Mặt Trời Nữa Đêm

28/03/201320:48(Xem: 1888)
Mặt Trời Nữa Đêm

PL 2544 – DL 2000

MẶT TRỜI NỬA ĐÊM

Kim Đài

Thơ thiền

A DI ĐÀ

A Di Đà tất cả pháp

Tất cả pháp A Di Đà

Chẳng quản trời cao đất thấp

Búng tay, cõi nước bày ra

CHÚA XUÂN

Tặng Trần Nhân Tông hoàng đế

Thuở nhỏ đâu từng biết chúa Xuân

Cứ theo xác pháo chạy tung tăng

Chúa Xuân nay đã về ngự trị

Pháo cuối làng xa nổ đì đùng

THU HÚ

Thu hú! Thu hú

Chẳng khách chẳng chư

Vỡ nát càn khôn

Thu hú! Thu hú!

TIỄN BIỆT

Tiễn sư ra phi trường

Hương nào hương cố hương?

Sắc nào sắc ly sắc?

Chương nào chương phi chương?

HOÀNG HÔN

Giòng sông xanh

Một con thuyền

Neo ở đầu bờ

CHIỀU TÀN

Con chồn hoang

Nhảy vào bụi rậm

“Soạt!”

THU HÚ

Thu hú! Thu hú!

Trên đảnh chẳng trú

Dưới đáy không trầm

Thu hú! Thu hú!

BÌNH MINH

Sóng bủa vào bãi đá

Hàng dương reo rì rào

Một con chim bổ cá

Đâm mình xuống biển sâu

THU SANG

Lá ngô đồng

Rụng xuống mặt hồ

Chiều thu sang!

THU HÚ

Thu hú! Thu hú!

Ngàn câu muôn cú

Là lời vô ngôn

Thu hú! Thu hú!

NGHÉ

Đồi cỏ non

Con nghé gọi mẹ

“Nghé! Nghé!”

MÂY TRẮNG NÚI XANH

Nơi trắng không trắng

Nơi xanh không xanh

Trắng xanh như huyễn

Mây trắng núi xanh

THU HÚ

Thu hú! Thu hú!

Là mới là cũ?

Là có là không?

Thu hú! Thu hú!

NƯỚC DỐC

Dòng thác đổ xuống vực sâu

Một con cò

Đậu trên mõm đá

THU HÚ

Thu hú! Thu hú!

Là thu là hú?

Là hú là thu?

Thu hú! Thu hú!

HỪNG SÁNG

Mặt trời vừa mới ló

Biển xanh nghìn sóng vỗ

Con vạc bay lững lờ

“Vạc! Vạc!”

SẮC THINH

Sắc kia đâu tự sắc

Thinh kia đâu tự thinh

Một niệm phi thinh sắc

Thân đáo pháp vương thành

THU HÚ

Thu hú! Thu hú!

Thánh phàm chẳng trụ

Thoát thể vô y

Thu hú! Thu hú!

CHIỀU QUÊ

Cô gái quê

Quảy đôi thùng nước trên vai

Bên hàng dậu

THU HÚ

Thu hú! Thu hú!

Đêm ôm Phật ngủ

Ngày cùng Phật đi

Thu hú! Thu hú!

TRĂNG NƯỚC

Trăng ấy là trăng nước

Nước ấy là nước trăng

Nước trăng như hoa đốm

Trăng chiếu khắp mười phương

THU HÚ

Thu hú! Thu hú!

Hữu cú vô cú

Cây ngã bìm khô

Thu hú! Thu hú!

SUỐI THIỀN

Chuông xa thoáng động mặt hồ

Vừng trăng lơ lững lững lơ đầu ghềnh

Cội già trơ gốc chênh vênh

Sư ông ngồi giữa suối thiền cô đơn

THU HÚ

Thu hú! Thu hú!

Vi diệu thần chú

Linh dược nhiệm mầu

Thu hú! Thu hú!

VÔ VÔ VÔ

Con chó có Phật tánh không?

Nếu mà nói có nói không cũng thừa

Sáng nay đi dạo vườn dưa

Chó đâu chạy đến sủa bừa một hơi

THU HÚ

Thu hú! Thu hú!

Đói ăn mệt ngủ

Tu cùng chẳng tu

Thu hú! Thu hú!

TRĂNG THẬT

Ngón tay chỉ mặt trăng

Ngón tay không phải trăng

Vậy đâu là trăng thật?

Hét!

MƯA ĐÊM

Đầu thềm tí tách

Phi chủ phi khách

Ngói bể băng tan

Tí tách! Tí tách!

BỊP

Đầm sen nở rộ

Thỏ rừng gặm cỏ

Bìm bịp kêu vang

“Bịp! Bịp! Bịp! Bịp!”

MÂY NƯỚC

Kim Đài mở nước mây

Mới hay mây nước leo cây thuở nào

HOA LAN

Ô kìa!

Một đóa phong lan hé nụ

Trên cội thông già

THU ĐẾN

Nhạn kêu

từ đâu vẳng lại

Thu đến rồi!

ĐỐM LỬA

Một đốm lửa phát ra

bên sườn núi

Đêm tối mịt mùng

GIUN DẾ

Cái nghe cái thấy không còn

Con giun con dế cũng đồng ông tiên

RỬA BÁT

Ăn bánh

Uống trà

Rửa bát

Quét nhà

bửa củi

gánh nước

thì chẳng hỏi.

Chỉ hỏi:

“Thế nào là rửa bát?”

TÂM PHÁP

Tâm pháp như nhiên

Vạn cổ huy huyền

Thủy lưu sơn đảnh

Hoa vũ mãn thiên

THIỀN ẤN

Thiền ấn tịnh quang

Phổ chu sa giới

Liên Trì tuyên hội

Bát nhã diễn âm

XUÂN DI LẶC

Mỗi người có một xuân

Ấy là Xuân Di Lặc

Không tước cũng không huân

Vô thinh cũng vô sắc

Không trẻ cũng không già

Chẳng được cũng chẳng mất

Chẳng đến cũng chẳng đi

Không thêm cũng không bớt

Chẳng lý cũng chẳng đào

Phi chủ lẫn phi khách

Bày đặt liền mất xuân

Vì xuân đâu bày đặt?

Thể tánh vốn như nhiên

Xưa nay trong vằng vặc

Đâu chỉ là một xuân

Mà Xuân vô cùng cực

ĐỘC THOÁT

Bổn lai thường minh liễu

Không trung điểu xuyên du

Đàm thanh thầm ảnh chiếu

Hà tung tích xuân thu?

Động tĩnh hàm chu

Tướng tâm câu triệt

Thư chi ngọa chẩm Lăng Già Nguyệt

Sạ văn hinh hướng dã lan phu

LỘ

Thu hồ tịch mặc

Độc mộc cô tôn

Tâm nguyệt quang thôn

Tỳ bà huýnh thoát

MƯỜNG LĂNG

Người buổi ấy ra đi từ lịch kiếp

Sao không về một ngụm hớp Tây Giang?

Loài chim nhỏ theo hừng đông lảnh lót

Mường Lăng ôi! Hoa lá rụng bao lần …

Cây có cội từ hàn nham thiết cốt

Sông có nguồn từ sa mạc cô liêu

Nhựa đã chảy trên tàng cây khô chết

Máu đã lưu từ xác vữa thiên triều

Ta đã hái ngàn hoa từ thạch thảo

Xin nhớ cho dù bao kiếp thăng trầm

Loài chim ấy một lần qua hải đảo

Mường Lăng ôi! Hoa lá rụng âm thầm …

NẾU AI HỎI

Nếu ai hỏi: “Tên em là gì nhỉ?”

Xin thưa rằng: “Mây trắng và trời xanh”

Xin đạp nát thiên đường cùng ngạ quỷ

Để tên em sáng chói vạn kinh thành

Nếu ai hỏi: “Em tròn bao nhiêu tuổi?”

Xin thưa rằng: “Ba ba tắm trăng rằm”

Xin đếm bước đầu tiên là cùng cuối

Để tuổi em tròn nụ với môi hồng

Nếu ai hỏi: “Nơi nào em đang ở?”

Xin thưa rằng: “Em đang ở trong anh”

Xin xóa hết những ngày xưa lầm lỡ

Để về đây trùm chăn ngủ ngon lành.

KINH KIM CƯƠNG

Nhược kiến chư tướng phi

Tướng tức kiến Như Lai

(Nếu thấy các tướng không

Ngay tướng tức Như Lai)

GHI CHÚ:

Một hôm Kim Đài tụng kinh Kim Cương đến câu: “Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai”, liền phá cú đọc như trên, hội Bát Nhã vẫn nghiễm nhiên như xưa!

AI NIỆM A DI ĐÀ

Niệm Phật là ai?

Gà gáy ò o

Chân duỗi chân co

Mây Nam, núi Bắc

TÂM

- Mở lối:

Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác

Rất bình thường, không tạo tác

Suối reo, lá rụng toàn chơn

Chớ còn nghi ngờ gì khác

- Khảo xét:

Đưa gậy lên hỏi: - Thấy chăng?

Đập vào bàn hỏi: - Nghe chăng?

Có thấy có nghe, ngoài tâm có vật.

Không thấy không nghe, trong nước chết chìm.

- Thấu thoát:

Nói được, ăn 30 gậy.

Nói không được, ăn 30 gậy.

SAU RẰM

Sau rằm là ngày mấy?

Đồi Lâm Viên cỏ cháy

Vượn đầu non hú dài

Trong chăn, bọ chét quậy

VÔ SỰ

Các pháp đều không liên hệ

Chỉ do sanh tâm tồi tệ

Nay nếu một niệm chẳng sanh

Ấy là “Bà già bà đế”.

SARA ERIKSSON

Sweden, a country of peace

A nice girl went to Vietnam

Read loudly herself a question of heat

Ah! Who am I before concept?

KHO BÁU

Nhà mình xưa nay sẵn đủ

Đâu cần những thứ nào thêm

Buông hết những gì đang có

Núi Sam riêng đứng một mình

THẤY LÌA THẤY

Thấy chẳng do mắt

Nghe chẳng do tai

Thấy nếu lìa thấy

Liền thấy Kim Đài

CHẲNG NHẬN

Phiền não cũng chẳng nhận

Thiền định cũng chẳng nhận

Xưa nay vốn là ông

Còn tin tức nào nữa?

TRĂNG TRÒN

Xưa vốn không sanh

Nay cũng chẳng diệt

Như trăng tròn vành

Chưa từng khiếm khuyết

ĐÊM ĐẬU BẾN PHONG KIỀU

Tặng Trương Kế

Quạ kêu, trăng lặn, sương dày

Giấc sầu len lói đèn chài bờ phong

Cô Tô thuyền đậu bên dòng

Nửa đêm vọng tiếng Hàn San chuông rền

KỆ PHÁP

Gánh nước là bồ đề

Bửa củi là gương sáng

Các pháp vốn chẳng diệt

Bụi trần cũng chẳng sanh

TRỨNG VÀ GÀ

Tăng hỏi”

- Gà và trứng, cái nào có trước?

Kim Đài đáp:

- Khi có trứng thì có gà

Khi không trứng thì không gà.

Kệ: Khi có đồng thời có

Khi không đồng thời không

Trước sau đều chẳng lập

Hiển lộ chủ nhân ông.

TÂM VŨ TRỤ

Tăng hỏi:

- Đâu là tâm của vũ trụ?

Kim Đài đáp:

- Vũ trụ vô tâm

THE POEM OF SATORI

The road at the bottom of Won Gak mountain is not the present road

The man climbing with his backpack is not a man of the past

tok, tok, tok – his footsteps

transfix past and present

Crows out of a tree caw, caw, caw

Seung Sahn

The whole world is a single flower

page 229

Viên Giác sơn hạ phi Kim lộ

Bối khỏa hành khách, phi cổ nhơn

Trạc, trạc! Lý thanh quán cổ kim

Khả, khả! Ô thanh phi thượng thụ

Sùng Sơn

Đường dưói núi Viên Giác – không NAY

Khách vác đồ lên non – không XƯA

Chân bước suốt xưa nay: “Tốc! Tốc!”

Quạ bay lên cây kêu: “Quạ! Quạ!”

Kim Đài

MỘNG MỊ

Từ sanh đến tử chỉ là

Một tràng mộng mị dối ta dối người

“Mặt trời nửa đêm”, bút pháp của chính tác giả, viết xong ngày ba mươi tháng chạp, hòa âm cùng núi biếc mây ngàn …


---o0o---

Trình bày: Anna

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/04/2013(Xem: 6929)
Trong môn họa truyền thống của Trung Quốc (thường được gọi là Quốc Họa) ta thường bắt gặp những chủ đề ước lệ quen thuộc được thể hiện với màu sắc đậm nhạt thích mắt, thậm chí những màu tươi vui sặc sỡ. Các chủ đề này lặp đi lặp lại đây đó đến mức sáo mòn, đại loại như hoa (đào, mai, lan, cúc, sen, thủy tiên, mẫu đơn, tử đằng, quỳnh) ...
22/04/2013(Xem: 12393)
Tại các quốc gia Âu Mỹ, pháp thiền trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy thường được hiểu như là pháp thiền minh sát, cho đến nổi có nhiều người thực hành trong truyền thống này xem mình như là các thiền giả minh sát. Tuy nhiên, các bản kinh Pali -- tài liệu cổ xưa ghi lại các bài giảng của Đức Phật, không xem thiền minh sát như là một hệ thống tu thiền độc lập nhưng là một thành tố của một cặp kỷ năng hành thiền gọi là Samatha và Vipassanà, An Chỉ và Minh Quán -- hay Chỉ và Quán.
22/04/2013(Xem: 8206)
Cảnh ngữ là tỉnh giác, hoặc gọi là kinh sợ. Ví như có kẻ trộm dòm ngó nhà cửa, chủ nhãn ban đêm đốt đèn ngồi đàng hoàng giữa nhà, đằng hắng ra tiếng, kẻ trộm sợ hãi chẳng dám lén vào. Nếu vừa ngủ quên thì kẻ trộm thừa cơ lẻn vào cướp đoạt của cải ...
10/04/2013(Xem: 9056)
Trong đời sống tâm linh của thế giới phương Tây, một thế giới đầy năng động của sự thay đổi và sáng tạo, đạo Phật được ươm mầm và khởi sắc khiêm tốn như một đóa hoa sen trong cái hồ Tây mênh mông dậy sóng. Con người vừa thức dậy sau giấc ngủ dài từ thời Trung Cổ. Những đầu óc tiền phong khai phá đi tìm một sự lý giải rạch ròi hơn cho thế giới thể chất và tâm hồn.
09/04/2013(Xem: 9904)
Thiền định , thiền quán và thiền định thiền quán song tu, hay nói gọi theo thời xưa là Chỉ, Quán và Chỉ Quán song tu, của Đại thừa được đặt trên thực tại tối hậu mà các kinh thường gọi là Thật tướng của tất cả các pháp.
08/04/2013(Xem: 8654)
Nhằm hướng dẫn đệ tử tu tập đạt được hiệu quả tốt nhất, Ðức Phật đã linh động vận dụng trí tuệ trình bày bằng những ví dụ vừa thực tế, vừa sống động, mang tính hấp dẫn và đầy tính khả thi. Sau đây, soạn giả xin giới thiệu một số ví dụ để độc giả nào tha thiết tìm hiểu giáo lý thâm diệu ...
08/04/2013(Xem: 9289)
Từ khi Tổ Bồ-đề-đạt-ma qua Trung quốc truyền tâm ấn đạo lý giác ngộ theo truyền thuyết thì sơ Tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền cho vị đệ tử kế thừa là ngài Thần Quang Huệ Khả bộ kinh Lăng-già tâm ấn. Nhưng phải chờ đến hơn ba trăm năm sau và qua sáu vị Tổ thì đạo giác ngộ mới nở hoa kết trái. Tuy nhiên hạt giống của Tổ Bồ-đề-đạt-ma gieo trên đất Trung Hoa là kinh Lăng-già nhưng nở hoa kết trái lại là kinh Kim cang. Tại sao lại có sừ sai biệt như vậy, dù rằng cả hai bộ kinh đều do Như Lai Thế Tôn thuyết giảng.
08/04/2013(Xem: 9862)
Khi còn trong bụng mẹ, chờ đợi được sinh ra con người đã phải quờ quạng tự muốn giải thoát khỏi tù túng tối tăm này. Và rồi khi chào đời, con người lại tiếp tục quờ quạng muốn giải thoát những trói buộc phiền lụy cuộc đời. Như thế đó, cả hai hoàn cảnh trước khi được sanh ra, sau khi có mặt, con người đều nằm trong vòng cương tỏa mất tự tại an lạc.
08/04/2013(Xem: 10617)
Dưới đây là ba bài pháp ngắn do Ngài Thiền sư Mahasi Sayadaw giảng cho các cư sĩ Phật tử tại vương quốc Nepal trong dịp Ngài sang dự lễ đặt viên đá đầu tiên tại công trường Lâm Tì Ni vào tháng 11 năm 1980.
08/04/2013(Xem: 14329)
Lời Dẫn Nhập: Đây là bản dịch mới của bài Kinh Ānāpānasatisuttam thuộc Tạng Kinh, Trung Bộ, tập III, bài 118. Căn cứ theo văn tự, bản dịch này trình bày một số điểm xét ra có phần khác biệt so với các bản dịch trước đây. Những điểm này chủ yếu được trình bày ở phần cước chú.