Tu Tuệ

12/04/201310:15(Xem: 21466)
Tu Tuệ

Đức Đạt Lai Lạt Ma
TU TUỆ
Bản tiếng Anh: Practicing Wisdom - Nhà xuất bản Wisdom
Bản tiếng Pháp: Pratique de la Sagesse
Nhà xuất bản Presses du Châtelet
Bản dịch Việt ngữ: Hoang Phong
Nhà xuất bản Phương Đông TP. Hồ Chí Minh 2008

Tái bản: Nhà xuất bản Hồng Đức năm 2013

TU_TUE_FINAL_bia_2

MỤCLỤC

Lờinói đầu (Thupten Jinpa)
Lờighi chú của người dịch sang tiếng Việt

1Dẫn nhập

Pháthuy một động lực tinh khiết
Trínăng và lòng tin
Vănbản cội rễ
2Bối cảnh Phật giáo

Khung cảnh lịch sử
Con đường tu tập Phật giáo
Nguyêntắc về nhân quả và bốn sự thực cao quý
Ba loại khổ đau
Tiềmnăng giải thoát
Những nguyên nhân tương liên
Sự hiểu biết
Căn bản của sự thành công
3Hai sự thật

Sự cần thiết phải hiểu được Tánh không
Định nghĩa
Hiệnthực và sự nhận biết bằng trí năng
Nhữnggiai đoạn tuần tự cần thiết giúp tìm hiểu hai sự thực
Giốngnhau và khác biệt
Hailoại vô ngã
Nhữngquy ước đúng và những quy ước sai
Hệthống thuật ngữ
Tánhkhông và lòng Từ bi
Hailoại cá thể con người
4Phủ nhận những quan điểm hiện thực của Tiểu thừa

Suytư về vô thường
Chiếnthắng tình trạng bất toại nguyện dai dẵng của ta
Phủnhận những hình tướng bên ngoài
Nhữngđiều xứng đáng và sự tái sinh
Điềuthiện và điều ác
Ta-bàvà Niết-bàn
5Các Quan điểm của học phái Duy thức

Thếgiới bên ngoài
Trithức tự nhận biết lấy chính nó
Vượtra khỏi sự bám níu vào cái « ngã »
Tâmthức và ảo giác
Tìmhiểu về Trung đạo
6Tính cách đích thực của Đại thừa

Làmphát sinh các nguyên nhân của hạnh phúc
Hainền văn hoá tâm linh
Tínhcách đích thực của Đại thừa và Tánh không
Phậttính và tam thân
Ảnhhưởng của sự hiểu biết siêu nhiên
Nguồngốc kinh sách Đại thừa
Sựtìm tòi cá nhân
7Tánh không theo học phái Trung luận

Tâmthức của người A-la-hán
Thựchiện được Tánh không là một điều cần thiết để tựgiải thoát khỏi luân hồi
Hiểubiết Tánh không theo Cụ duyên tông (Prasangika) và Y tự khởitông (Svatantrika)
Cáccấp bậc khác nhau của Tánh không về con người
Batiết tiếp theo
Tánhkhông là một chiếc chìa khoá
Vôngã đối với con người
Sựxác định về cái tôi phải được phủ nhận
Khôngthể tìm thấy cái « tôi »
8Bản chất và sự hiện hữu của cái «tôi»

Lòngtừ bi xuất phát từ sự thực hiện Tánh không
Sứcmạnh của lòng từ bi
Chiaxẻ khổ đau với kẻ khác
Thựcthi từng bước một
Phủnhận quan điểm ngoài Phật giáo về « cái tôi » hay « cáingã »
Sựliên tục của một « cái tôi » quy ước
Tâmthức có phải là « cái tôi » hay không ?
Duytrì một thế giới tương đối
9Bản chất của mọi hiện tượng

Tổngthể và những thành phần của nó
Cácvật thể hiện hữu như thế nào ?
Vượtlên trên sự hiểu biết trí thức
Lòngnhiệt tâm chủ yếu cho việc tu tập và nghị lực
Tậptrung suy tư vào tánh không của giác cảm
Chútâm vào Tánh không của tâm thức
Chútâm vào Tánh không của mọi hiện tượng
10Phủ nhận những điều bác bỏ

Nhữngtạo dựng nhi nguyên
Kẻsáng tạo tối hậu
Bênhvực về hai sự thật
Phủnhận những quan điểm về thực tại
Tầmquan trọng của trí năng
Nghiệpvà nhân quả
11Những luận cứ then chốt để phủ nhận khái niệm hiệnhữu tự tại của mọi hiện tượng

Luậncứ về những mảnh vỡ của kim cương
Haithể loại nguyên nhân
Tiếptục những luận cứ về những mãnh vỡ của kim cương
Luậncứ quan trọng về những nguồn gốc tương liên
Luậncứ liên quan đến hiện-hữu và phi-hiện-hữu
Ướcvọng thực hiện được sự hiểu biết siêu nhiên về Tánhkhông
12Phát huy tâm thức giác ngộ

Yêuthương kẻ khác là một sự lợi ích
Làmphát sinh tâm thức giác ngộ
Ghichú

Thưmục

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/04/2017(Xem: 9036)
Phương pháp Thập Niệm do một vị Đại sư nổi tiếng giảng dạy dựa trên sự vãng sanh Hạ phẩm được diễn tả trong Quán Kinh. Phương pháp nầy đặc biệt dành cho những người quá bận bịu với cuộc sống nên hằng ngày không thể niệm Phật (nhiều lần) để cầu vãng sanh như người tu Tịnh độ bình thường. Do đó, cách nầy dạy niệm danh hiệu Phật A-di-đà khoảng mười lần mỗi khi hít vào và thở ra. Chủ đích của phương pháp nầy là dùng hơi thở để tập trung tâm ý. Tùy theo hơi thở dài hay ngắn mà hành giả có thể niệm được nhiều hơn hay ít hơn 10 danh hiệu. Sau mười lần hít vô--thở ra (tức là niệm được tổng cộng khoảng từ 50 đến 100 câu Phật hiệu), hành giả có thể bắt đầu tụng bài thơ hồi hướng công đức sau đây:
02/04/2017(Xem: 12330)
Theo âm Hán Viêt, A Di Đà Phật có nghĩa là Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật, Tây Phương Phật. Trong kinh A Di Đà, Đức Phật Thích Ca giảng là Phật A Di Đà, Giáo Chủ cõi Cực Lạc (Soukhavati (Scr.), ở phương Tây, cách cõi Ta Bà của chúng ta mười vạn ức cõi Phật. Đó là một cõi đầy đủ các công đức trang nghiêm. Lầu các, cây cối, đất đai toàn là châu báu. Nào là các loài chim bạch hạt, khổng tước, anh võ, xá lợi, ca lăng tầng già v.v… ngày đêm sáu thời ca hát ra những lời pháp: năm căn, năm lực, bảy món bồ đề, bát chánh đạo…
27/03/2017(Xem: 5833)
Tịnh độ tông là tên gọi chung của tất cả những giáo lí dạy rằng chúng sanh có thể thành Phật nếu được vãng sanh về cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà. Ở Ấn độ. giáo lí nầy được các ngài Mã Minh, Long Thọ và Thế Thân giảng dạy trên cơ sở nhiều kinh điển khác nhau, như hai bộ kinh A-di-đà. Lịch sử của Tịnh độ tông bắt đầu từ Ấn độ thời cổ đại, nhưng thời đó truyền thống đức tin chưa được nhấn mạnh. Mặc dầu Ấn-độ lúc đó đã có một môn phái thờ đức A-di-đà, sự kính ngưỡng Ngài chỉ là một trong các cách thực hành của Phật giáo Đại thừa lúc ban sơ.
07/09/2016(Xem: 10025)
Theo lời giới thiệu của nhà xuất bản Seuil, Paris, thì Jean Eracle nguyên là Quản Đốc Viện Bảo Tàng Dân Tộc Học Á Châu, đặt trụ sở tại Geneva, Thụy Sỹ. Do một nhân duyên vô cùng kỳ lạ, ông được sang Nhật-bản lưu trú suốt mấy mươi năm để học hỏi cùng thực hành Niệm Phật theo giáo pháp của “Đạo Phật Chân Chánh trong Pháp môn Tịnh-độ” tức Tịnh-độ Chân-tông do Ngài Thân Loan Thánh Nhân khai sáng cách đây gần 8 thế kỷ.
28/04/2016(Xem: 37426)
Thiền, Tịnh, Mật được xem là ba pháp môn tu truyền thống của Phật giáo Việt Nam xưa nay. Thiền giáo xuất hiện từ thời Khương Tăng Hội, Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông. Các thế kỷ sau, kinh điển Đại thừa được truyền bá, theo đó tư tưởng Thiền, Tịnh và Mật được phổ biến tại nước ta. Từ lịch sử phát triển Phật giáo Việt Nam cho thấy, ba pháp môn tu đó có sự đóng góp tích cực cho con người và xã hội qua nhiều thời đại.
15/02/2016(Xem: 14036)
Trong bổn hội các liên hữu đồng tu, đều tuân theo tu học Tịnh Độ Ngũ Kinh và Tịnh Độ Thập Yếu, đặc biệt là Kinh Vô Lương Thọ, bản hội tập của Hạ Liên Cư Đại Sĩ, Di Đà Yếu Giải, Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, nhất định phải y cứ ba bộ kinh này tu học, dốc hết toàn lực, nghiên cứu học tập kinh luận Đại Thừa mới có thể tương ứng với Tịnh Tông. Bổn hội đặc biệt chú trọng hành giải tương ứng, tâm khẩu nhất như, cho nên hành môn là mọi người phải phát nguyện, cho đến mức cùng đời vị lai. Tuân theo Quán Kinh tu Tam Phước, Lục Hòa, Tam Học, Lục Độ, Thập Đại Nguyện Vương.
23/12/2015(Xem: 13503)
Hễ phát tiểu nguyện thì không hợp nhân quả, chẳng được vãng sanh. Tại sao ? Vì tiểu nguyện chỉ phát nguyện cho một mình được vãng sanh, nếu không trở lại đầu thai thì làm sao có quả báo ? Bây giờ chẳng nói về kiếp trước, chỉ nói kiếp này : Từ nhỏ tới lớn có sát sanh không? Có giết chết con muỗi con kiến không ? Có ăn thịt chúng sanh không ? Theo nhân quả là một mạng phải đền một mạng, ăn một cục thịt trả một cục thịt, thế thì làm sao trả nợ mạng, nợ thịt? Nên phải phát đại nguyện.
24/07/2015(Xem: 22288)
Tập sách này không phải là một tiểu luận về tâm lý học nên không thể bao quát hết mọi vấn đề nhân sinh, mục đích của nó nói lên sự tương quan của Ý, Tình, Thân và tiến trình phiền não...
10/07/2015(Xem: 8712)
Hầu hết các kinh luận Đại thừa đa số đều thuyết minh tổng quát về pháp môn niệm Phật. Trên thực tế hình thành pháp môn Tịnh Độ phổ biến từ tư tưởng các bộ kinh căn bản như Kinh Bát Chu Tam Muội (Ban Châu Tam Muội), Kinh A Di Đà, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Hoa Nghiêm và Kinh Thủ Lăng Nghiêm và nhiều bộ kinh khác. Pháp niệm Phật đến với quần chúng ước tính khoảng mười tám thế kỷ qua (Tính từ khi Kinh Ban Châu Tam Muội được dịch tại Trung quốc năm 179 s.dl.), và pháp môn Tịnh Độ được hình thành và phát triển thời tổ sư Huệ Viễn (334-416 TL) cho đến ngày nay. Thực tế lịch sử đã chứng minh pháp môn niệm Phật đã đóng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực truyền bá Phật giáo Đại thừa. Y cứ từ kinh điển liên quan Pháp môn niệm Phật, trên căn bản thì thiền sư Tông Mật (784-841), tổ thứ năm của tông Hoa Nghiêm đã phân thành bốn phương pháp niệm Phật. Đó là trì danh niệm Phật, quán tượng niệm Phật, quán tưởng niệm Phật và thật tướng niệm Phật. Từ thời đại Tổ Liên Trì về sau
25/06/2015(Xem: 8232)
Trong Phật pháp có nhiều pháp môn tu học học và hướng đến giác ngộ giải thoát. Giác ngộ là thấy rõ đạo lý duyên khởi của nhân sanh và vũ trụ. Giải thoát có nghĩa là dứt sự khổ đau luân hồi do tâm thức chấp thật ngã và thật pháp tạo vọng nghiệp. Chung quy tu tập theo Phật giáo nhận thức rõ giải thoát là từ tâm này, luân hồi sanh tử cũng do tâm này, vì tâm này là chủ nhân của muôn pháp. Kinh Tâm Địa Quán có dạy: “Tâm sanh thì pháp sanh,