Di Tử Hà (thơ)

08/05/202503:55(Xem: 5769)
Di Tử Hà (thơ)


di tu ha 2
DI TỬ HÀ

Ngày xưa, vua nước Vệ
Rất yêu Di Tử Hà,
Luôn hào phóng ban thưởng
Cả lời khen, cả quà.
Có luật, ai ăn trộm
Xe quan hay xe dân,
Sẽ bị đánh, sau đó
Bị chặt một bàn chân.
Một hôm, mẹ ốm nặng,
Đêm khuya, Di Tử Hà
Không còn kịp bẩm báo,
Lấy xe vua về nhà.
Mấy hôm sau vua Vệ
Khen rằng ông có tình,
Có hiếu với cha mẹ
Mà không nghĩ đến mình.
Lần khác, trong vườn uyển,
Vua ăn đào, thấy chua.
Ông ăn đúng quả ngọt,
Còn một nửa, dâng vua.
Vua khen ông tốt bụng.
Miếng ăn ngon trên tay
Mà biết nhường người khác.
Thật hiếm có việc này.
Nhưng mấy năm sau đó,
Mặc dù Di Tử Hà
Vẫn không hề thay đổi,
Vua Vệ ghét ông ta.
Một hôm, nhân phạm lỗi,
Vua ra lệnh chém đầu,
Vì tội xưa hỗn láo
Mượn xe mà không tâu.
Hơn thế, đáng tội chết
Vì phạm tội khi quân.
Quả đào đang ăn dở
Mà dám mời vua ăn.
*
Câu chuyện này tôi trích
Trong Cổ Học Tinh Hoa.
Quả thật không khó lắm
Rút bài học: đó là
Cùng một người, một việc,
Hoàn toàn không khác nhau.
Khi yêu thì ban thưởng.
Khi ghét thì chém đầu.

VỀ NHÀ ĐI CON

Ở một thị trấn nọ,
Không nhớ tên là gì,
Có đứa con, bố mắng,
Uất hận quá, bỏ đi.
Chỉ sau khi tỉnh rượu,
Người bố mới giật mình,
Biết mắng oan thằng bé,
Nhạy cảm và thông minh.
Lòng buồn đau, hối hận,
Ông tìm nó khắp nơi.
Ở trung tâm thị trấn,
Nơi thường xuyên đông người,
Ông treo một tấm bảng:
“Paco, về đi con.
Mai bố đến đây đón,
Bố muốn ôm con hôn.”
Hôm sau, khi ông đến,
Không thấy Paco đâu.
Nhưng có bảy đứa khác,
Cùng tên, na ná nhau.
Chúng là những đứa trẻ
Bỏ nhà đi lang thang
Vì người lớn thô lỗ,
Thiếu tế nhị, dịu dàng.
Lặng lẽ, từng đứa một,
Ông ôm chúng hồi lâu.
Và khóc, lòng đau đớn,
Không thấy Paco đâu.

I LOVE YOU!
Một cậu bé nghịch ngợm,
Bị mẹ cậu rầy la.
Bực mình, không dám cãi,
Cậu đi ra khỏi nhà.
Tới hang núi bên cạnh,
Buổi chiều, trời âm u.
Cậu chụm tay vào miệng,
Rồi hét: “I hate you!”
Ngay sau đó, hang núi,
Xuyên qua lớp sương mù,
Liền đáp lại lời cậu:
“I… I… hate… hate… you!”
Cậu sợ quá, hỏi mẹ:
“Sao có người ghét con?”
Mẹ cậu âu yếm đáp,
Kèm theo một cái hôn:
“Sống ở đời, con ạ,
Con cho đời cái gì,
Sẽ nhận lại cái ấy.
Mà nhận nhiều đôi khi.
Rồi bà đưa cậu bé
Trở lại hang sương mù.
Lần này hang đá nói:
“I… I… love… love… you!”
*
Các bạn có thế biết,
Cũng có thể là chưa,
Chân lý này đơn giản.
Nhắc lại cũng không thừa.

Thơ của Thái Bá Tân


thai ba tan
Nhà thơ Thái Bá Tân
 

LƯU Á CHÂU


Lưu Á Châu, thượng tướng
Của “đồng chí” Trung Hoa,
Đã có bài phát biểu
Hay và thật sâu xa.


Với rất nhiều thí dụ,
Cả lời nói, việc làm,
Ông nói về Trung Quốc,
Mà nghe giống Việt Nam.


Ông nói rất nhiều chuyện,
Kéo dài những mấy giờ.
Xin phép được trích, chuyển
Một số ý thành thơ.

1

Cải tà Ác thành Thiện
Là lịch sử Phương Tây.
Lịch sử của Trung Quốc
Lại làm ngược điều này.


Phương Tây gì cũng cấm,
Trừ Bản Năng con người.
Trung Quốc cho phép hết,
Trừ Bản Năng con người.


Người Trung Quốc mặc áo
Che cái dốt của mình.
Người Phương Tây cởi áo
Đón các luồng văn minh.


2

Như Hegel, ông nói
Xưa nay ở Trung Hoa
Vắng các nhà tư tưởng.
Chỉ có mưu lược gia.


Xã hội của Trung Quốc
Trọng Binh Pháp (mưu mô),
Thay cho các tư tưởng
Về Dân Chủ, Tự Do.


Ông lên án Nho Giáo
Vốn đề cao quan trường.
Chỉ làm hại xã hội
Bằng Luân Lý Đạo Thường.


3

Tiếp đến ông nói chuyện
Ở Trung Quốc ngày nay
Có ba đặc điểm lớn,
Nhất quán và thường ngày.


Một - là thói ngụy biện,
Vô tình hoặc cố tình,
Luôn nghĩ mình là đúng.
Thiên hạ là cái đinh.


Hai - là hèn với giặc,
Nhưng tàn ác với dân.
Chính quyền Mỹ, ngược lại,
Tôn trọng và sợ dân.


Văn hóa của Trung Quốc
Hướng nội, chỉ biết mình.
Nên không dám chấp nhận
Các xu hướng văn minh.


Cũng chính văn hóa ấy
Làm Trung Quốc đê hèn
Với kẻ thù xâm lược,
Nhưng ác với dân đen.


Ông nêu một thí dụ
Rằng xưa, thời chiến tranh,
Chỉ một trăm lính Nhật
Giải năm vạn tù binh,


Quân của Quốc Dân Đảng,
Tới tận Yến Tử Cơ
Để hành quyết, ấy vậy,
Mà kết quả bất ngờ -


Không một ai trong họ
Những năm vạn con người
Tìm cách trốn, chống lại
Vẻn vẹn một trăm người.


Ba - và quan trọng nhất:
Chính văn hóa Trung Hoa
Làm tâm hồn dân họ
Thành thấp hèn, xấu xa.


Một cặp vợ chồng nọ,
Không hiểu sao cãi nhau.
Bà vợ quá phẫn chí,
Lên gác, định nhảy lầu.


Láng giềng đứng phía dưới
Háo hức kêu: Nhảy đi!
Khi người ấy không nhảy,
Thì đám đông tức thì


Liền tỏ ra thất vọng.
Có người còn chửi thề
Vì hụt mất cơ hội
Được nhìn thấy máu me.


4

Một nền văn hóa khác -
Ở nước nọ, châu Âu,
Gần bảy mươi năm trước
Có chuyện tình buồn đau


Về một cô gái trẻ
Yêu một anh thợ lò.
Họ muốn thành chồng vợ,
Nhưng Số Phận không cho.


Mấy ngày trước lễ cưới,
Vị hôn thê của cô
Không may gặp tai nạn,
Vùi sâu trong hầm lò.


Bất chấp mọi sự thật,
Cô không tin điều này,
Vẫn quyết tâm chờ đợi...
Không ngờ, mới gần đây


Khi vệ sinh các mỏ,
Người ta, rất ngạc nhiên,
Tìm thấy một xác chết
Như còn sống, mới nguyên.


Đó là chàng thợ mỏ
Của cô gái năm nào.
Ngâm trong nước khoáng chất,
Da dẻ vẫn hồng hào.


Người yêu anh lúc ấy
Ở tuổi hơn tám mươi,
Mái tóc đã bạc trắng,
Móm mém cả nụ cười.


Nhưng bà đã quyết định
Làm lễ cưới với anh,
Với một người đã chết,
Dẫu cơ thể nguyên lành.


Đám cưới ấy đặc biệt
Làm tất cả láng giềng
Bật khóc vì cảm động.
Một tình yêu thiêng liêng.


Văn hóa mà nhân bản
Sẽ nuôi dưỡng tình người.
So với dân Trung Quốc
Thì một vực, một trời.


5

Vụ Mười Một tháng Chín
Nhiều người ở Thủ Đô
Đã không thương thì chớ,
Còn vỗ tay reo hò


Khi hàng nghìn người Mỹ
Chết vì Bin Laden.
Văn hóa mà khép kín
Đẻ ra người thấp hèn.


Cũng vào ngày hôm ấy,
Một phái đoàn nước ông
Đang ở thăm nước Mỹ,
Nhảy múa giữa đám đông,


Khen khủng bố chơi đẹp...
Người Mỹ cáu, và rồi
Đuổi ngay họ về nước
Và cấm cửa suốt đời.


Sáng hôm sau, dậy sớm,
Ông vội bật truyền hình
Để nghe lời bình luận
Của truyền thông nước mình


Thế mà đài, thật tiếc,
Chỉ nhắc nhở nông thôn
Củng cố tổ chức đảng
Để đảng mãi trường tồn.


Trước đó, ông kể tiếp,
Công nương Diana
Chết, đài báo Trung Quốc
Không nói gì về bà.


Thay vào đấy, liên tục
Đưa tin ở Bắc Kinh
Các trường đã khai giảng,
Trang trọng, đúng lịch trình.


Thế thì chẳng khác mấy
Đưa tin dân thủ đô
Hôm nay đã ăn sáng
Hoặc đã uống sữa bò.


Tức là đài và báo
Không quan tâm tẹo nào
Cái người dân muốn biết.
Toàn đưa tin tầm phào.


6

Khoảng mười năm về trước
Một nhóm người Trung Hoa
Vượt biên sang Anh Quốc.
Đi xe tải, đường xa,


Xe bịt kín, tất cả
Chết ngạt ở Dover,
Trừ hai người may mắn.
Sau đó, thật không ngờ,


Lãnh sự quán Trung Quốc
Không đến nhận dân mình.
Dự lễ mai táng họ
Chỉ toàn thấy người Anh.


Được hỏi thì họ đáp:
Đã là người với nhau,
Ai chết cũng thương xót.
Cả người Anh, người Tàu.


Làm sao người Trung Quốc
Có “văn hóa”, “văn minh”,
Khi chính họ hờ hững
Với đồng bào của mình?


Khi văn hóa hướng nội,
Và lãnh đạo thấp hèn,
Thì người dân không thể
Không trở thành thấp hèn.


Quy luật, đâu cũng vậy:
Quan hư thì dân hư.
Quan tốt thì dân tốt.
Không có luật bù trừ.


7

Trên xe buýt công cộng
Có một thằng lưu manh
Đánh một người nào đấy.
Nhưng hành khách xung quanh


Không một ai can thiệp,
Sợ rước vạ vào mình.
Đâu ra loại người ấy,
Vô tâm và vô tình?


Liệu có thể trông cậy
Vào những con người này
Để xây dựng xã hội
Như xã hội Phương Tây?


8

Ti-vi luôn quảng cáo
Các thiết bị an ninh,
Các loại khóa chống trộm,
Thô sơ và thông minh.


Nhà người dân Trung Quốc
Luôn kín cổng cao tường.
Đâu cũng bịt rào sắt,
Nhiều khi đến dị thường.


Đó chính là bi kịch
Của dân tộc chúng ta.
Luôn sống trong sợ hãi.
Nhà không còn là nhà.


Giả sử có cướp giết
Ở ngay nhà sát bên,
Cũng không ai động đậy.
Vì hờ hững, vì hèn.


Nó - kết quả tất yếu
Của người không tin người.
Của văn hóa khép kín
Tồn tại đã bao đời.


9

Ni-ki-ta Khu-sốp,
Tổng bí thư Liên Xô,
Lần nọ, trong hội nghị,
Đã lên tiếng rất to


Lên án sự tàn bạo
Của nguyên soái Stalin.
Bất chợt có ai đấy
Viết mảnh giấy, chuyền lên.


Mảnh giấy viết: “Rất tốt.
Nhưng sao ông trước đây,
Thời Stalin còn sống
Không lên án điều này?”


Liếc qua, Khru-sốp
Liền đọc to, và rồi
Hỏi: Ai đã viết nó?
Mời lên đây gặp tôi.


Cả phòng họp im lặng.
Cuối cùng không người nào
Đứng dậy nhận mình viết.
Khru-sốp cười: Không sao.


Giờ không có khủng bố,
Thế mà không có ai
Dám nhận mình đã viết.
Vậy thì thời độc tài


Và thanh trừng nội bộ,
Ai to gan, tự tin,
Dám công khai chỉ trích
Lãnh tụ Stalin?


10

Quân đội của nước Mỹ
Thiện chiến nhất hành tinh.
Mỹ dẫn đầu thế giới
Về khoa học, phát minh.


Nhưng cái đáng sợ nhất
Của nước Mỹ xưa nay,
Thực ra, theo tôi nghĩ,
Không phải những điều này.


Hàng triệu người bất mãn
Với chính tổ quốc mình
Đã di cư sang Mỹ,
Giúp nước Mỹ định hình.


Được tự do, dân chủ,
Những người nhập cư này
Cùng chung sức biến Mỹ
Thành siêu cường ngày nay.


Cái đáng sợ ở Mỹ
Là họ trọng nhân tài.
Có cơ chế sử dụng,
Không bỏ sót một ai.


Thể chế nhà nước họ
Chỉ cho phép người nào
Thực tài và thực đức
Được giữ chức vụ cao.


Ở Trung Quốc - lãnh đạo
Thường vô đức, vô tài.
Người tử tế, tài giỏi
Luôn bị gạt ra ngoài.


Đó là bi kịch lớn
Của dân tộc chúng ta.
Chẳng trách ta tụt hậu,
Mà mỗi ngày một xa.


Người Mỹ không ham muốn
Lãnh thổ của nước nào.
Cái họ muốn thực sự
Là xây dựng, nâng cao


Ảnh hưởng của nước họ
Về tự do, nhân quyền.
Để làm được điều ấy,
Họ sẵn sàng chi tiền.


Sức mạnh đáng sợ nhất
Của nước Mỹ, thực ra,
Là xã hội của họ
Nhân bản và hài hòa.


Là giá trị đạo đức
Và sức mạnh tinh thần.
Là Tự Do, Dân Chủ
Và Tôn Trọng Người Dân.


Vụ Mười Một tháng Chín.
Sau cú choáng ban đầu,
Nước Mỹ đã đứng dậy,
Dù vết thương rất đau.


thơ của Thái Bá Tân

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/03/2026(Xem: 1361)
Băng qua xuôi ngược giữa dòng Pháp thân linh động Nâu sồng thản nhiên Nhập dòng vạn sự tùy duyên Khiêm cung Nhường nhịn Ưu phiền tan bay Dập dìu bát nháo hôm nay Buông thư Tĩnh lự ngày mai nhẹ nhàng
25/03/2026(Xem: 1966)
Góp nhặt vô thường xếp lại ngăn, Trí tuệ giao thoa nhẹ bước chân Giấc mơ hiện về nhắc tâm trí Nhìn đời bao dung lẫn tri ân Thế gian vạn biến, đừng dính mắc Với lòng bi mẫn giải mã dần Duy trì thói quen hằng quán chiếu Chúc phúc đến ai, chữa sai lầm
23/03/2026(Xem: 1327)
Mang ơn muôn thuở khó quên Quyết tâm hành đạo đáp đền ân sâu Kiều Đàm Di Mẫu mở đầu Xuất gia thuở ấy mặc dầu gian nan Nhưng Ngài chấp nhận không màng Miễn sao được khoác y vàng Ca Sa Giúp cho nữ giới Ta Bà Có đường giải thoát xuất gia độ đời
18/03/2026(Xem: 1520)
Ở đây có một ngôi chùa Có vườn cỏ biếc bốn mùa yên an Tùng reo suối nước nhẹ nhàng Chuông ngân thanh thoát khói trầm thoảng bay Đào hồng nở thắm trên cây Xuân về vẻ đẹp khiến say lòng người Trăng vàng tỏa sáng nơi nơi Tòa sen Phật ngự cứu đời trầm luân Nụ cười thanh thản vô vàn Pháp mầu lan tỏa hào quang rạng ngời
18/03/2026(Xem: 1815)
Nhìn lá vàng rơi rơi Biết vạn vật vô thường Ngắm đóa hoa tươi nở Thấy rõ pháp duyên sanh. Thương cánh nhạn lạc đàn Kêu vang giữa trời xanh Thân phận ta nào khác Lạc lối xa cội nguồn.
18/03/2026(Xem: 1885)
Mãi miết bon chen theo trần gian hư vọng Quên mất hoàng hôn đã phủ mái đầu thưa Cái Tôi khổng lồ vẫn bám mãi dây dưa Khiến trở thành tù nhân trong chiếc lồng tri thức!
16/03/2026(Xem: 1830)
Khi biết rằng danh vọng sẽ qua, ký ức rồi phai thân người cũng trở về đất! Biết đời như áng mây trôi, nên trân quý từng khoảnh khắc đang lúc ở thế gian. Bạn. ơi , hãy nhẹ nhàng với cuộc đời mà chẳng chút bi quan Cứ sống ngay thẳng với lòng tốt , sự chân thành Và điều còn lại trở nên rất giản dị:!
13/03/2026(Xem: 1414)
Tri ân tất cả cõi này Tri ân cha mẹ bạn Thầy dạy khuyên Tri ân Tam Bảo của Thiền Tri ân đất nước Tổ tiên cội nguồn Tri ân những chuyện vui buồn Tri ân mọi sự vẫn luôn thạnh hành Tri ân các loại chúng sanh Tri ân hết những duyên lành diễn ra
13/03/2026(Xem: 2463)
“Đời người như áng mây trôi bồng bềnh giữa hư không. Biết buông nhẹ giữa nhân gian, để mai này thong dong trở về với mênh mông.” Có những lúc giữa dòng đời tất bật, ta bỗng dừng lại và tự hỏi: rốt cuộc mình đến với thế gian này để làm gì? rồi mai này sẽ đi về đâu? Bao năm tháng mải miết chạy theo danh lợi, tình tiền, hơn thua, được mất… đến khi ngoảnh lại mới thấy tất cả chỉ như một giấc mộng dài. Những điều từng khiến ta vui buồn, giận hờn hay tiếc nuối, rồi cũng sẽ lặng lẽ trôi qua như áng mây bay cuối trời.
10/03/2026(Xem: 2258)
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...