Tin Tức Từ Biển Tâm

24/01/201106:09(Xem: 28097)
Tin Tức Từ Biển Tâm

TIN TỨC TỪ BIỂN TÂM

Lâm Thanh Huyền - Người dịch: Minh Chi
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo Hà Nội 2003

tintuctubientam_minhchi
MỤC LỤC

Lời người dịch
Trang 01
Vì hiện tại hãy làm một chút gì đó
Tin tức từ biển tâm
Học tập Phật pháp với thái độ tự tin
Cởi bỏ sự ràng buộc của hình thức
Xa rời tâm thì không có Phật
Tưỏng niệm và sự trình hiện của tâm
Lấy giác và sáu thức để nhận rõ tự tâm

Trang 02

Sáu phương pháp để lắng nghe tâm
Giữ vững biển tâm bình lặng, thuần khiết
Mũi dao và cán dao
Thấy đúng đắn cảnh giới hiện thực trước mắt
Hãy trân trọng cuộc sống hiện tại
Chấp thủ là đáng sợ
Phá chấp trước, mở mang trí tuệ
Phật giáo giống như một con dao
Học Phật là để chế tạo một con dao tốt
Đặt con dao báu ở trong tâm mình

Trang 03

Đừng có cách biệt với chúng sanh
Nhân sanh là tương đối
Phải giừ cái hòm hy vọng
Khai phá sự hoàn mỹ nội tại
Làm cho thanh tịnh thân, miệng, ý
Giữ tấm lòng cảm ân vô hạn
Tâm hoan hỷ vô lượng
Bảy báu và bảy tình
Đừng để Phật giáo thành ràng buộc đối với cuộc sống
Học Phật là để mong cầu cải cách và sáng tạo tâm linh
Cải cách tâm bắt đầu từ đâu
Tìm ra của báu trong mình và đầu mối của bảy tình

Trang 04

Quét trừ mê chướng để thấy tự tánh
Sắc và không đều có thể giúp chúng ta khai ngộ
Chuyển ngu muội thành trí tuệ
Đi tìm cảnh giới vô tâm
Niệm chú, không bằng đầu tiên hãy mở mang trí tuệ nội tại của mình
Thể nghiệm, thể nghiệm, thể nghiệm ngày càng sâu sắc
Đừng nhìn Phật giáo qua hình tướng

Trang 05

Vĩnh viễn để lại chút tình cảm ở nhân gian
Cuộc sống hiện nay, thế giới hiện nay
Sự khác nhau giữa tại gia và xuất gia 5
Tu hành chân chánh là rất giản đơn
Trong sinh hoạt toàn là Phật pháp
Kiểm nghiệm động cơ học Phật
Hãy sống trọn đời sống này, nhưng không được chấp trước đời sống này
Tướng thật của thế giới cực lạc
Học Phật nếu mắc vào hình thức sẽ thành hư vọng
Người như thế nào thì được tự do, tự tại
Mở mang không ngừng trí tuệ
Từ bi là cho vui, trừ khổ
Trở về đời sống này, thế gian này

Trang 06

Phóng hạ và chịu trách nhiệm
Bồi dưỡng sức sáng tạo của nội tâm
Giữ vững sức sống của sanh mạng
Quý trọng giờ phút trước mắt
So sánh với giây phút trước đây
Cuộc sống tốt đẹp nhất là ở đời này, thế gian này
Vượt qua sông tình dục, bảy tình, sáu dục
Khi luyện vàng không được nghĩ tới con khỉ
Dòng chảy cảm tình, con sông ái dục, chìm nổi ở trong đó kiếp này qua kiếp khác
Tình dục và sanh tử

Trang 07

Tình dục là gốc của khổ
Chuyển hoá tình dục
Cảm ơn và học tập
Hồi hướng làm cho nhân duyên thanh tịnh
Hoan hỷ sống, tuỳ tục, tuỳ duyên
Bố thí mà không chấp ngã
Tuỳ duyên mà ứng xử với tình cảm tốt nhất không thay đổi
So sánh với giây phút trước
Nhân sanh tốt đẹp nhất chính là ở đời này, thế gian này
Ái hận tình thù trong nhân gian, đâu đâu cũng có yêu ghét tình thù
Mở mang trí tuệ trong luyến ái và hận thù
Suy nghĩ lại hành vi và nhân sanh

Trang 08

Thương yêu, hận thù là có thể thay đổi
Một vị trí tương đối cao hơn, với trí tuệ mới hơn
Thấy rõ thực tướng của nhân duyên
Thiền định và Bát nhã làm cho tâm tính không dao động
Từ thiền định và Bát nhã xem xét luyến ái và hận thù
Không cần bài xích cảm quan, phải khéo léo dùng cảm quan để tu hành
Luyến ái và hận thù đều là bài học để tu hành
Khiến cho danh hiệu Phật và tâm niệm chúng ta thống nhất
Khiến cho tâm mình và tâm Bồ tát ấn chứng nhau
Mọi người đều có Phật tánh Như Lai
Tình cảm phong phú tu hành vô ngại

Source: thuvienhoasen

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/05/2017(Xem: 10345)
Cụm từ "Di Đà Tự tánh" hay "Duy tâm Tịnh độ" thường được dùng để chỉ đỉnh cao của pháp môn Tịnh độ, nhưng rất dễ gây hiều lầm. Về phương diện Lí tánh thì Phật A-di đà Vô Lượng Quang Vô Lượng Thọ là Tự tánh thường chiếu và vĩnh hằng của chúng ta. Khi ta niệm danh hiệu A-di-đà là trở về với Tự tánh, bản tâm. Chúng ta hãy xem đoạn văn sau đây của những người dùng lí thuyết "cao siêu" để bài bác pháp môn Tịnh độ: "Niệm danh hiệu Phật để cầu sanh Tịnh độ là còn chấp Tướng, tìm pháp ngoài Tâm - không hiểu rằng tất cả các pháp đều là tâm".
16/04/2017(Xem: 9767)
Phương pháp Thập Niệm do một vị Đại sư nổi tiếng giảng dạy dựa trên sự vãng sanh Hạ phẩm được diễn tả trong Quán Kinh. Phương pháp nầy đặc biệt dành cho những người quá bận bịu với cuộc sống nên hằng ngày không thể niệm Phật (nhiều lần) để cầu vãng sanh như người tu Tịnh độ bình thường. Do đó, cách nầy dạy niệm danh hiệu Phật A-di-đà khoảng mười lần mỗi khi hít vào và thở ra. Chủ đích của phương pháp nầy là dùng hơi thở để tập trung tâm ý. Tùy theo hơi thở dài hay ngắn mà hành giả có thể niệm được nhiều hơn hay ít hơn 10 danh hiệu. Sau mười lần hít vô--thở ra (tức là niệm được tổng cộng khoảng từ 50 đến 100 câu Phật hiệu), hành giả có thể bắt đầu tụng bài thơ hồi hướng công đức sau đây:
02/04/2017(Xem: 13499)
Theo âm Hán Viêt, A Di Đà Phật có nghĩa là Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật, Tây Phương Phật. Trong kinh A Di Đà, Đức Phật Thích Ca giảng là Phật A Di Đà, Giáo Chủ cõi Cực Lạc (Soukhavati (Scr.), ở phương Tây, cách cõi Ta Bà của chúng ta mười vạn ức cõi Phật. Đó là một cõi đầy đủ các công đức trang nghiêm. Lầu các, cây cối, đất đai toàn là châu báu. Nào là các loài chim bạch hạt, khổng tước, anh võ, xá lợi, ca lăng tầng già v.v… ngày đêm sáu thời ca hát ra những lời pháp: năm căn, năm lực, bảy món bồ đề, bát chánh đạo…
27/03/2017(Xem: 6039)
Tịnh độ tông là tên gọi chung của tất cả những giáo lí dạy rằng chúng sanh có thể thành Phật nếu được vãng sanh về cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà. Ở Ấn độ. giáo lí nầy được các ngài Mã Minh, Long Thọ và Thế Thân giảng dạy trên cơ sở nhiều kinh điển khác nhau, như hai bộ kinh A-di-đà. Lịch sử của Tịnh độ tông bắt đầu từ Ấn độ thời cổ đại, nhưng thời đó truyền thống đức tin chưa được nhấn mạnh. Mặc dầu Ấn-độ lúc đó đã có một môn phái thờ đức A-di-đà, sự kính ngưỡng Ngài chỉ là một trong các cách thực hành của Phật giáo Đại thừa lúc ban sơ.
07/09/2016(Xem: 10579)
Theo lời giới thiệu của nhà xuất bản Seuil, Paris, thì Jean Eracle nguyên là Quản Đốc Viện Bảo Tàng Dân Tộc Học Á Châu, đặt trụ sở tại Geneva, Thụy Sỹ. Do một nhân duyên vô cùng kỳ lạ, ông được sang Nhật-bản lưu trú suốt mấy mươi năm để học hỏi cùng thực hành Niệm Phật theo giáo pháp của “Đạo Phật Chân Chánh trong Pháp môn Tịnh-độ” tức Tịnh-độ Chân-tông do Ngài Thân Loan Thánh Nhân khai sáng cách đây gần 8 thế kỷ.
28/04/2016(Xem: 40374)
Thiền, Tịnh, Mật được xem là ba pháp môn tu truyền thống của Phật giáo Việt Nam xưa nay. Thiền giáo xuất hiện từ thời Khương Tăng Hội, Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông. Các thế kỷ sau, kinh điển Đại thừa được truyền bá, theo đó tư tưởng Thiền, Tịnh và Mật được phổ biến tại nước ta. Từ lịch sử phát triển Phật giáo Việt Nam cho thấy, ba pháp môn tu đó có sự đóng góp tích cực cho con người và xã hội qua nhiều thời đại.
15/02/2016(Xem: 14335)
Trong bổn hội các liên hữu đồng tu, đều tuân theo tu học Tịnh Độ Ngũ Kinh và Tịnh Độ Thập Yếu, đặc biệt là Kinh Vô Lương Thọ, bản hội tập của Hạ Liên Cư Đại Sĩ, Di Đà Yếu Giải, Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, nhất định phải y cứ ba bộ kinh này tu học, dốc hết toàn lực, nghiên cứu học tập kinh luận Đại Thừa mới có thể tương ứng với Tịnh Tông. Bổn hội đặc biệt chú trọng hành giải tương ứng, tâm khẩu nhất như, cho nên hành môn là mọi người phải phát nguyện, cho đến mức cùng đời vị lai. Tuân theo Quán Kinh tu Tam Phước, Lục Hòa, Tam Học, Lục Độ, Thập Đại Nguyện Vương.
23/12/2015(Xem: 13888)
Hễ phát tiểu nguyện thì không hợp nhân quả, chẳng được vãng sanh. Tại sao ? Vì tiểu nguyện chỉ phát nguyện cho một mình được vãng sanh, nếu không trở lại đầu thai thì làm sao có quả báo ? Bây giờ chẳng nói về kiếp trước, chỉ nói kiếp này : Từ nhỏ tới lớn có sát sanh không? Có giết chết con muỗi con kiến không ? Có ăn thịt chúng sanh không ? Theo nhân quả là một mạng phải đền một mạng, ăn một cục thịt trả một cục thịt, thế thì làm sao trả nợ mạng, nợ thịt? Nên phải phát đại nguyện.
24/07/2015(Xem: 24447)
Tập sách này không phải là một tiểu luận về tâm lý học nên không thể bao quát hết mọi vấn đề nhân sinh, mục đích của nó nói lên sự tương quan của Ý, Tình, Thân và tiến trình phiền não...
10/07/2015(Xem: 9112)
Hầu hết các kinh luận Đại thừa đa số đều thuyết minh tổng quát về pháp môn niệm Phật. Trên thực tế hình thành pháp môn Tịnh Độ phổ biến từ tư tưởng các bộ kinh căn bản như Kinh Bát Chu Tam Muội (Ban Châu Tam Muội), Kinh A Di Đà, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Hoa Nghiêm và Kinh Thủ Lăng Nghiêm và nhiều bộ kinh khác. Pháp niệm Phật đến với quần chúng ước tính khoảng mười tám thế kỷ qua (Tính từ khi Kinh Ban Châu Tam Muội được dịch tại Trung quốc năm 179 s.dl.), và pháp môn Tịnh Độ được hình thành và phát triển thời tổ sư Huệ Viễn (334-416 TL) cho đến ngày nay. Thực tế lịch sử đã chứng minh pháp môn niệm Phật đã đóng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực truyền bá Phật giáo Đại thừa. Y cứ từ kinh điển liên quan Pháp môn niệm Phật, trên căn bản thì thiền sư Tông Mật (784-841), tổ thứ năm của tông Hoa Nghiêm đã phân thành bốn phương pháp niệm Phật. Đó là trì danh niệm Phật, quán tượng niệm Phật, quán tưởng niệm Phật và thật tướng niệm Phật. Từ thời đại Tổ Liên Trì về sau