Tư tưởng Tịnh Độ Tông

18/07/201208:18(Xem: 25317)
Tư tưởng Tịnh Độ Tông
TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ TÔNG

Hòa Thượng THÍCH NHƯ ĐIỂN biên soạn

tutuongtinhdotong-thichnhudien

Bắt đầu viết sách nầy vào ngày 1 tháng 11 năm 2011

tại Tu Viện Đa Bảo vùng Blue Mountains, Úc Đại Lợi,

nhân lần tịnh tu, nhập thất lần thứ 9.

Viết xong 418 trang khổ A4

vào ngày 1 tháng 12 năm 2011 tại Tu Viện Đa Bảo

Mục Lục

l. Lời nói đầu

I. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một Đức Phật lịch sử

A.- Tư tưởng của kinh A Di Đà

B.- Tư tưởng kinh Vô Lượng Thọ

C.- Tư tưởng kinh Quán Vô Lượng Thọ

II. Tịnh Độ Tông của Ấn Độ

A.- Ngài Long Thọ và tư tưởng Tịnh Độ

B.- Ngài Thế Thân và tư tưởng Tịnh Độ

III. Tịnh Độ Tông của Trung Hoa

A.- Ngài Đàm Loan và tư tưởng Tịnh Độ

B.- Ngài Đạo Xước và tư tưởng Tịnh Độ

C.- Ngài Thiện Đạo và tư tưởng Tịnh Độ

IV. Tịnh Độ Tông của Nhật Bản

A.- Ngài Nguyên Tín và tư tưởng Tịnh Độ

B.- Ngài Nguyên Không và tư tưởng Tịnh Độ

C.- Ngài Thân Loan và tư tưởng Tịnh Độ

V. Tịnh Độ Tông của Tây Tạng

Tư tưởng Tịnh Độ của phái Cổ Mật

VI. Phật Giáo thời kỳ đầu của người Âu-Mỹ

Tư tưởng Đại Thừa và Tịnh Độ Tông

VII. Tịnh Độ Tông của Việt Nam

A.- Ngài Đàm Hoằng và tư tưởng Tịnh Độ

B.- Ngài Thiền Tâm và tư tưởng Tịnh Độ

C.- Tư tưởng Tịnh Độ thời hiện đại

VIII. Con đường Tịnh Độ

Rút tỉa những kinh nghiệm và quán triệt tư tưởng Tịnh Độ đối với Phật Tử Việt Nam

IX. Cùng một tác giả

X. Phương danh cúng dường


Lời nói đầu

Nước Úc là một lục địa hay nói đúng hơn là một đảo quốc to lớn rộng rãi, ít ai có thể hình dung ra được. Ngay cả những người ở đây lâu năm họ vẫn chưa đi hết đảo quốc nầy. Nói là đảo quốc, bởi vì đất đai ở đây bị ngăn cách bởi Ấn Độ Dương và phía Nam đảo quốc nầy là khoảng trời nước mênh mông giáp giới với Nam Cực. Phía Tây cũng như phía Đông cách xa các quốc gia nằm lân cận mình.

Nếu hỏi độ lớn của quốc gia nầy là bao nhiêu thì xin thưa: Hãy nhìn vào bản đồ thế giới để thấy rằng cả lục địa Âu Châu đem bỏ vào nước Úc vẫn chưa lớn bằng. Nước nầy ngang tầm to lớn như Hoa Kỳ và Canada; nhưng dân cư tại đây chỉ trên dưới 30 triệu người, nghĩa là chỉ bằng dân số một phần mười của nước Mỹ.

Nước là một yếu tố để quyết định cho sự sống của con người nơi đây; nên chính phủ giới hạn tối đa việc nhập cư vào quốc gia nầy. Tài nguyên thiên nhiên, đất đai, thổ sản tại nước nầy còn nhiều lắm, chưa khai thác hết. Có lẽ chính phủ họ để dự bị cho một tương lai lâu dài. Vì lục địa nầy cũng chỉ mới phát triển trên 200 năm trở lại đây mà thôi.


Ở đây đa phần là rừng núi và cây bạch đàn cũng như Kanguru; đi đâu cũng thấy và ở đâu cũng gặp. Xứ Nam Phương nầy có rất nhiều cái hay cái lạ của nó, mà ai phải đến đây rồi mới tiếp nhận được những tia nắng mặt trời rọi chiếu như thế nào ở vùng Nam Bán Cầu nầy; dĩ nhiên là nó khác Phi Châu, Mỹ Châu, Âu Châu và ngay cả Á Châu nữa.

Tôi đã có nhân duyên đến nước nầy từ năm 1979; nếu tính đến nay (2011) cũng đã là 32 năm rồi. Trong 32 năm ấy hầu như năm nào tôi cũng có một cho đến 2 lần đến thăm nước nầy. Lý do vì vấn đề Phật Pháp cũng như khí hậu. Con người khi xa quê hương, hay nghĩ nhớ đến quê hương rất nhiều; nhất là lúc về già. Do vậy người ta phải đi tìm một quê hương khác, nơi ấy có cái gì đó có thể bổ sung hay thay thế cho quê hương mình, nên tôi đã đến đây nhiều lần là vậy. Tại đây có ổi, mít, chôm chôm, măng cụt, xoài, sầu riêng, bưởi, chuối, rau muống, rau mồng tơi v.v... và tại đây cũng có một Cộng đồng người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản từ 1975 đến nay cũng đã lên đến 200.000 người.

Từ năm 2003 đến nay đã 9 lần tôi đến Úc để tịnh tu, nhập thất, viết lách, hành trì tu niệm mỗi năm trên dưới 2 tháng. Tám lần trước ở tại thất Đa Bảo vùng Capelltown cách Sydney chừng 40 cây số. Nơi ấy tôi cũng đã hoàn thành một số tác phẩm và dịch phẩm đã được xuất bản tại ngoại quốc trong những năm qua. Năm nay 2011, Hòa Thượng Phương Trượng chùa Pháp Bảo Thích Bảo Lạc lại đã cho di dời Tu viện Đa Bảo về vùng Blue Mountains nầy; nơi có nhiều núi đồi và phong cảnh thiên nhiên thật tuyệt đẹp. Từ Sydney đến đây bằng xe hơi, lái độ 2 giờ đồng hồ, mặc dầu đoạn đường chỉ 135 cây số. Vì là đường đèo quanh co uốn khúc, khó chạy nhanh hơn được.

Địa điểm mới nầy có hai căn nhà, một cũ và một mới. Căn nhà mới, chủ cũ xây để làm chỗ nghỉ dưỡng sức cho những người lớn tuổi; nên rất đầy đủ tiện nghi; không khác gì Âu-Mỹ mấy, mặc dầu đây là vùng đồi núi, nằm cách mặt biển độ 1.000 mét. Vì vậy về đêm nhiệt độ xuống thấp và ban ngày có khí hậu mát mẻ như vùng Đà Lạt của Việt Nam.

Căn nhà thứ 2 nằm trên đồi, đã cũ; nhưng nhìn xuống phía dưới đồi thì quá tuyệt vời, cả một vùng trời mênh mông vô tận với cảnh trí thiên nhiên thật tuyệt hảo. Có nhiều buổi chiều khi sương xuống hay buổi sáng lúc sương chưa tan, từ ngôi nhà nầy, cảm thấy như mình đang ở trên mây và hòa cùng với thiên nhiên như là một cảnh Tiên không khác.

Nhà ở đây xây theo lối Âu Châu nên có cả 2 hệ thống sưởi; một bằng gas và hai bằng củi. Tôi thích nhất là đốt củi để nhìn lửa tí tách thay nhau cháy trong lò, mình cảm thấy ấm lòng, khi bên ngoài trời màn đêm đã buông xuống. Cũng chính từ đồi nầy, năm nay tôi biên soạn tác phẩm thứ 59 nầy.

Năm 2010 tôi và Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng dịch chung với nhau quyển sách bằng tiếng Anh nhan đề là "Chết An Lạc, Tái Sanh Hoan Hỷ“. Chính quyển sách nầy là động cơ để tôi đi tiếp 3 tác phẩm theo sau. Tôi không ngờ, chỉ dịch sách trong sự tình cờ, mà khám phá ra được Tịnh Độ Tông của Tây Tạng. Đây là nguồn cảm hứng để tôi đi sâu vào Tịnh Độ. Trước đó mấy năm, tôi đã dịch "Tịnh Độ Tông Nhật Bản“ từ tiếng Nhật sang tiếng Việt; nhưng dường như cũng chưa đầy đủ cho sự nghiên cứu của mình; cho nên năm nay (2011) tôi có bảo Thầy Hạnh Giả là đệ tử, tìm cho Thầy một quyển sách nào bằng tiếng Đức có liên quan với Tịnh Độ để Thầy dịch ra tiếng Việt. Thầy ấy đưa cho tôi 2 quyển. Một quyển của tác giả Schumann; ông nầy là một học giả Phật Giáo người Đức rất giỏi về tiếng Pali và Sanskrit; sau khi đọc tác phẩm về Phật Giáo của ông ta, tôi thấy tiếng Sanskrit nhiều quá, không hiểu hết; nên đã biên thư nhờ Giáo sư Lê Mạnh Thát giúp đỡ. Thầy ấy trả lời thuận; nhưng sau đó tôi cảm thấy nhiêu khê quá, vì 2 ngôn ngữ nầy vốn không phải là phần chuyên môn của mình; nên tôi lại không tiếp tục và không dám làm phiền Thầy ấy nữa.

Quyển thứ 2 nhan đề tiếng Đức là: "Những bản kinh căn bản của Tịnh Độ Tông (A Di Đà) Nhật Bản“ của Christian Steineck. Đây là một luận án Tiến sĩ có nghiên cứu, chú thích kỹ càng. Phần cuối sách có giải thích chữ Hán, Nhật ngữ ra Đức ngữ, rất tiện lợi. Do vậy tôi đã chấp nhận dịch tác phẩm thứ 58 từ trong mùa An Cư Kiết Hạ năm nay để khi sang Úc thì dịch phẩm ấy đã hoàn thành, chỉ cần giảo chánh lại và đánh máy nữa mà thôi.

Một bản dịch đặc biệt khác có liên quan đến Tịnh Độ và Phật Giáo Việt Nam; đó là luận án Tiến sĩ của Thầy Hạnh Giả, là đệ tử xuất gia của tôi và cũng đang dạy về Phân khoa Tôn Giáo Học tại Đại Học Hannover cho những sinh viên người Đức với nhan đề là „Tang Lễ của Phật Giáo Việt Nam tại Đức - Sự duy trì và thích nghi tại Hải Ngoại. Dĩ nhiên là chính Thầy ấy dịch ra tiếng Việt có sự trợ lực giảo chánh của tôi để câu văn tiếng Việt nhuần nhuyễn hơn và đây không phải chỉ nói thuần về vấn đề chết chóc, tang ma, mà qua những lễ nghi ấy, người Phật Tử Việt Nam đã gìn giữ phong tục nầy theo truyền thống Tịnh Độ, vốn đã hội nhập và thích nghi với xã hội người Việt ở trong nước cũng như ở tại xứ Đức.

Như vậy tác phẩm nầy là tác phẩm thứ 59 hoàn toàn bằng tiếng Việt; nhưng có tham cứu nhiều ở Phật Quang Đại Từ Điển, quyển nầy do Hòa Thượng Thích Quảng Độ dịch và Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản. Đây là một quyển Từ Điển đầy đủ nhất trong những loại từ điển Phật Học khác. Ước vọng của tôi trong quyển „Tư Tưởng Tịnh Độ Tông“ nầy là mong muốn hệ thống hóa về cách truyền thừa của các vị Tổ Sư Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Tạng và Việt Nam để người Phật Tử có một cái nhìn toàn diện hơn. Dĩ nhiên là sẽ còn nhiều sự phát hiện rõ ràng và tỉ mỉ hơn nữa về sau nầy; nhưng tôi mong mỏi thiết lập sơ khởi như vậy, để gọi là viên gạch lót đường đầu tiên cho vấn đề nầy.

Tư Tưởng Tịnh Độ lấy 3 kinh Tịnh Độ làm chính. Đó là kinh Vô Lượng Thọ (Đại Bản A Di Đà); kinh Quán Vô Lượng Thọ và kinh A Di Đà (Tiểu Bản A Di Đà) và triển khai những sáng tác, bình luận, soạn thuật của các vị Tổ của những nước trên về quán niệm của sự vãng sanh trong thời mạt pháp nầy, để từ đó, tôi đưa ra một đề nghị (xin xem Chương thứ VIII – Con Đường Tịnh Độ) cho những người tu theo Tịnh Độ Tông Việt Nam có một lập luận vững vàng khi thực hành pháp môn nầy.

Xưa nay đa phần chúng ta lệ thuộc văn hóa Trung Hoa không ít, trong đó kể cả văn hóa Phật Giáo. Cho nên với tác phẩm nầy,tôi đã hệ thống hóa tư tưởng Tịnh Độ trực tiếp từ Ấn Độ qua Tổ Sư Long Thọ và Tổ Sư Thế Thân, kế tục là Ngài Đàm Hoằng, Sơ Tổ Tịnh Độ Tông Việt Nam; chứ không qua ngã Trung Hoa như Thiền Tông vốn dĩ đã có lâu nay mà Việt Nam chúng ta đã thừa kế.

Tôi cũng không có một ý nghĩ hoang tưởng nào khi biên tập tác phẩm nầy. Vì lẽ: nếu không có bắt đầu thì sẽ không có cái cuối cùng. Đó là tục ngữ Đức (Ohne Anfang Ohne Ende). Do vậy những gì muốn nói, tôi đã nói hết trong tác phẩm nầy và những gì muốn viết, tôi cũng đã viết hết rồi. Chỉ mong rằng người đọc, kể cả các bậc cao minh, xin chỉ cho những chỗ thừa hay thiếu, để từ đó tác giả sửa đổi lại khi có lần tái bản sắp tới.

Dịch, viết, sáng tác từ ngôn ngữ cho đến thơ văn v.v… nó là một niềm vui và là sự sáng tạo của mỗi cá nhân. Do đó quan điểm nào đó được nhiều người hưởng ứng, quả là điều hân hạnh cho tác giả; nếu ngược lại chẳng có ai theo và không tán thành, thì đó chỉ là ý kiến của cá nhân người sinh ra tác phẩm ấy mà thôi. Thành kính cảm niệm công đức những vị nào đã để mắt ghé vào đọc tác phẩm nầy. Nếu có những lỗi nông nổi bất cập nào đó, thì tác giả xin nhận trách nhiệm về mình.

Năm 2012 sẽ xuất bản 3 tác phẩm liên quan về Tịnh Độ như đã thưa trên. Tất cả đều được in ấn tống với sự tùy hỷ đóng góp cúng dường của quý Đạo Hữu Phật Tử xa gần, từ châu Úc đến châu Âu và châu Mỹ. Quyển "Tư Tưởng Tịnh Độ Tông“ nầy dự định in 5.000 cuốn và mong rằng sau khi đọc, gấp sách lại, quý Ngài và quý Vị còn lưu lại một vài vấn đề gì đó quan trọng nơi tâm thức của mình; quả là hân hạnh cho người viết biết bao.

Xin cảm ân quý Thầy, quý Cô, quý Đạo Hữu, quý Phật Tử đã chịu khó bỏ công đánh máy, xem xét lại bài vở, layout, trang trí hình bìa sách, chuyên chở, phân phát đến từng địa phương trên các châu lục. Nếu không có quý vị thì bản cảo của sách nầy cũng vẫn còn nằm nguyên vẹn trên bàn viết mà thôi. Tất cả mọi công đức xin được khắc ghi vào lòng và xin niệm ân tất cả chư vị.

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát

Núi đồi Đa Bảo vùng Blue Mountains

ngày 5 tháng 12 năm 2011

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/09/2025(Xem: 5207)
Cụ Bà Tâm Thái (93 tuổi) khuyên người niệm Phật Siêng năng niệm Phật Di Đà Tránh xa tánh nết la cà thị phi Sẵn lòng hỷ xả từ bi Bao nhiêu phiền muộn sân si tan liền.
01/09/2025(Xem: 8167)
Nhân loại bước vào thế kỷ XXI với những bước tiến vượt bậc về khoa học, kỹ thuật và đời sống vật chất. Những thành tựu ấy đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và mở ra nhiều chân trời mới cho con người. Tuy nhiên, song hành với sự phát triển ấy, nhân loại cũng đang đối diện với không ít bất an, khủng hoảng và những biến động khó lường của thế giới hiện đại. Đại dịch Covid-19 bùng phát vào năm 2020 đã trở thành một biến cố lớn chưa từng có trong lịch sử gần đây của nhân loại. Chỉ trong một thời gian ngắn, dịch bệnh lan rộng khắp các châu lục, làm đảo lộn mọi sinh hoạt xã hội, kinh tế và đời sống tinh thần của con người. Những thành phố vốn nhộn nhịp bỗng trở nên lặng im, những con đường quen thuộc thưa vắng bóng người, và cuộc sống thường nhật dường như bị ngưng lại giữa dòng chảy vô thường của thời cuộc. Đặc biệt tại Melbourne – nơi Tu Viện Quảng Đức tọa lạc – thành phố này đã ghi dấu một kỷ lục đặc biệt khi trở thành một trong những thành phố phong tỏa lâu nhất trê
11/08/2025(Xem: 3020)
1/Nếu muốn tự tại thì bạn phải quét sạch ba tâm và bốn tướng. Ba tâm là tâm suy nghĩ về hiện tại, quá khứ và vị lai. Ba tâm thái này đều không có thực tại, nên gọi là bất khả đắc, không thể nắm giữ. 2/Vì sao ở địa vị thánh nhân thì mới có tự tại? Vì thánh nhân không có bốn tướng: không có quan niệm về cái tôi, quan niệm về người, quan niệm về chúng sinh, quan niệm về thọ mạng. Do đó họ đạt tới sự tự tại. 3/Vì sao mình mê muội, chẳng giác ngộ? Vì bị trúng độc tham sân si quá sức sâu đậm. Do vậy chẳng thể giác ngộ. 4/Thời đại chánh pháp: Ai cũng tu. Thời đại mạt Pháp: Không ai tu. Nếu bây giờ ai cũng tu thì thời mạt Pháp sẽ biến thành thời chánh pháp. 5/Định luật nhân quả là: khởi hoặc (tâm khởi vọng tưởng, si mê), đưa đến tạo nghiệp (thân ngữ ý phát ra hành động, lời nói, suy tư), kết cuộc là thọ báo (thân ngữ ý nhận chịu hậu quả của việc đã làm).
11/08/2025(Xem: 4247)
Ít nói một câu chuyện Nhiều niệm một câu Phật Đánh chết được vọng niệm Pháp thân người hiển lộ.
15/07/2025(Xem: 3122)
Kinh Hoa Nghiêm, Bồ Tát Di Lặc đã từng dạy Thiện Tài rằng: “Bồ Đề tâm là hạt giống của hết thảy các Phật pháp. Bồ đề tâm là ruộng phước vì nuôi lớn cõi bạch tịnh. Bồ đề tâm là cõi đất lớn, vì nâng đỡ hết thảy thế gian. Bồ Đề tâm là tịnh thủy, vì rữa sạch tất cả cáu bợn phiền não”. Trong kinh Phật thường nhắc đến Bồ Đề tâm rất nhiều. Vậy chúng ta tìm hiểu đề tài phát Bồ Đề tâm là gì? Nguyên nhân phát khởi Bồ Đề tâm và lợi ích thực hành Bồ Đề tâm trong việc tu hành như thế nào?
30/06/2025(Xem: 5621)
Nhân có chút ít may mắn, tôi tìm đến với đạo và nghiên cứu nhiều về thiền Tứ Niệm Xứ, tìm học về Tịnh Độ. Nghiệm thấy sự thù thắng và mầu nhiệm của pháp môn niệm Phật, nên viết lời tín giải thọ trì danh hiệu A Di Đà, chủ yếu làm phương án tu học cho bản thân nương vào, soi sáng niềm tin cho chính mình để vững bước theo đường đạo. Đây là việc nghiên cứu tìm học, chắc chắn không thể tránh khỏi những sơ sót ít nhiều. Rất mong chư vị Tăng Ni Đại Đức và các bậc Thiện tri thức từ bi thương cảm mà góp ý đưa vào chánh lý.
23/06/2025(Xem: 5800)
Phật Bảo sáng vô cùng Đã từng vô lượng kiếp thành công Đoan nghiêm thiền tọa giữa non sông Sáng rực đỉnh Linh Phong Trên trán phóng hào quang rực rỡ Chiếu soi sáu nẻo hôn mông Long Hoa hội lớn nguyện tương phùng Tiếp nối Pháp chánh tông Xin quy y thường trú Phật-đà-gia!
15/05/2025(Xem: 3992)
Tôi năm nay đã 83 tuổi (sinh năm Nhâm Ngọ), hiểu biết kinh Phật chẳng bao nhiêu, tu hành thì biếng nhác, vợ chồng ăn chay mỗi tháng chỉ được hai lần. Thế nhưng nhờ tâm Bồ Đề kiên cố, quyết tâm theo Phật và lời dạy của chư Tổ cho nên cố gắng bỏ bớt tham-sân-si, không làm tổn hại tới ai. Ngoài thì giờ viết sách, lo chuyện gia đình, tôi vẫn thường vào youtube để nghe thuyết pháp. Tôi thấy khá nhiều giảng sư phê bình người này người kia không tu theo chánh pháp hoặc khuyên Phật tử tu theo chánh pháp. Nhưng tôi không rõ Phật tử có hiểu thế nào là tu theo chánh pháp hay không?
18/04/2025(Xem: 7196)
MỤC LỤC TỔNG LUẬN.. 1 Ý NGHĨA VÀ DUYÊN KHỞI 26 NỘI DUNG CHỦ YẾU.. 34 PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH.. 51 BỒ TÁT DIỆU ÂM, PHẨM 24 CỦA KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA 58 PHẨM "DIỆU ÂM BỒ TÁT" THỨ HAI MƯƠI BỐN- Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch 83
26/01/2025(Xem: 10019)
Nếu thế gian an lành hạnh phúc, lòng người không uẩn khúc đa đoan, đường đời luôn bằng phẳng trong ánh sáng bình minh đầy hoa và bướm, thì không có cảnh tượng thăng trầm, khổ tâm, đau đớn, xót xa. Thế gian này với hoa lá cỏ cây núi rừng sông biển, vạn vật thiên nhiên tự nó nào có phân biệt lớn nhỏ, thánh phàm, khổ vui, thăng trầm, vinh nhục? Đặc tánh thiên nhiên vĩnh viễn muôn đời thanh thản tuyệt nhiên không có lời than thở, hoa nở theo thời, lá rơi theo tiết, chim hót theo mùa, núi vẫn là núi, sông vẫn là sông, núi sông ghềnh thác linh hoạt tự tại với không gian vô cùng và thời gian vô tận. Nhưng thấy núi sông hùng vĩ, sông uốn khúc lượn quanh, thác đổ oai hùng, bình minh hy vọng, hoàng hôn u buồn, tất cả những hiện tượng đó đều phát xuất từ tâm thức phân biệt của con người.