Nhân ngày Đức Thế Tôn thành đạo

04/04/202616:21(Xem: 57)
Nhân ngày Đức Thế Tôn thành đạo

phat thuyet phap-4

NHÂN NGÀY
THẾ TÔN THÀNH ĐẠO

 

Những ngày mùa đông bão tuyết tơi bời, thời tiết khắc nghiệt với cái lạnh cắt da cắt thịt

Những ngày tháng nước Mỹ loạn động bất an, lực lượng kiêu binh khủng bố gây sợ sệt, bất an và bất bình trong dân chúng. Sự kiện các nhà sư đi bộ vì hòa bình (Walk For Peace) đã đem lại làn sóng an lạc, yêu thương, hy vọng, hòa bình, giải thoát…cho dân chúng suốt hành trình từ Texas đến Washington và cả những người xem qua mạng xã hội hay các cơ quan truyền thông. Âm hưởng của làn sóng tích cực lan tỏa sâu rộng trong mọi giai tầng xã hội, vượt khỏi biên giới quốc gia.

Hai mươi sáu thế kỷ trước, đức Phật và tăng đoàn cũng đi bộ khắp xứ Ấn Độ. Đi bộ để đem lại hy vọng, từ bi, hòa bình, giải thoát. Đi bộ để lan tỏa ánh đạo vàng. Đi bộ là thân giáo, thân giáo mới thiết thực và hiệu quả. Ngôn giáo mà không có thân giáo thì chỉ là lý thuyết suông thì làm sao thuyết phục được người đời.

Ngày đức Phật thành đạo là ngày quan trọng, ngày hoan hỷ biết bao. Từ đây mở ra con đường trung đạo, con đường giải thoát, con đường sáng mà từ lịch kiếp loài người tìm kiếm.

Đức Phật ngồi dưới cội bồ đề, khi saos mai lấp lánh trên bầu trời cũng là lúc ngài đắc thành chánh đẳng chánh giác. Nào phải đức Phật thiền định trong bốn mươi chín ngày mà thành đạo, đọc kinh sách chúng ta thấy ngài đã trải qua vô số kiếp, ngôn từ kinh điển là ba a tăng kỳ kiếp. Đây là con số không thể tính đếm được. Ngài đã trải qua vô số kiếp làm trời, người, súc sanh và kiếp cuối cùng hiện thân làm thái tử ở Ấn Độ.

Trước khi khai phá con đường trung đạo. Đức Phật đã trải qua nhiều phương pháp tu hành, học hỏi từ nhiều vị thầy khác nhau và ngài nhận thức được các con đường ấy không thể nào dẫn đến giải thoát. Các phương pháp tu hành ấy chỉ có thể đạt phước báu nhân thiên mà thôi! Đến như Đại Phạm Thiên thọ tám vạn đại kiếp nhưng khi hết phước báo vẫn đọa lạc như thường.

Con đường trung đạo ấy chính là bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Trung đạo là con dường duy nhất để chuyển phàm thành thánh, con đường duy nhất để đi đến giải thoát.

Tu bát chánh đạo, thực hành bát chánh đạo là cốt lõi, là con đường đúng đắn để chuyển phàm thành thánh, bất kể tu theo truyền thống nào, môn phái nào, dòng truyền thừa nào. Các tông môn pháp phái, các truyền thống tu tập bản địa… có thể khác nhau về cách hành trì, khác nhau về phương pháp… nhưng cốt lõi của giáo pháp thì không khác, một khi bỏ cốt lõi căn bản là hỏng.

Phật giáo truyền thừa qua hai mươi sáu thế kỷ, trải rộng nhiều địa phương khác nhau, dĩ nhiên là sẽ có nhiều thêm bớt, cải biên, biến đổi… để phù hợp trình độ tiếp nhận, văn hóa và tập quán của cư dân bản địa. Bởi vậy mà Phật giáo ngày nay rất đa dạng, rất khác nhau về phẩm phục, nghi lễ, hình tướng, màu sắc…Đã, đang và sẽ có những bất đồng về phương pháp tu hành giữa các dòng truyền thừa. Có những ý kiến thuận nghịch về “con đường duy nhất” của Phật giáo Nguyên Thủy, Nam Tông, Bắc Tông, Kim Cang Thừa…Nói gì thì nói, nếu y cứ vào bát chánh đạo mà hành trì thì tuyệt đối đúng. Bát chánh đạo là trung đạo, là con đường giải thoát mà đức Phật khai phá. Nhờ con đường trung đạo mà đức Phật đắc đạo, nhờ trung đạo mà các thánh tăng đã thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Phật giáo Bắc truyền mà cụ thể là Tịnh Độ tông có phương pháp niệm danh hiệu Phật. Phương pháp này với ba kinh làm tông là: Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ và kinh Quán Vô Lượng Thọ. Tịnh Tông lấy câu Phật hiệu để hành trì, dùng danh hiệu Phật để nhiếp tâm. Trụ vào Phật hiệu thay vì trụ vào ngũ dục lục trần để cho tâm thanh tịnh. Một khi tâm thanh tịnh thì vãng sanh vào Phật quốc và từ đây con đường tu hành không còn bị thối chuyển. Phương pháp trì niệm danh hiệu Phật bị bài bác bởi nhiều vị tu theo truyền thống Nguyên Thủy và Nam tông vì họ cho là không đúng với “con dường duy nhất”.

Phương pháp trì niệm danh hiệu Phật là phương pháp trụ tâm, nhiếp tâm, tịnh tâm. Thay vì để tâm trụ vào Tài, sắc, danh, thực, thùy; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp giờ mình chỉ trụ vào câu Phật hiệu, dùng câu Phật hiệu để thanh tịnh hóa tâm mình. Một khi tuổi thọ hết thì tái sanh vào cảnh giới tương ưng với mức độ tâm thanh tịnh mà mình đạt được.

Cực Lạc, Tịnh Độ nếu hiểu về sự thì đó là một cảnh giới thật nơi đức Phật A Di Đà đang giáo hóa. Còn về lý thì Cực Lạc hay Tịnh Độ là một cảnh giới thanh tịnh, một môi trường tu học thuận duyên, nơi mà người ở đấy chỉ có tinh tấn tiến về trước chứ không có thối lui. Ta có thể ví dụ một cách thô thiển như thế này: Cảnh giới sống trong hoàng cung hay môi trường sống của một gia đình tỷ phú. Nơi ấy vô cùng sạch, xanh, đẹp, toàn hoa thơm cỏ lạ, vật chất đầy đủ và dĩ nhiên là những người sống ở đấy sẽ được dạy và học bởi những vị thầy xuất sắc nhất. Những người sống ở nơi ấy chỉ có tiến triển chứ không có thối lui. So sánh tỷ dụ một cách khập khiễng chứ cảnh giới Cực Lạc khó nghĩ bàn, không thể nào so sánh được. Cực Lạc là nơi toàn chư thượng thiện nhơn, nước chảy, hoa rơi, chim hót… đều là pháp âm cả. Sống và tu học ở môi trường không có ngũ dục lục trần làm nhiễm ô, không có thất tình lục dục làm loạn động thì không thối chuyển là lẽ đương nhiên. Tóm lại cảnh giới Cực Lạc là cảnh giới tu học chỉ có tiến chứ không có lùi.

Toàn bộ Phật pháp không ngoài việc thanh tịnh tâm và mục đích tối thượng là giải thoát. Muốn giải thoát thì phải thanh tịnh tâm. Muốn thanh tịnh tâm thì phải đi theo con đường trung đạo. Cảnh giới Sa Bà hay Cực Lạc chỉ là môi trường tu học. Niệm Phật hay tứ niệm xứ là phương pháp tu học. Phương pháp khác nhau thì mức độ thanh tịnh tâm và thời gian đạt đến khác nhau. Dù có thế nào đi nữa thì cũng đều đi đến thanh tịnh tâm.

Ngày Phật thành đạo là ngày chư Phật ba đời mười phương hoan hỷ. Ngày Phật thành đạo là ngày hạnh phúc của loài người và chư thiên. Từ đây loài người có con đường sáng để đi đến hạnh phúc, hạnh phúc cỡ nào thì phụ thuộc vào mức độ thanh tịnh tâm. Hạnh phúc tột cùng chính là giải thoát, là chấm dứt khổ đau ra khỏi sanh tử luân hồi.

Đồng Thiện (TLTP)
Ất Lăng thành, 0426

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/01/2026(Xem: 994)
Hơn hai mươi sáu thế kỷ trước, dưới cội Bồ-đề, Đức Thế Tôn thấu triệt ba minh, viên thành tuệ giác, chứng đắc quả vị Tối thượng trong thế gian, khai mở con đường chân lý chấm dứt khổ đau cho nhân loại. Trải qua thời gian hơn hai ngàn sáu trăm năm, giáo pháp của Thế Tôn lưu nhuận khắp các quốc độ, tùy sở trụ xứ mà mang lại an lạc cho muôn loài. Ánh sáng chân lý năm xưa từ nơi Bồ-đề đạo tràng đã soi rọi đến quốc độ của người Việt từ thuở bình minh dựng nước. Trải qua nhiều thế kỷ, ánh sao mai năm nào nơi xứ Ấn đã hóa hiện thành những cành mai sân trước của người Việt. Để từ đó, pháp học, pháp hành của ba đời mười phương chư Phật lợi lạc cho số đông thấm vào tâm hồn của người Việt, hàng ngàn thế hệ con cháu Rồng Tiên đã thu nhiếp và hành trì giáo pháp Phật đà tương ứng với căn tính dân tộc trên nền tảng những tín tâm bất hoại.
23/01/2026(Xem: 754)
Một sáng con quay về Thăm lại cây đại thọ Nơi đây Phật thiền toạ Chứng đạo quả Bồ Đề Ngày ấy của năm nào Nhằm mùng tám tháng chạp Vầng hào quang soi sáng Dẫy sạch bụi trần lao.
23/01/2026(Xem: 935)
Có những nỗi sợ là dấu hiệu của một lương tri còn sống Giúp phân biệt từ bi và dính mắc rất rõ ràng Ranh giới của một vùng trách nhiệm an toàn Không còn vô minh, không muốn quay lại cũ !
23/01/2026(Xem: 954)
Cuộc đời và con đường giác ngộ của Ngài là minh chứng rõ nét cho việc sử dụng tư duy phản biện để tìm ra sự thật, kết hợp với một đời sống đạo đức mẫu mực. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một hiền triết vĩ đại, người đã dùng tư duy phản biện sắc bén để phá bỏ những định kiến sai lầm, và dùng đạo đức, từ bi vô lượng để xây dựng một con đường giải thoát chân chính cho nhân loại. Ngài là minh chứng sống cho thấy tư duy phản biện và đạo đức cao thượng hoàn toàn có thể song hành với nhau.
23/01/2026(Xem: 843)
Ngày cuối năm, gió lạnh lùa qua mép cửa, những chùm hoa dại rũ mình uống ánh trăng đêm. Mùa của những bình yên, được gọi tên như món quà xoa dịu lòng người, vun vén những giấc mơ còn bỏ ngỏ! Con khẽ với tay nắm lấy nhành lá khô đang mọc những chồi non, trở mình tỉnh giấc sau một năm dài ẩn mình trong sương, gió. Người cũng đưa tay đón chút nắng cuối ngày, vẽ lên đó những mong ước lặng thầm, giữa một chiều trầm mặc!
06/01/2025(Xem: 3985)
Kính lạy bậc kỳ vĩ xuất hiện, từ ngàn năm trong thế giới (1) Gây âm vang chấn động, mở ra một kỷ nguyên Mang ánh sáng đi vào đời, với phương pháp tịnh Thiền Giúp người người tìm về Chánh Pháp mầu nhiệm
22/06/2024(Xem: 4737)
Bộ hành là bước đi của chân. Nơi đây, trong bài này, chỉ có ý nói rằng xin mời gọi bước đi của tâm: khuyến tấn cả nước cùng nhau bộ hành theo dòng Kinh Phật, cùng tập thói quen đọc kinh, suy nghĩ về kinh, để tâm hướng theo lời kinh dạy, và hàng ngày hãy làm như thế trong những điều kiện có thể của từng Phật tử, từng ngôi chùa. Nói theo chữ cổ, hàng ngày hãy tự xem hành động đọc, nghĩ, và làm theo lời Phật dạy cũng là một hạnh đầu đà. Nếu chúng ta đi bộ bằng chân, độ dài chỉ có thể đo bằng kilômét trong lãnh thổ Việt Nam. Trong khi, nếu chúng ta bước đi bằng tâm, hàng ngày mở trang kinh ra, để đọc, để nghĩ và để làm – thì độ dài của kinh và luận sẽ là nhiều ngàn năm, trải rộng cả Ấn Độ, Tích Lan, Trung Hoa, Việt Nam, Hoa Kỳ, Úc châu… Và sẽ không làm cản trở giao thông của bất cứ ai, bất cứ nơi nào.
19/06/2024(Xem: 10075)
Khi nói tới chuyện trao truyền y bát, chỉ là sử dụng một kiểu ngôn ngữ ước lệ. Nơi đây, chúng ta muốn nói tới một thẩm quyền sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Nghĩa là, một thẩm quyền tối hậu để nương tựa. Khi dò lại kinh, chúng ta sẽ thấy câu chuyện phức tạp hơn. Vì có nơi Đức Phật nói rằng sau khi ngài nhập Niết Bàn, tứ chúng hãy chỉ dựa vào Chánh pháp. Kinh lại nói rằng tứ chúng chỉ nên dựa vào Kinh và Luật. Mặt khác, Đức Phật nói rằng có những kinh cần giải nghĩa (tức là, hãy nhìn mặt trăng, chứ đừng chấp vào ngón tay, và từ đây mở đường cho các bộ Luận và Kinh Đại Thừa). Có lúc Đức Phật chia đôi chỗ ngồi và trao y cho ngài Ca Diếp. Có kinh ghi lời Đức Phật trao pháp kế thừa cho ngài A Nan. Và có kinh ghi lời Đức Phật ủy thác quyền lãnh đạo cho Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. Thế rồi, một hình ảnh thơ mộng từng được kể qua truyện tích Niêm Hoa Vi Tiếu, rằng Đức Phật lặng lẽ, cầm hoa lên, và ngài Ca Diếp mỉm cười. Tích này kể lời Đức Phật nói rằng ngài có một pháp môn vi diệu, không dự
06/06/2024(Xem: 3034)
Trong nhà Phật, lời nguyện là một phần có thể gặp ở bất kỳ kinh sách nào. Hầu hết các lời nguyện đều lớn vô cùng, và trải dài vô cùng tận. Trong các chùa Thiền Tông, chúng ta thường nghe tới Tứ hoằng thệ nguyện, nơi câu đầu "Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ" (Nguyện giải thoát vô số chúng sinh) đã mang tâm lượng vô biên, vô cùng tận. Trong các chùa Tịnh Độ, các bộ Kinh A Di Đà, Kinh Dược Sư đều ghi những lời nguyện lớn của các vị Phật tương ưng. Tới đây, chúng ta có thể gặp một câu hỏi, rằng có lời nguyện nào sẽ thích hợp cho kiếp này thôi. Bởi vì, có những vị tuổi thọ chỉ còn chừng vài năm nữa là sẽ qua kiếp khác. Và Đức Phật đã dạy những gì cho lời nguyện trong một kiếp ngắn hạn này?
04/06/2024(Xem: 22544)
Cùng toàn thể giới tử thọ trì Bát quan trai giới một ngày một đêm tại trú xứ Tăng già-lam Phước duyên, thành phố Huế, hiện diện quý mến. Một ngày một đêm quý vị ở trong Tịnh giới với niềm tin thanh tịnh, kiên cố, bất hoại đối với Tam bảo. Nhờ niềm tin này mà quý vị không để cho Giới pháp của mình bị sứt mẻ ở trong đi, ở trong đứng, ở trong nằm, ở trong ngồi, ở trong sự nói năng, giao tiếp. Quý vị có được niềm tin này là nhờ quý vị nuôi lớn sáu tính chất của Tam bảo, khiến cho ba nghiệp của quý vị được an tịnh, an tịnh về thân hành, an tịnh về ngữ hành, an tịnh về ý hành. Sáu tính chất của Tam bảo, quý vị phải thường quán chiếu sâu sắc, để thể nhập và tạo ra chất liệu cho chính mình, ngay đời này và đời sau. Sáu tính chất của Tam bảo gồm: