Những ngày mùa đông bão tuyết tơi bời, thời tiết khắc nghiệt với cái lạnh cắt da cắt thịt
Những ngày tháng nước Mỹ loạn động bất an, lực lượng kiêu binh khủng bố gây sợ sệt, bất an và bất bình trong dân chúng. Sự kiện các nhà sư đi bộ vì hòa bình (Walk For Peace) đã đem lại làn sóng an lạc, yêu thương, hy vọng, hòa bình, giải thoát…cho dân chúng suốt hành trình từ Texas đến Washington và cả những người xem qua mạng xã hội hay các cơ quan truyền thông. Âm hưởng của làn sóng tích cực lan tỏa sâu rộng trong mọi giai tầng xã hội, vượt khỏi biên giới quốc gia.
Hai mươi sáu thế kỷ trước, đức Phật và tăng đoàn cũng đi bộ khắp xứ Ấn Độ. Đi bộ để đem lại hy vọng, từ bi, hòa bình, giải thoát. Đi bộ để lan tỏa ánh đạo vàng. Đi bộ là thân giáo, thân giáo mới thiết thực và hiệu quả. Ngôn giáo mà không có thân giáo thì chỉ là lý thuyết suông thì làm sao thuyết phục được người đời.
Ngày đức Phật thành đạo là ngày quan trọng, ngày hoan hỷ biết bao. Từ đây mở ra con đường trung đạo, con đường giải thoát, con đường sáng mà từ lịch kiếp loài người tìm kiếm.
Đức Phật ngồi dưới cội bồ đề, khi saos mai lấp lánh trên bầu trời cũng là lúc ngài đắc thành chánh đẳng chánh giác. Nào phải đức Phật thiền định trong bốn mươi chín ngày mà thành đạo, đọc kinh sách chúng ta thấy ngài đã trải qua vô số kiếp, ngôn từ kinh điển là ba a tăng kỳ kiếp. Đây là con số không thể tính đếm được. Ngài đã trải qua vô số kiếp làm trời, người, súc sanh và kiếp cuối cùng hiện thân làm thái tử ở Ấn Độ.
Trước khi khai phá con đường trung đạo. Đức Phật đã trải qua nhiều phương pháp tu hành, học hỏi từ nhiều vị thầy khác nhau và ngài nhận thức được các con đường ấy không thể nào dẫn đến giải thoát. Các phương pháp tu hành ấy chỉ có thể đạt phước báu nhân thiên mà thôi! Đến như Đại Phạm Thiên thọ tám vạn đại kiếp nhưng khi hết phước báo vẫn đọa lạc như thường.
Con đường trung đạo ấy chính là bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Trung đạo là con dường duy nhất để chuyển phàm thành thánh, con đường duy nhất để đi đến giải thoát.
Tu bát chánh đạo, thực hành bát chánh đạo là cốt lõi, là con đường đúng đắn để chuyển phàm thành thánh, bất kể tu theo truyền thống nào, môn phái nào, dòng truyền thừa nào. Các tông môn pháp phái, các truyền thống tu tập bản địa… có thể khác nhau về cách hành trì, khác nhau về phương pháp… nhưng cốt lõi của giáo pháp thì không khác, một khi bỏ cốt lõi căn bản là hỏng.
Phật giáo truyền thừa qua hai mươi sáu thế kỷ, trải rộng nhiều địa phương khác nhau, dĩ nhiên là sẽ có nhiều thêm bớt, cải biên, biến đổi… để phù hợp trình độ tiếp nhận, văn hóa và tập quán của cư dân bản địa. Bởi vậy mà Phật giáo ngày nay rất đa dạng, rất khác nhau về phẩm phục, nghi lễ, hình tướng, màu sắc…Đã, đang và sẽ có những bất đồng về phương pháp tu hành giữa các dòng truyền thừa. Có những ý kiến thuận nghịch về “con đường duy nhất” của Phật giáo Nguyên Thủy, Nam Tông, Bắc Tông, Kim Cang Thừa…Nói gì thì nói, nếu y cứ vào bát chánh đạo mà hành trì thì tuyệt đối đúng. Bát chánh đạo là trung đạo, là con đường giải thoát mà đức Phật khai phá. Nhờ con đường trung đạo mà đức Phật đắc đạo, nhờ trung đạo mà các thánh tăng đã thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Phật giáo Bắc truyền mà cụ thể là Tịnh Độ tông có phương pháp niệm danh hiệu Phật. Phương pháp này với ba kinh làm tông là: Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ và kinh Quán Vô Lượng Thọ. Tịnh Tông lấy câu Phật hiệu để hành trì, dùng danh hiệu Phật để nhiếp tâm. Trụ vào Phật hiệu thay vì trụ vào ngũ dục lục trần để cho tâm thanh tịnh. Một khi tâm thanh tịnh thì vãng sanh vào Phật quốc và từ đây con đường tu hành không còn bị thối chuyển. Phương pháp trì niệm danh hiệu Phật bị bài bác bởi nhiều vị tu theo truyền thống Nguyên Thủy và Nam tông vì họ cho là không đúng với “con dường duy nhất”.
Phương pháp trì niệm danh hiệu Phật là phương pháp trụ tâm, nhiếp tâm, tịnh tâm. Thay vì để tâm trụ vào Tài, sắc, danh, thực, thùy; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp giờ mình chỉ trụ vào câu Phật hiệu, dùng câu Phật hiệu để thanh tịnh hóa tâm mình. Một khi tuổi thọ hết thì tái sanh vào cảnh giới tương ưng với mức độ tâm thanh tịnh mà mình đạt được.
Cực Lạc, Tịnh Độ nếu hiểu về sự thì đó là một cảnh giới thật nơi đức Phật A Di Đà đang giáo hóa. Còn về lý thì Cực Lạc hay Tịnh Độ là một cảnh giới thanh tịnh, một môi trường tu học thuận duyên, nơi mà người ở đấy chỉ có tinh tấn tiến về trước chứ không có thối lui. Ta có thể ví dụ một cách thô thiển như thế này: Cảnh giới sống trong hoàng cung hay môi trường sống của một gia đình tỷ phú. Nơi ấy vô cùng sạch, xanh, đẹp, toàn hoa thơm cỏ lạ, vật chất đầy đủ và dĩ nhiên là những người sống ở đấy sẽ được dạy và học bởi những vị thầy xuất sắc nhất. Những người sống ở nơi ấy chỉ có tiến triển chứ không có thối lui. So sánh tỷ dụ một cách khập khiễng chứ cảnh giới Cực Lạc khó nghĩ bàn, không thể nào so sánh được. Cực Lạc là nơi toàn chư thượng thiện nhơn, nước chảy, hoa rơi, chim hót… đều là pháp âm cả. Sống và tu học ở môi trường không có ngũ dục lục trần làm nhiễm ô, không có thất tình lục dục làm loạn động thì không thối chuyển là lẽ đương nhiên. Tóm lại cảnh giới Cực Lạc là cảnh giới tu học chỉ có tiến chứ không có lùi.
Toàn bộ Phật pháp không ngoài việc thanh tịnh tâm và mục đích tối thượng là giải thoát. Muốn giải thoát thì phải thanh tịnh tâm. Muốn thanh tịnh tâm thì phải đi theo con đường trung đạo. Cảnh giới Sa Bà hay Cực Lạc chỉ là môi trường tu học. Niệm Phật hay tứ niệm xứ là phương pháp tu học. Phương pháp khác nhau thì mức độ thanh tịnh tâm và thời gian đạt đến khác nhau. Dù có thế nào đi nữa thì cũng đều đi đến thanh tịnh tâm.
Ngày Phật thành đạo là ngày chư Phật ba đời mười phương hoan hỷ. Ngày Phật thành đạo là ngày hạnh phúc của loài người và chư thiên. Từ đây loài người có con đường sáng để đi đến hạnh phúc, hạnh phúc cỡ nào thì phụ thuộc vào mức độ thanh tịnh tâm. Hạnh phúc tột cùng chính là giải thoát, là chấm dứt khổ đau ra khỏi sanh tử luân hồi.
Đồng Thiện (TLTP)
Ất Lăng thành, 0426
