Di Tử Hà (thơ)

08/05/202503:55(Xem: 4335)
Di Tử Hà (thơ)


di tu ha 2
DI TỬ HÀ

Ngày xưa, vua nước Vệ
Rất yêu Di Tử Hà,
Luôn hào phóng ban thưởng
Cả lời khen, cả quà.
Có luật, ai ăn trộm
Xe quan hay xe dân,
Sẽ bị đánh, sau đó
Bị chặt một bàn chân.
Một hôm, mẹ ốm nặng,
Đêm khuya, Di Tử Hà
Không còn kịp bẩm báo,
Lấy xe vua về nhà.
Mấy hôm sau vua Vệ
Khen rằng ông có tình,
Có hiếu với cha mẹ
Mà không nghĩ đến mình.
Lần khác, trong vườn uyển,
Vua ăn đào, thấy chua.
Ông ăn đúng quả ngọt,
Còn một nửa, dâng vua.
Vua khen ông tốt bụng.
Miếng ăn ngon trên tay
Mà biết nhường người khác.
Thật hiếm có việc này.
Nhưng mấy năm sau đó,
Mặc dù Di Tử Hà
Vẫn không hề thay đổi,
Vua Vệ ghét ông ta.
Một hôm, nhân phạm lỗi,
Vua ra lệnh chém đầu,
Vì tội xưa hỗn láo
Mượn xe mà không tâu.
Hơn thế, đáng tội chết
Vì phạm tội khi quân.
Quả đào đang ăn dở
Mà dám mời vua ăn.
*
Câu chuyện này tôi trích
Trong Cổ Học Tinh Hoa.
Quả thật không khó lắm
Rút bài học: đó là
Cùng một người, một việc,
Hoàn toàn không khác nhau.
Khi yêu thì ban thưởng.
Khi ghét thì chém đầu.

VỀ NHÀ ĐI CON

Ở một thị trấn nọ,
Không nhớ tên là gì,
Có đứa con, bố mắng,
Uất hận quá, bỏ đi.
Chỉ sau khi tỉnh rượu,
Người bố mới giật mình,
Biết mắng oan thằng bé,
Nhạy cảm và thông minh.
Lòng buồn đau, hối hận,
Ông tìm nó khắp nơi.
Ở trung tâm thị trấn,
Nơi thường xuyên đông người,
Ông treo một tấm bảng:
“Paco, về đi con.
Mai bố đến đây đón,
Bố muốn ôm con hôn.”
Hôm sau, khi ông đến,
Không thấy Paco đâu.
Nhưng có bảy đứa khác,
Cùng tên, na ná nhau.
Chúng là những đứa trẻ
Bỏ nhà đi lang thang
Vì người lớn thô lỗ,
Thiếu tế nhị, dịu dàng.
Lặng lẽ, từng đứa một,
Ông ôm chúng hồi lâu.
Và khóc, lòng đau đớn,
Không thấy Paco đâu.

I LOVE YOU!
Một cậu bé nghịch ngợm,
Bị mẹ cậu rầy la.
Bực mình, không dám cãi,
Cậu đi ra khỏi nhà.
Tới hang núi bên cạnh,
Buổi chiều, trời âm u.
Cậu chụm tay vào miệng,
Rồi hét: “I hate you!”
Ngay sau đó, hang núi,
Xuyên qua lớp sương mù,
Liền đáp lại lời cậu:
“I… I… hate… hate… you!”
Cậu sợ quá, hỏi mẹ:
“Sao có người ghét con?”
Mẹ cậu âu yếm đáp,
Kèm theo một cái hôn:
“Sống ở đời, con ạ,
Con cho đời cái gì,
Sẽ nhận lại cái ấy.
Mà nhận nhiều đôi khi.
Rồi bà đưa cậu bé
Trở lại hang sương mù.
Lần này hang đá nói:
“I… I… love… love… you!”
*
Các bạn có thế biết,
Cũng có thể là chưa,
Chân lý này đơn giản.
Nhắc lại cũng không thừa.

Thơ của Thái Bá Tân


thai ba tan
Nhà thơ Thái Bá Tân
 

LƯU Á CHÂU


Lưu Á Châu, thượng tướng
Của “đồng chí” Trung Hoa,
Đã có bài phát biểu
Hay và thật sâu xa.


Với rất nhiều thí dụ,
Cả lời nói, việc làm,
Ông nói về Trung Quốc,
Mà nghe giống Việt Nam.


Ông nói rất nhiều chuyện,
Kéo dài những mấy giờ.
Xin phép được trích, chuyển
Một số ý thành thơ.

1

Cải tà Ác thành Thiện
Là lịch sử Phương Tây.
Lịch sử của Trung Quốc
Lại làm ngược điều này.


Phương Tây gì cũng cấm,
Trừ Bản Năng con người.
Trung Quốc cho phép hết,
Trừ Bản Năng con người.


Người Trung Quốc mặc áo
Che cái dốt của mình.
Người Phương Tây cởi áo
Đón các luồng văn minh.


2

Như Hegel, ông nói
Xưa nay ở Trung Hoa
Vắng các nhà tư tưởng.
Chỉ có mưu lược gia.


Xã hội của Trung Quốc
Trọng Binh Pháp (mưu mô),
Thay cho các tư tưởng
Về Dân Chủ, Tự Do.


Ông lên án Nho Giáo
Vốn đề cao quan trường.
Chỉ làm hại xã hội
Bằng Luân Lý Đạo Thường.


3

Tiếp đến ông nói chuyện
Ở Trung Quốc ngày nay
Có ba đặc điểm lớn,
Nhất quán và thường ngày.


Một - là thói ngụy biện,
Vô tình hoặc cố tình,
Luôn nghĩ mình là đúng.
Thiên hạ là cái đinh.


Hai - là hèn với giặc,
Nhưng tàn ác với dân.
Chính quyền Mỹ, ngược lại,
Tôn trọng và sợ dân.


Văn hóa của Trung Quốc
Hướng nội, chỉ biết mình.
Nên không dám chấp nhận
Các xu hướng văn minh.


Cũng chính văn hóa ấy
Làm Trung Quốc đê hèn
Với kẻ thù xâm lược,
Nhưng ác với dân đen.


Ông nêu một thí dụ
Rằng xưa, thời chiến tranh,
Chỉ một trăm lính Nhật
Giải năm vạn tù binh,


Quân của Quốc Dân Đảng,
Tới tận Yến Tử Cơ
Để hành quyết, ấy vậy,
Mà kết quả bất ngờ -


Không một ai trong họ
Những năm vạn con người
Tìm cách trốn, chống lại
Vẻn vẹn một trăm người.


Ba - và quan trọng nhất:
Chính văn hóa Trung Hoa
Làm tâm hồn dân họ
Thành thấp hèn, xấu xa.


Một cặp vợ chồng nọ,
Không hiểu sao cãi nhau.
Bà vợ quá phẫn chí,
Lên gác, định nhảy lầu.


Láng giềng đứng phía dưới
Háo hức kêu: Nhảy đi!
Khi người ấy không nhảy,
Thì đám đông tức thì


Liền tỏ ra thất vọng.
Có người còn chửi thề
Vì hụt mất cơ hội
Được nhìn thấy máu me.


4

Một nền văn hóa khác -
Ở nước nọ, châu Âu,
Gần bảy mươi năm trước
Có chuyện tình buồn đau


Về một cô gái trẻ
Yêu một anh thợ lò.
Họ muốn thành chồng vợ,
Nhưng Số Phận không cho.


Mấy ngày trước lễ cưới,
Vị hôn thê của cô
Không may gặp tai nạn,
Vùi sâu trong hầm lò.


Bất chấp mọi sự thật,
Cô không tin điều này,
Vẫn quyết tâm chờ đợi...
Không ngờ, mới gần đây


Khi vệ sinh các mỏ,
Người ta, rất ngạc nhiên,
Tìm thấy một xác chết
Như còn sống, mới nguyên.


Đó là chàng thợ mỏ
Của cô gái năm nào.
Ngâm trong nước khoáng chất,
Da dẻ vẫn hồng hào.


Người yêu anh lúc ấy
Ở tuổi hơn tám mươi,
Mái tóc đã bạc trắng,
Móm mém cả nụ cười.


Nhưng bà đã quyết định
Làm lễ cưới với anh,
Với một người đã chết,
Dẫu cơ thể nguyên lành.


Đám cưới ấy đặc biệt
Làm tất cả láng giềng
Bật khóc vì cảm động.
Một tình yêu thiêng liêng.


Văn hóa mà nhân bản
Sẽ nuôi dưỡng tình người.
So với dân Trung Quốc
Thì một vực, một trời.


5

Vụ Mười Một tháng Chín
Nhiều người ở Thủ Đô
Đã không thương thì chớ,
Còn vỗ tay reo hò


Khi hàng nghìn người Mỹ
Chết vì Bin Laden.
Văn hóa mà khép kín
Đẻ ra người thấp hèn.


Cũng vào ngày hôm ấy,
Một phái đoàn nước ông
Đang ở thăm nước Mỹ,
Nhảy múa giữa đám đông,


Khen khủng bố chơi đẹp...
Người Mỹ cáu, và rồi
Đuổi ngay họ về nước
Và cấm cửa suốt đời.


Sáng hôm sau, dậy sớm,
Ông vội bật truyền hình
Để nghe lời bình luận
Của truyền thông nước mình


Thế mà đài, thật tiếc,
Chỉ nhắc nhở nông thôn
Củng cố tổ chức đảng
Để đảng mãi trường tồn.


Trước đó, ông kể tiếp,
Công nương Diana
Chết, đài báo Trung Quốc
Không nói gì về bà.


Thay vào đấy, liên tục
Đưa tin ở Bắc Kinh
Các trường đã khai giảng,
Trang trọng, đúng lịch trình.


Thế thì chẳng khác mấy
Đưa tin dân thủ đô
Hôm nay đã ăn sáng
Hoặc đã uống sữa bò.


Tức là đài và báo
Không quan tâm tẹo nào
Cái người dân muốn biết.
Toàn đưa tin tầm phào.


6

Khoảng mười năm về trước
Một nhóm người Trung Hoa
Vượt biên sang Anh Quốc.
Đi xe tải, đường xa,


Xe bịt kín, tất cả
Chết ngạt ở Dover,
Trừ hai người may mắn.
Sau đó, thật không ngờ,


Lãnh sự quán Trung Quốc
Không đến nhận dân mình.
Dự lễ mai táng họ
Chỉ toàn thấy người Anh.


Được hỏi thì họ đáp:
Đã là người với nhau,
Ai chết cũng thương xót.
Cả người Anh, người Tàu.


Làm sao người Trung Quốc
Có “văn hóa”, “văn minh”,
Khi chính họ hờ hững
Với đồng bào của mình?


Khi văn hóa hướng nội,
Và lãnh đạo thấp hèn,
Thì người dân không thể
Không trở thành thấp hèn.


Quy luật, đâu cũng vậy:
Quan hư thì dân hư.
Quan tốt thì dân tốt.
Không có luật bù trừ.


7

Trên xe buýt công cộng
Có một thằng lưu manh
Đánh một người nào đấy.
Nhưng hành khách xung quanh


Không một ai can thiệp,
Sợ rước vạ vào mình.
Đâu ra loại người ấy,
Vô tâm và vô tình?


Liệu có thể trông cậy
Vào những con người này
Để xây dựng xã hội
Như xã hội Phương Tây?


8

Ti-vi luôn quảng cáo
Các thiết bị an ninh,
Các loại khóa chống trộm,
Thô sơ và thông minh.


Nhà người dân Trung Quốc
Luôn kín cổng cao tường.
Đâu cũng bịt rào sắt,
Nhiều khi đến dị thường.


Đó chính là bi kịch
Của dân tộc chúng ta.
Luôn sống trong sợ hãi.
Nhà không còn là nhà.


Giả sử có cướp giết
Ở ngay nhà sát bên,
Cũng không ai động đậy.
Vì hờ hững, vì hèn.


Nó - kết quả tất yếu
Của người không tin người.
Của văn hóa khép kín
Tồn tại đã bao đời.


9

Ni-ki-ta Khu-sốp,
Tổng bí thư Liên Xô,
Lần nọ, trong hội nghị,
Đã lên tiếng rất to


Lên án sự tàn bạo
Của nguyên soái Stalin.
Bất chợt có ai đấy
Viết mảnh giấy, chuyền lên.


Mảnh giấy viết: “Rất tốt.
Nhưng sao ông trước đây,
Thời Stalin còn sống
Không lên án điều này?”


Liếc qua, Khru-sốp
Liền đọc to, và rồi
Hỏi: Ai đã viết nó?
Mời lên đây gặp tôi.


Cả phòng họp im lặng.
Cuối cùng không người nào
Đứng dậy nhận mình viết.
Khru-sốp cười: Không sao.


Giờ không có khủng bố,
Thế mà không có ai
Dám nhận mình đã viết.
Vậy thì thời độc tài


Và thanh trừng nội bộ,
Ai to gan, tự tin,
Dám công khai chỉ trích
Lãnh tụ Stalin?


10

Quân đội của nước Mỹ
Thiện chiến nhất hành tinh.
Mỹ dẫn đầu thế giới
Về khoa học, phát minh.


Nhưng cái đáng sợ nhất
Của nước Mỹ xưa nay,
Thực ra, theo tôi nghĩ,
Không phải những điều này.


Hàng triệu người bất mãn
Với chính tổ quốc mình
Đã di cư sang Mỹ,
Giúp nước Mỹ định hình.


Được tự do, dân chủ,
Những người nhập cư này
Cùng chung sức biến Mỹ
Thành siêu cường ngày nay.


Cái đáng sợ ở Mỹ
Là họ trọng nhân tài.
Có cơ chế sử dụng,
Không bỏ sót một ai.


Thể chế nhà nước họ
Chỉ cho phép người nào
Thực tài và thực đức
Được giữ chức vụ cao.


Ở Trung Quốc - lãnh đạo
Thường vô đức, vô tài.
Người tử tế, tài giỏi
Luôn bị gạt ra ngoài.


Đó là bi kịch lớn
Của dân tộc chúng ta.
Chẳng trách ta tụt hậu,
Mà mỗi ngày một xa.


Người Mỹ không ham muốn
Lãnh thổ của nước nào.
Cái họ muốn thực sự
Là xây dựng, nâng cao


Ảnh hưởng của nước họ
Về tự do, nhân quyền.
Để làm được điều ấy,
Họ sẵn sàng chi tiền.


Sức mạnh đáng sợ nhất
Của nước Mỹ, thực ra,
Là xã hội của họ
Nhân bản và hài hòa.


Là giá trị đạo đức
Và sức mạnh tinh thần.
Là Tự Do, Dân Chủ
Và Tôn Trọng Người Dân.


Vụ Mười Một tháng Chín.
Sau cú choáng ban đầu,
Nước Mỹ đã đứng dậy,
Dù vết thương rất đau.


thơ của Thái Bá Tân

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/02/2026(Xem: 2108)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 1980)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 1675)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 1627)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
24/01/2026(Xem: 2139)
Bính Ngọ Xuân về tỏa ngát hương Hoa ngàn cỏ nội đẹp muôn phương Yên bình vũ trụ qua tai chướng Tĩnh tại mây trời lắng họa vương Thế sự chan hòa xa ác tưởng Nhân dân vững mạnh hướng an tường Nghĩa ân mầu nhiệm lòng luôn dưỡng Phật pháp thâm huyền phát nguyện nương..!
23/01/2026(Xem: 1628)
Một lần tịch tĩnh rừng hoang Sao Mai huyền diệu óng vàng trời đêm Cỏ lau thức giấc êm đềm Khuya bên bếp lạnh khưi niềm ủ tro Tâm tư hạt thóc rợp cờ Viễn trình sinh tử phất phơ năm màu Nỗi hờn tủi nhục tan mau
22/01/2026(Xem: 1323)
Hai ngàn năm Thế Tôn khuất bóng Lời dạy xưa còn vọng đến nay Chỉ là nắm lá trong tay Vẫn tròn huệ mạng Như Lai ba đời Đúng diệu pháp, một lời cũng đủ Đủ bao hàm pháp nhũ Phật thân Một lời như thật, như chân Cho ra diệu dụng vạn lần hư ngôn Biển trầm luân sóng dồn gió dập
20/01/2026(Xem: 1558)
QUÁN Mắt trông năm cùng tháng tận Ngắm dòng sống hiểu thực hư Không gian không ngừng tĩnh động Sáu thời vẫn vậy phù hư. LẶNG Xập xình hòa vui tiếng nhạc Xóm quê thay sắc rộn ràng Hẻm cùng gió tung bụi rác Thi nhân ngưng nhịp gác đàn.
15/01/2026(Xem: 1847)
chén cơm tù cúng Phật xiềng xích hóa bụi tro hư không nhập lòng đất trăng trời trải ngàn hoa chén cơm chiều nguội ngắt tâm ý vẫn trắng trong khói nào cay đôi mắt khưi thơ chảy tuôn dòng
13/01/2026(Xem: 2442)
Tuệ Nhân vững chãi cuộc đăng trình Cùng với tăng đoàn trải nghiệm linh Tâm ước mong cho thế giới thịnh Ý nguyền muốn được quốc gia vinh Từ bi chẳng nản trong sương lạnh Hỷ xả không màng dưới nắng hanh Thẳng tiến đường xa ngàn bộ dặm Thong dong tự tại bước yên bình. .!