Chương II

02/05/201317:20(Xem: 12301)
Chương II

TÂY PHƯƠNG NHỰT KHÓA
HT. Thích Thiền Tâm
Soạn thuật
---o0o---

PHẦN II

NGHI-THỨC HÀNH-TRÌ

(SỰ HÀNH-TRÌ)

TÂY-PHƯƠNG NHẬT KHÓA

MẬT-TỊNH PHÁP-NGHI.

ÐÀN PHÁP

ÐÔI LỜI căn-dặn ........

Bắt đầu từ đây trở về sau là phần nghi-thức hành-trì (SỰ hành-trì) của pháp-môn MẬT-TỊNH SONG-TU trong quyển Tây-phương Nhật-khóa nầy.

Các liên-hữu hãy cố-gắng để-tâm và lưu-ý đến những lời chỉ-dẫn của soạn-giả để hành-trì cho đúng theo pháp-thức, hầu dễ-dàng phát-sanh ra hiệu-nghiệm hơn ........

Nguyên-bản của Vô-Nhất Ðại-Sư THÍCH THIỀN-TÂM Hòa-Thượng soạn ra – Vì để gây nên sự dễ-hiểu cho các Phật-tử trẻ tuổi hấp-thụ theo nền tân-học Tây-phương thời nay vốn không hiểu nhiều về chữ Hán (âm Hán-văn) – nên trong pháp nghi soạn ra ngài chỉ dùng toàn văn Nghĩa (Việt-nghĩa) để cho mọi người khi xem đến, khi hành-trì đến ... đều có thể hiểu rõ lời kinh và pháp-ý mà phát-tâm phấn-khởi tu tập thêm hơn.

Tuy-nhiên ........

Thể theo lời yêu cầu của một số Phật-tử lớn tuổi theo trường-phái xưa, hiểu-biết Hán-văn và ưa-thích cách đọc-tụng theo âm-Hán-Việt, nên tôi cho ghi thêm vào đây một vaøi phần âm Hán-Việt (kế bên) hầu được tiện-dụng hơn.

Vậy nên:

- Các liên-hữu có thể đọc-tụng và hành-trì “Tây-phương nhật-khóa, Mật-Tịnh pháp-nghi” nầy hoặc là theo Việt-Nghĩa, hoặc là theo cách ÂM, NGHĨA phối-hợp (như trong nghi-thức), tuỳ theo sở-thích của riêng mình, miễn sao cho được thích-hợp là tốt nhất.

Ðiều cần-thiết là phải nên chí-thành, trân-trọng trong lúc hành-trì.

Có như vậy mới thu-hoạch được nhiều lợi-lạc trên bước đường tu.

Bái-bạch. –

PHÁP-HOA Tự Tucson, Arizona.

Niệm Phật Tăng

Sa-môn THÍCH HẢI-QUANG.

(Cẩn-bút)

CHƯƠNG II

MẬT-TỊNH NGHI-THỨC

(HÀNH-TRÌ)

TIẾT I. LỜI DẶN CỦA SOẠN-GIẢ

Từ đây trở về sau........

Những đoạn nào có kép vòng đơn, là các lời căn-dặn hoặc dẫn-giải, in bằng chữ nhỏ. Chữ lớn là phần daønh để xướng-tụng và hành-trì.

Trải qua nhiều năm kinh-nghiệm, tệ-nhơn xét thấy các hành-giả thời nay có những ma-chướng, mà đạo-lực kém-yếu của phần đông người thời mạt-pháp khó nổi vượt qua. Ðó là những ma-chướng nội-tâm(1) ma-chướng ngoại-cảnh(2) và ma-chướng thuộc giới vô-hình(3).

Vì thế........

Sau khi nghiên-cứu trong Ðại-tạng (kinh), tệ-nhơn đã dựa vào kinh-nghiệm của chính mình và nhiều hành giả (4) khác thuật lại, dung-hợp môn tu Tịnh-độ thuộc Mật-giáo(5) cùng Hiển-giáo(6) soạn ra nghi-thức nầy.

Trong đây tệ-nhơn chỉ chú-trọng về sự khái-quát đơn-giản, lời văn tuy gọn mà ý-tứ đầy-đủ. Pháp-nghi nầy được chia ra làm ba phần:

a. Lễ-bái, sám-hối.

b. Trì-chú niệm Phật.

c. Phát-nguyện, hồi-hướng.

Xin lưu-ý:

- Pháp-nghi chỉ là hình-thức, là khuôn-mẫu, để cho “hành-giả” nương vào nơi sự-tướng mà tiến-tu hướng về chơn-cảnh(7), còn tiến-trình sâu hay cạn, thấp cùng cao, công-đức ít hay nhiều v.v... còn tùy theo nơi tâm chí-thành và sứ trì-niệm của các hành-giả.)

Trân-trọng. –

TIẾT II: PHẦN LỄ-BÁI VÀ SÁM-HỐI

(Dặn:

- Trước tiên rửa sạch tay, mặt.

- Lễ phục nghiêm-chỉnh(8).

- Khi đến nơi đạo-tràng, nơi lễ tụng ... thì:

a. Hành-giả tay trái dùng ấn “Kiết-tường” (xem đồ-hình, ấn-quyết và chú-giải) vẽ chữ RẢM

ram

sắc trắng vào trong lòng bàn tay mặt 3 lần. Kế đến tay mặt cũng kết ấn “Kiết-tường” vẽ vào lòng bàn tay trái y như vậy.

(Ý-nghĩa của việc làm nầy như sau:

- Bởi vì tay ta thường dơ-bẩn nên phải dùng chữ RẢM màu trắng để rửa cho sạch trước khi bắt ấn, trì chú – Chữ RẢM là tiếng Phạn hàm-ẩn ý-nghĩa cuûa sự thanh-tịnh, còn màu trắng là tượng-trưng cho sự trong sạch).

b. Kế tiếp đốt hương rồi bước lui lại, chắp tay đứng (hoặc quỳ) trước bàn Phật, đọc bài kệ tán sau đây:

batan

-Ấn-quyết:(Cách bắt ấn)

- Ngón tay cái nắm co đầu ngón vô-danh (áp-út).

- Ba ngón còn lại: trỏ, giữa và út duỗi thẳng ra là thành ấn.

Ấn nầy còn được gọi bằng một tên phổ-thông nữa là: Quan-Âm ấn.

KỆ TÁN PHẬT:

(Bài kệ khen-ngợi Phật).

(Hành-giả phải chí-thành cung-kính, hoặc đứng, hoặc quỳ. Chấp tay đọc bài kệ sau đây):

(VIỆT-NGHĨA):

Sắc thân PHẬT mầu đẹp,

Trong đời không ai bằng.

Khó sánh-ví, nghĩ bàn,

Nên nay con đảnh-lễ. (1 lạy)

Sắc thân PHẬT vô-tận,

Trí-huệ cũng như thế.

Tất-cả pháp thường-trú, (9)

Nên nay con quy-y. (1 lạy)

Bi, trí, nguyện-lực lớn,

Ðộ khắp cả hàm-linh. (10)

Khiến bỏ thân nhiệt-não,

Sanh về cõi thanh-lương. (1 lạy)

Nay con tịnh ba nghiệp, (11)

Quy-y và lễ tán.

Nguyện cùng các hữu-tình, (12)

Ðồng sanh về Cực-lạc. (1 lạy)

(Hành giả cũng có thể đọc bài kệ tán khác mà mình thích).

(Sau đây là phần Âm Hán-Việt. Hành-giả chỉ cần đọc, tụng một trong hai phần –Hoặc Âm hoặc nghĩa mà thôi)

Như-lai diệu sắc thân,

Thế-gian vô dử-đẳng.

Vô-tỉ, bất tư-nghì,

Ngã kim quy-mạng lễ. (1 lễ)

Như-lai sắc vô-tận,

Trí-huệ diệc phục-nhiên.

Nhất-thiết pháp thường-trú,

Thị cố ngã quy-y. (1 lễ)

Ðại-trí, đại-nguyện lực,

Phổ-độ ư quần-sinh.

Linh-xả nhiệt-não thân,

Sanh bỉ thanh-lương quốc. (1 lạy)

Ngã kim tịnh tam-nghiệp,

Quy-y cập lễ tán.

Nguyện cộng chúng hữu-tình,

Ðồng sanh An-dưỡng quốc. (1 lạy)

PHỔ-LỄ CHƠN-NGÔN:

AUM ! VÀJRA MÙD. (7 lần)

(Um, va ji ra, mật)

(DẶN:

- Trong khi tụng chú nầy, hành-giả dùng tay kết ấn “KIM-CANG HIỆP-CHƯỞNG” để ngay trên đỉnh-đầu (xoáy-tóc).

Theo Mật-giáo (mật-tông), hành-giả nên nhắm mắt lại, để tâm yên-lặng, thanh-tịnh – Xong quán-tưởng thân mình hiện ra khắp pháp-hội ở mươøi phương, lễ kính chư PHẬT.

Xong rồi thì xả ấn ra (ngay trên đảnh đầu)

Sau đây là ẤN-QUYẾT:

(cách bắt ấn)

- Hai tay chắp lại,

- Hữu áp tả,

(Tức là các ngón tay mặt đè lên các ngón tay trái)

- 10 ngón tay để so-le nhau,

- Cả 10 ngón tay đều Ngoại xoa(đưa ra bên ngoài)

(Xem đồ hình ấn dưới đây)

phole

(Kế tiếp hành-giả đứng ngay-ngắn trước bàn Phật – Nghiêm-chỉnh, chắp tay, mắt chăm nhìn vào tượng PHẬT – Ðọc phần đảnh-lễ như sau)

(VIỆT-NGHĨA)

1. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Hoằng-dương môn TỊNH-ÐỘ,

THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT,

Trăm ngàn ức hóa-thân,

Khắp pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lạy).

2. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Thường-tịch quang Tịnh-Ðộ,

A-DI-ÐÀ Như-Lai,

Pháp-thân mầu thanh-tịnh,

Khắp pháp-giới chư Phật.

(Chuông – 1 lạy).

3. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Thật-báo trang-nghiêm độ,

A-DI-ÐÀ Như-Lai,

Thân tướng hải vi-trần,

Khắp pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lạy).

4. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Phương-tiện Thánh cư độ,

A-Di-ÐÀ Như-lai

Thân trang-nghiêm giải-thoát,

Khắp pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lạy).

5. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc Phương Tây,

A-DI-ÐÀ Như-Lai,

Thân căn-giới đại-thừa,

Khắp pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lạy).

6. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc Phương Tây,

A-DI-ÐÀ Như-Lai,

Thân hóa đến mười phương,

Khắp pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lạy).

7. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc phương Tây,

Giáo, hạnh, lý ba kinh,

Y, chánh đều tuyên-dương,

Khắp pháp-giới tôn PHÁP.

(Chuông – 1 lạy).

8. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc phương Tây,

QUÁN THẾ-ÂM Bồ-tát,

Thân tử-kim muôn-ức,

Khắp pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lạy).

9. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc phương TÂy,

ÐẠI THẾ-CHÍ Bồ-tát,

Thân, trí sáng vô-biên,

Khắp pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lạy).

10. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc phương-Tây,

VĂN-THÙ Ðại Bồ-tát,

Thân thị-hiện Trí-mầu,

Khắp pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lạy).

11. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc phương Tây,

PHỔ-HIỀN Ðại Bồ-tát,

Thân hạnh, nguyện sát-trần,

Khắp pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lạy).

12. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Cõi Cực-Lạc phương Tây,

Thanh-Tịnh Ðại-hải chúng,

Thân phước-trí trang-nghiêm,

Khắp pháp-giới thánh-chúng.

(Chuông – 1 lạy).

(Sau đây cũng là phần đảnh-lễ trên, được diễn theo ÂM Hán-Việt – Hành-giả chỉ cần đọc một trong hai phần nầy hoặc ÂM hoặc NGHĨA mà thôi).

(HÁN-VIỆT)

1. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Hoằng-dương môn TỊNH-ÐỘ,

THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT,

Thiên, bá, ức hóa thân,

Biến pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lễ).

2. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Thường-tịch quang Tịnh-Ðộ,

A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI,

Thanh-tịnh diệu pháp-thân,

Biến pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lễ).

3. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Thật-báo trang-nghiêm độ,

A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI,

Vi-trần tướng hải thân,

Biến pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lễ).

4. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Phương-tiện Thánh cư-độ,

A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI,

Giải-thoát tướng nghiêm thân,

Biến pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lễ).

5. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI,

Ðại-thừa căn-giới thân,

Biến pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lễ).

6. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI,

Thập-phương hóa vãng-thân,

Biến pháp-giới chư PHẬT.

(Chuông – 1 lễ).

7. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

A-DI-ÐÀ NHƯ-LAI,

Giáo, Hạnh, LÝ, tam kinh,

Cực y, chánh tuyên-dương,

Biến pháp-giới tôn PHÁP..

(Chuông – 1 lễ).

8. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

QUÁN THẾ-ÂM Bồ-tát,

Vạn ức tử kim thân,

Biến pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lễ).

9. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

ÐẠI THẾ-CHÍ Bồ-tát,

Vô-biên quang-xí thân,

Biến pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lễ).

10. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

VĂN-THÙ Ðại Bồ-tát,

Trí-mầu thị-hiện thân,

Biến pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lễ).

11. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

PHỔ-HIỀN Ðại Bồ-tát,

Hạnh-nguyện sát-trần thân,

Biến pháp-giới Bồ-tát.

(Chuông – 1 lễ).

12. NHỨT-TÂM ÐẢNH-LỄ:

Tây-phương An-lạc độ,

Thanh-Tịnh đại-hải chúng, ��

Phước, Trí nhị nghiêm thân,

Biến pháp-giới thánh-chúng.

(Chuông – 1 lễ).

(Dặn:

- Kế tiếp (Sau phần hoàn-tất 12 lễ nầy xong, hành-giả quỳ xuống trước bàn Phật, chắp tay, chí-thành, đọc bài kệ Sám-hối sau đây):

Quy-mạng mười phương PHẬT,

Tôn PHÁP, hiền-thánh TĂNG,

Tam-thánh cõi Cực-Lạc,

Xin thương-xót chứng-minh,

Vô-thỉ kiếp đến nay,

Con mê lạc luân-hồi.

Do bởi tham, sân, si,

Từ nơi thân, khẩu, ý.

Tạo tứ-trọng, ngũ-nghịch,

Thập ác, vô-biên tội.

Nay đem tâm chí-thành,

Tỏ bày cầu sám-hối.

Nguyện nhớ sức gia-trì,

Thân-tâm đều thanh tịnh.

Xin phát đại Bồ-đề,

Ðộ mình, người giải-thoát.

(Chuông – 1 lạy).

Ðệ-tử (đọc pháp-danh lên) Sám-hối, phát-nguyện rồi, chí-tâm đảnh-lễ Tam-bảo.

(Chuông – lạy 3 lạy)

--------------------------------------------------------

(1)- Ma-chướng:Những gì gây trở-ngại cho việc phát-triển căn lành của mình thì đều gọi là ma. (như buồn ngủ làm cho tu không được thì gọi là ma buồn ngủ ... ma làm biếng, ma sân-hận, ma si-mê, vv...)

(2)- Ma-chướng ngoại-cảnh: Tức là ma bên ngoài, có hình-tướng có danh-sắc. Ðây là các sắc (tướng)ma. Trong ngủ-ấm ma thì nó đứng đầu (SẮC). Loại ma nầy có vô-lượng tướng-dạng.

(3)- Ma-chướng thuộc giới vô-hình:là các loại ma không có hình-tướng vật chất. Như là hồn-linh, ma quỷ. Ở đây soạn-giả muốn nói đến các loài thiên ma tức là Ma-vương và các thuộc-hạ ở cung trời Tha-Hóa tưï-tại.

Ngoài ra còn thêm 10 loại ma khác như sau:

- Ngủ-ấm ma (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức).

- Phiền-não ma (Tham, sân, si).

- Nghiệp ma (các ác-nghiệp quá khứ hoặc hiện taïi).

- Tâm ma (Cống cao, ngả-mạn - Thất mạn).

- Tử ma (Ma chết, tử thần).

- Thiên ma(Ma-vương ở cõi trời thứ 6 là Tha-Hóa tự-tại).

- Thiện-căn ma: ỷ mình có đủ phước-đức, căn lành sanh ra kiêu ngạo, không chịu tu hành, gần thiện tri-thức.

- Tam-muội ma:ỷ mình đắc được một vài thiền-định, rồi mê đắm chấp và trụ vào trong đó, không chịu phát-tâm Bồ-đề vô-thượng tinh-tấn thêm nữa (Loại ma nầy bao gồm các hàng Thiên-tiên, ngoại đạo và các bậc Tiểu-thừa thánh quả).

- Thiện tri-thức ma:là người hiểu biết điều đạo-lý, kinh-điển mà ích-kỷ, cứ bo-bo giữ cho mình chớ không đem ra dạy-dỗ cho người, sợ người ta biết như mình rồi không còn kính-trọng, cúng-dường cho mình nữa. Vô-tình đi vào trong ma đạo.

- Bồ-đề pháp tri ma:Trong pháp Phật tuy khởi lòng tin, có trí-huệ nhưng tâm còn chấp trước các pháp, nên bị che lấp chánh-trí, không chịu cầu thành được quả-vị Phật (Ðây là chỉ cho các vị thánh-nhơn ở hai thừa Thănh-Văn, Duyên-Giác).

(4)- Hành-giả:Người hành-trì, tu-tập (chẳng-hạn như mình vậy).

(5)- Mật-Giáo:Tức là MẬT-TÔNG. Ðây là một pháp tu bí-mật của Phật-giáo, dạy về cách bắt-ấn, trì-chú, vv... Pháp-tu nầy có tính-chất liểu-nghĩa (trọn đủ), căn-cứ vào nơi tâm-pháp bí-truyền.

(6)- Hiển-giáo:là những giáo-pháp truyền dạy thoe phương-pháp thông-thường mà ai cũng có thể tu theo được như tụng kinh, niệm Phật, tán-tụng vv...

Ðây là một pháp-tu phổ-thông dành cho chúng-sanh trong thời buổi mạt-pháp khó tu nầy, nương theo tu-học, để dễ-daøng giải-thoát. Pháp-tu nầy chưa được liễu-nghĩa (chưa hoàn-toàn trọn đủ)vì còn căn-cứ trên kinh giáo.

(7)- Chơn-cảnh:tức là cảnh giải-thoát.

(8)- Lễ-phục nghiêm-chỉnh:

- Nếu là xuất-gia thì nên mặc y-hậu.

- Nếu là tại-gia thì nên mặc áo tràng.

(9)- Thường trú: Tức là còn hoài không biến-đổi - Ðây tức là ý của chữ BẤT-SANH, BẤT-DIỆT, BẤT-CẤU, BẤT-TỊNH vv... trong Bát-Nhã tâm-kinh.

(10)- Hàm-linh:Ngậm tánh-linh, tức là các loài chúng-sanh còn có tình-thức, biết buồn giận, ghét thương vv... (như mình hay là các loài thú vật, vậy).

(11)- Ba nghiệp:

-Tức là nghiệp của THÂN (sát, đạo, dâm).

- Nghiệp của KHẨU (nói dối, nói hung-dữ, nói thêu-dệt, nói hai chiều)

- Nghiệp của Ý (Tham, sân, si).

Ðây gọi là thập ác.

(12)- Hữu-tình: tức là hữu-tình chúng-sanh - Ðồng-nghĩa với chữ hàm-linh (ở trên).

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/03/2026(Xem: 1026)
THIỀN VIỆN MINH QUANG TÂY ÚC 5 Hyem Road, Herne Hill WA THÔNG BÁO (thay Thư Mời) Cúng Rằm Tháng Giêng Kỷ niệm lần thứ 72 Tổ Sư Minh Đăng Quang vắng bóng Lễ Đặt đá Khởi công xây dựng Thiền viện Minh Quang Tây Úc Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Kính thưa Quý Đồng Hương và Phật Tử Việt Nam gần xa! Như thông lệ hằng năm, Rằm Thượng Nguyên là ngày rằm đầu năm mới. Quý Phật Tử thường về chùa hay thiền viện để cầu bình an, thịnh vượng cho gia đình và xã hội. Thiền viện Minh Quang sẽ tổ chức cúng cầu an vào hai ngày 14 & 15 tháng Ba năm 2026 (chiều Thứ Bảy và sáng Chủ Nhật). Đặc biệt nhân dịp này nhằm báo đền ân đức Tổ Sư trong lễ tưởng niệm ngày vắng bóng lần thứ 72, Tăng đoàn Phật Giáo Khất Sĩ Úc Châu tổ chức Lễ Đặt đá Khởi công xây dựng Thiền viện Minh Quang Tây Úc vào ngày 15 tháng Ba nói trên. Để chứng minh cho đại lễ, Ban tổ chức đã cung thỉnh trên ba mươi (30) chư tôn thiền đức Tăng Ni hải ngoại và liên bang Úc tham dự và cầu nguyện. Ban tổ chức kính gởi Th
09/02/2026(Xem: 3833)
CÁO BẠCH HỘI ĐỒNG GIÁO PHẨM TRUNG ƯƠNG VIỆN TĂNG THỐNG GHPGVNTN Thành kính cáo bạch Trưởng lão Hòa thượng thượng NGUYÊN hạ ĐẠT, tự PHƯỚC AN Tăng Trưởng Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống GHPGVNTN Nguyên Tổng vụ trưởng Tổng vụ Văn hóa, Viện Hóa Đạo GHPGVNTN đã thuận thế vô thường viên tịch vào lúc 11 giờ 50, ngày 09 tháng 02 năm 2026 (nhằm ngày 22 tháng Chạp năm Ất Tỵ). Trụ thế: 79 năm, 57 hạ lạp Tang lễ Trưởng lão Hòa thượng tân viên tịch được cung kính cử hành tại Phật Học Viện Hải Đức (Chùa Hải Đức), số 42 Hải Đức, phường Tây Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. • Lễ cung thỉnh báo thân Trưởng lão Hòa thượng nhập kim quan vào lúc: 07 giờ 00, ngày 10 tháng 02 năm 2026 (nhằm ngày 23 tháng Chạp năm Ất Tỵ). • Lễ phụng tống kim quan trà tỳ tại Đài hỏa táng Phương Bắc Nha Trang được cử hành vào lúc: 15 giờ 00, ngày 11 tháng 02 năm 2026 (nhằm ngày 24 tháng Chạp năm Ất Tỵ). Phụng hành di ngôn của Trưởng lão Hòa thượng tân viên tịch: – Tang lễ thực
13/03/2026(Xem: 387)
Nhân dịp Lễ Húy Kỵ lần thứ 36 của Cố Hòa thượng THÍCH HUỆ HƯNG, Khai sơn Tu viện Huệ Quang, Thư viện xin đăng toàn văn Đề án Tu viện Chuyên tu của cố Hòa thượng. Bản đề án gồm 12 tran g đánh máy roneo và một bản thu gọn 3 trang thay mặt ban Tăng sự TW trình bày trước giáo hội trong kỳ họp thường trực vào ngày 12-10-1988.
13/03/2026(Xem: 897)
Năm Bính Tuất (1946), Ni trưởng được thân phụ dẫn đến chùa Phật Quang quy y với hòa thượng Thích Thiện Hoa, được Bổn sư ban cho pháp danh Nhật Tùng, tự Hải Nghĩa. Năm Mậu Tý (1948), chiến tranh lan rộng, Ni trưởng theo gia đình đến ngụ tại chùa Phước Hậu. Sau khi chiến sự lắng dịu, Ni trưởng trở về quê nhà học ở trường đình Thiện Mỹ (nay là Trà Ôn) học hết chương trình đệ tam (tương đương lớp 10). Năm Quý Tỵ (1953), Ni trưởng phát tâm xuất gia được Hòa thượng Bổn sư gởi đến tập sự với Sư trưởng Diệu Kim tại chùa Bảo An, Cần Thơ. Sau đó được gởi về chùa Quan Âm, Sa Đéc ở với nhị vị Sư trưởng Chí Hòa và Chí Định.
05/03/2026(Xem: 1025)
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THIỀN PHÁI LÂM TẾ CHÚC THÁNH CÁO BẠCH TANG LỄ Ban điều hành Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh trân trọng cáo bạch: Trưởng lão Hòa Thượng thượng NHƯ hạ TÍN. Trưởng Ban điều hành Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh. Trụ trì Tổ đình Hưng Long, phường Vườn Lài, TP. Hồ Chí Minh. Do niên cao lạp trưởng, Trưởng lão Hòa thượng đã thâu thần viên tịch vào lúc 9 giờ 24 phút ngày 16 tháng Giêng năm Bính Ngọ (04/3/2026) tại phương trượng tổ đình Hưng Long, phường Vườn Lài, Tp. Hồ Chí Minh. Trụ thế: 88 tuổi. Hạ lạp: 61 năm. Lễ nhập kim quan cử hành vào lúc: 08 giờ 00 ngày 17 tháng Giêng năm Bính Ngọ (05/3/2026). Kim quan Trưởng lão Hòa thượng được tôn trí tại Tổ đình Hưng Long, đường Ngô Gia Tự, phường Vườn Lài, Thành phố Hồ Chí Minh. Lễ viếng bắt đầu vào lúc: 09 giờ ngày 17 tháng Giêng năm Bính Ngọ (05/3/2026). Lễ truy niệm được cử hành vào lúc 05h00, ngày 21 tháng Giêng năm Bính Ngọ (09/03/2026), 06h00 cung tống kim quan Trưởng lão Hòa thượng c
11/02/2026(Xem: 1883)
Trong lịch sử hình thành và phát triển của các cộng đồng tôn giáo ở hải ngoại, hiếm có sự kiện nào mang tính biểu tượng sâu sắc như việc một chính quyền thế tục Tây Phương đặt tên đường mang tên của một bậc tu hành. Sau sự kiện đặt tên đường “Thích Nhất Hạnh Way” ở New York vào tháng 4 năm 2025; giờ tiếp nối đến sự kiện thành phố Évry-Courcouronnes, ngoại ô Paris, nước Pháp, quyết định đặt tên một đoạn đường cạnh Đại Tự Khánh Anh là Rue du Très Vénérable Thích Minh Tâm – Đường Hòa Thượng Thích Minh Tâm. Đây không chỉ là một sự kiện mang tính hành chánh thông thường, mà còn việc xác lập một giá trị: Giá trị của đạo đức, của phụng sự và trí tuệ Phật giáo đã được xã hội Tây phương nhìn nhận như một phần di sản văn hóa chung của cả nhân loại.
10/01/2026(Xem: 2456)
Thời gian qua thật mau, vậy mà đã hai năm Thầy rời bỏ Ta Bà bỏ chúng con ra đi, để lại cho chúng con niềm tiếc thương vô hạn.. Hôm nay giữa xứ lạnh của mùa Giáng Sinh gần kề nơi xứ người, con ngồi đây đọc bài "Ôn Cố Tri Ân" trong báo Viên Giác mà bồi hồi, xúc cảm … Đã lâu lắm rồi Thầy ơi, con không còn được nghe thông điệp của các Ngài, những thông điệp của Đức Tăng Thống mà con nghĩ rất cần thiết cho hàng Phật tử chúng con, cũng như cho tất cả những ai có lòng yêu thương đất nước, đất nước Việt Nam đã chịu qúa nhiều đau khổ bởi chiến tranh, bởi thiên tai, và nhất là dưới chế độ phi nhân tính của cộng sản. Phải chăng Giác Linh Thầy đã về đây để hộ trì cho chúng con, nước mắt con lăn dài, hình ảnh sự biến Lương Sơn lại hiện về trong con qua bài tường thuật của Thầy tại đồn biên phòng Lương Sơn, ngày 8.10.2003, Thầy đã dùng lý luận để vạch rõ dã tâm của cộng sản, giả trá, chụp mũ, vu khống, bắt cóc, hình ảnh Hòa Thượng Quảng Độ bị chúng dìu lên xe, mặc cho Hòa Thượng chống đối, chú
16/12/2025(Xem: 3306)
Người viết đọc bản tin xong , mà trong đầu vẫn vấn vương với những lời viết như sau : những hành động dấn thân phụng sự cộng đồng bằng nhiều hình thức thiết thực: tổ chức cứu tế, ủy lạo những gia đình gặp hoàn cảnh ngặt nghèo, trợ giúp người già yếu và đơn, ân cần an ủi, nâng đỡ tinh thần cho những người đang chịu mất mát và đau khổ là sự khẳng định vai trò tích cực của Phật giáo trong đời sống xã hội, đặc biệt trong những thời khắc khó khăn nhất của nhân loại.
14/12/2025(Xem: 3471)
Ngài là Pháp hữu cùng thế hệ với chư vị Tôn túc: Ôn Huyền Quang, Ôn Trí Nghiêm, Ôn Đổng Minh, và các bậc cao tăng đồng thời với Ngài Huyền Tôn bên Úc. Những hình ảnh mà Thầy nhắc đến chính là Tu Viện Kim Sơn tại Huế, nơi được xem là Đại học Phật giáo đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Bức ảnh ấy không chỉ là một tư liệu đơn lẻ, mà là dấu ấn của cả một thế hệ Cao Tăng Phật giáo Việt Nam. Có những tấm hình do chính Hòa Phụ bấm máy, cách nay đã hơn 60 năm.
10/12/2025(Xem: 2286)
Trọn niềm thương nhớ hướng quê hương Mùa Đông Ất Tỵ cảnh tang thương Bao nhiêu đổ nát, bao chua xót Quả thật thế gian, cõi vô thường! Vẫn biết duyên trần chẳng bền lâu Người nỡ ra đi chóng thế sao? Vốn hẹn Hiển Nam ngày tái ngộ Nhưng người Pháp Lữ, biết tìm đâu?!