoi hơn nữa.
06/10/2010(Xem: 5270)
Có nhiều cách thức để chúng ta tiếp cận với kinh điển. Chúng ta đọc kinh như một tác phẩm văn học để tìm ra những biểu hiện thẩm mỹ của nội dung tư tưởng, hay đọc kinh để hiểu những phạm trù triết học, những tư tưởng ẩn áo mà kinh hàm chứa, v.v… Cách thức nào không quan trọng. Song, một điều mà người học Phật cần phải lưu ý là cái chân lý thường nghiệm thì phi ngôn thuyết; nó có được do sự kinh nghiệm của mỗi ngư
28/09/2010(Xem: 10615)
Bản thân sự đau đớn nơi thân không là yếu tố quyết định duy nhất cho việc có sức khỏe hay không, thậm chí kinh nghiệm vui sướng, do bản chất vô thường...
28/09/2010(Xem: 9537)
Trong khi các luận sư của Hoa nghiêm tông vận dụng những lối trực chỉ của Thiền theo cách riêng của họ, các Thiền sư được lôi cuốn đến nền triết học tương tức tương nhập...
21/09/2010(Xem: 9115)
Đây là bản dịch mới của bài KinhĀnāpānasatisuttamthuộc Tạng Kinh, Trung Bộ, tập III, bài 118. Căn cứ theovăn tự, bản dịch này trình bày một số điểm xét ra có phần khác biệt so với cácbản dịch trước đây. Những điểm này chủ yếu được trình bày ở phần cước chú.
16/09/2010(Xem: 8421)
Khi Thiền sư Thích Nhất Hạnh – năm nay đã 86 tuổi – được giới thiệu trước công chúng tại quảng trường Copley vào chiều Chủ nhật, Thầy bắt đầu bằng hành động ngồi yên và không nói gì trong suốt 25 phút.