Tử quán và Bạch cốt quán

06/07/201815:51(Xem: 7217)
Tử quán và Bạch cốt quán

quan niem ve cai chet
Tử quán và Bạch cốt quán

 

"Bạch cốt": xương trắng

"Quán": dùng tâm mà xem xét

 

Trong Phật giáo, một trong những phép quán mà chư tăng ni thường hành là phép Tử Quán (quán về sự chết) nhằm diệt trừ dâm dục. Sáng và chiều, họ phải thường tự răn nhắc mình về sự bấp bênh của mạng sống, cái chết có thể đến đối với họ bất cứ lúc nào. Lại phải nghĩ tới tình trạng ô nhiễm của bản tâm còn chưa được giải quyết có thể dẫn tới sự tái sanh bất hạnh nếu tử thần đến bất chợt. Như vậy, họ phải dùng tất cả sự quyết định, năng lực, cố gắng, nhẫn nại, không lay chuyển, sự chú tâm với tâm thức trong sáng của mình để diêt trừ các tình trạng xấu ác của bản tâm - chớ không thể chần chờ hay lơ đãng.

 

Đức Phật Thích-ca từng dạy rằng Dâm là cội rễ của Sanh Tử và Dâm dục là kẻ thù nguy hiểm nhất của người tu. "Rất may chỉ có một thứ như Dâm dục, nếu có đôi ba thứ nguy hiểm như nó thì trên thế gian nầy không có một người tu hành nào có thể đắc quả thánh". Do đó Ngài dạy chúng ta pháp môn Bạch cốt quán, là phương tiện mạnh mẽ nhất để diệt trừ lòng dâm.

 

Bạch cốt quán" nghĩa là 'Quán xương trắng', một phép quán trong Lục chủng Tam-muội (sáu phép tu Định) thuộc về Chánh niệm trong Bát Chánh Đạo.

 

Hành giả quán một tử thi từ lúc mới chết đến lúc thành xương tàn cốt rụi, trải qua 9 giai đoạn sau đây:

 

1) Quán thấy thân xác của người chết từ một ngày đến bốn ngày, bị vất bỏ ở bãi tha ma, tím bầm rồi sình chương, chảy nước vàng hôi thúi.

 

2) Quán thấy thân ấy bị diều quạ, kên kên, chó nhà, chó rừng cắn xé - hoặc bị ruồi lằn bu đầy, giòi bò lúc nhúc ở mũi miệng - ai đi ngang qua cũng phải bịt mũi và quay mặt không dám nhìn vì quá kinh tởm.

 

3) Quán thấy cái thân ấy chỉ còn vài mảng thịt túa máu bao lấy bộ xương có gân chịu lại.  

 

4) Quán thấy cái thân chỉ còn là một bộ xương không có thịt, rướm máu và có gân chịu lại.   

 

5) Quán thấy bộ xương còn vài mảng da bọc, hết thịt hết máu và có gân chịu lại.

 

6) Quán thấy bộ xương đã rã rời: đây là xương bàn tay, bàn chân, bả vai - đó là xương đùi bàn tọa - đàng kia là xương sọ, các đốt cột sống, vv...

 

7) Quán thấy bộ xương lâu năm đã tàn rụi, chỉ còn lại những mảnh vụn khô khan trắng hếu như vỏ sò ốc lâu ngày.

 

8) Quán thấy nhiều bộ xương và đầu lâu, chất đống từ năm nầy qua năm kia.

 

9) Quán thấy mớ xương cốt tan thành tro bụi vì đã quá lâu.

 

Trong khi quán tưởng, hành giả xét rằng thân mình và của mọi người, mọi chúng sanh khác - thảy đều chung số phận như thế. Nhờ đó, lòng tham dục nguội dần. Thời đức Phật có nhiều vua chúa, trưởng giả, phú hào nhờ phép quán nầy mà thấy giai nhân mỹ nữ như những thây ma hôi thúi, những bộ xương khô đáng ghê sợ - nhờ đó mà có thể dứt bỏ để xuất gia tu đạo.

 

Tuy nhiên phép quán nầy cũng như các phép quán bất tịnh khác, đều có nguy hiểm: nếu hành quá mức có thể đưa tới chán đời và tự sát - như đã xảy ra cho vài ông tăng thời đức Phật. Sau khi thành công, thì phải quán Không (không dơ không sạch) hay Trung đạo (không ưa không chán) để quân bình tâm thức trở lại.

 

(Thích Phước Thiệt – Nhu liệu Phật học Từ điển Anh-Việt – 6/7/2018

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/11/2010(Xem: 6342)
Tứ thiền (catvāri dhyānāni) là bốn phương pháp thiền định dùng cho cả nội giáo và ngoại giáo cùng tu tập thực hành, nhằm đối trị các lậu hoặc, là nhân siêu việt mọi lưới hoặc nghiệp của dục giới, là quả sinh lên cõi sắc giới, là y địa căn bản nơi sinh ra các công đức, cũng có nghĩa là bốn loại thiền định căn bản sinh ra các thứ công đức; đó chính là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền thuộc Sắc giới
06/11/2010(Xem: 6529)
Sức khỏe đựơc định nghĩa “ là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái (well-being, bien-être) về thể chất, tâm thầnvà xã hội, chớ không phải chỉ là không có bệnh hay tật “ (WHO, Tổ chức sức khỏe thế giới, 1946) . Một định nghĩa như thế cho thấy cái gọi là “sức khỏe” của một con người không thể chỉ khu trú vào chuyện có hay không có bệnh, tật; cũng như không thể đánh giá sức khỏe của một cộng đồng mà chỉ dựa vào tỷ lệ giường bệnh, tỷ lệ bác sĩ…!
06/11/2010(Xem: 6842)
Có một sự nhất quán, xuyên suốt trong lời dạy hướng dẫn kỹ năng thiền định của Phật, từ Tứ niệm xứ (Satipatthàna) tới Thân hành niệm ( Kàyagatàsati), rồi Nhập tức xuất tức niệm (Ànàpànasati), đó là thở: Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn… Tóm lại, đó là luôn bắt đầu bằng sự quán sát hơi thở, đặt niệm (nhớ, nghĩ) vào hơi thở.
31/10/2010(Xem: 10215)
Lịch sử Thiền tông Trung Hoa sơ kỳ xuất hiện với hai tên tuổi tiêu biểu. Một vị đương nhiên là Bồ-đề Đạt-ma, người khai sáng Thiền tông Trung Hoa, và vị thứ hai là Lục Tổ Huệ Năng, người định hướng dòng mạch Thiền tông bắt nguồn từ Tổ Đạt-ma. Nếu không có Tổ Huệ Năng và môn đệ trong tông môn của Ngài thì Thiền tông không thể nào phát huy và hưng thịnh vào đầu đời Đường Trung Hoa. Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ chiếm một vị thế tối quan trọng trong nhà Thiền, và những thăng trầm thuộc về duyên nghiệp mà bộ kinh đã khứng chịu có nhiều điều rất lý thú.
27/10/2010(Xem: 19577)
Tu thiền là thực hiện theo nguồn gốc của đạo Phật. Vì xưa kia, Đức Phật tọa thiền suốt bốn mươi chín ngày đêm dưới cội bồ đề mới được giác ngộ thành Phật. Chúng ta là Tăng Ni, Phật tử học giáo lý của Phật thì phải đi theo con đường mà Phật đã đi, không đi con đường nào khác, dù đường ấy người thuyết giảng nói linh thiêng mầu nhiệm, chúng ta cũng không theo. Chúng ta cần phải giảng trạch pháp thiền nào không phải của Phật dạy và pháp thiền nào của Phật dạy, để có cái nhìn chính xác, để tu và đạt được kết quả tốt đúng với giáo lý mà mình đã tôn thờ.
19/10/2010(Xem: 6612)
Phép quán niệm hơi thở, nếu được phát triển và thực tập liên tục, sẽ đem lại những thành quả và lợi lạc lớn, có thể làm thành tựu bốn lĩnh vực quán niệm; bốn lĩnh vực quán niệm nếu được phát triển và thực tập liên tục, sẽ làm thành tựu bảy yếu tố giác ngộ; bảy yếu tố giác ngộ nếu được phát triển và thực tập liên tục sẽ đưa tới trí tuệ và giải thoát
18/10/2010(Xem: 7802)
Thiền là phương pháp tu hành chủ yếu của nhà Phật. Khi Đức Phật Thích Ca còn tại thế, các đệ tử của Ngài đều lấy việc hành thiền làm cơ bản. Các phương pháp hành thiền này đều nương theo các kinh, luật và luận đã thuyết; như thiền Quán niệm hơi thở, thiền Tứ niệm xứ, Thiền na Ba la mật v.v...Tu các pháp thiền này được chứng nhập tuần tự theo thứ bậc, tùy theo trình độ và thời gian hành trì của hành giả. Loại thiền này được gọi là Như Lai Thiền. Còn Tổ Sư Thiền thì ngược lại không có thứ bậc, là pháp trực tiếp chỉ thẳng vào bản thể chân tâm Phật tánh.
16/10/2010(Xem: 6975)
Sự chia rẽ giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa trầm trọng ở mức độ nào? Sao bên nào cũng tự nhận là đi đúng đường và cao siêu hơn? Và tại sao Phật từng nói trong Kinh Pháp Hoa, Đại Thừa là hạt giống rắn chắc, khác với Tiểu Thừa là hàng thấp thỏi, trình độ kém, như vậy Phật đã xếp hạng giữa hai phái, vậy mà Tiểu Thừa vẫn tự nhận là Nguyên Thuỷ đúng lời Phật dạy
12/10/2010(Xem: 7559)
Niêm hoa vi tiếu: nói đầy đủ là: "Thế tôn niêm hoa, Ca Diếp vi tiếu." Nghĩa là: Đức Phật Thích Ca cầm cái hoa đưa lên, ông Ma Ha Ca Diếp mỉm cười.
12/10/2010(Xem: 9226)
Thiền sư Đạo Nguyên Hy Huyền (Dogen Kigen, 1200-1253) là khai tổ tông Tào Động Nhật Bản. Năm 1224 sư sang Trung Hoa học đạo với thiền sư Thiên Đồng Như Tịnh (1163-1228) là tổ tông Tào Động đời thứ 15. Sau khi được thầy ấn chứng, sư trở về Nhật Bản vào năm 1228.