Lời Kinh từ những buồng biệt giam

06/04/202416:54(Xem: 3972)
Lời Kinh từ những buồng biệt giam


trai giam

Lời Kinh

từ những buồng biệt giam




Cách đây khá lâu, tôi đã có lần đọc câu chuyện về những người phạm nhân ở trong trại cải tạo và mối tương quan đồng cảm của những người giám thị trại giam dành cho họ, đó là chia sẻ về Phật pháp, đặc biệt là đối với những tử tội.

Hãy tưởng tượng rằng những người đang phải đếm ngược cái chết đến từng ngày, từng giờ khi thân thể vẫn còn đang khỏe mạnh, đó chính là nỗi ám ảnh, sợ hãi khiến tinh thần con người có thể trở nên bấn loạn, mất lý trí và họ trở thành người tâm thần, rồ dại có thể dẫn đến những việc làm tiêu cực, chẳng hạn như nguyền rủa người xung quanh, la hét, thậm chí tự vẫn trước ngày thi hành án.

Trong những thời khắc sống chỉ để chờ đợi tiếng gọi tử thần trong đêm, là nghe tiếng chân đi, tiếng mở khóa buồng giam trong thân thể lạnh toát để trả án bằng quy luật nhân quả “giết người thì đền mạng”, khi đó người phạm tội mới nhận ra mỗi giây phút được sống với họ là niềm hạnh phúc, một luồng ánh sáng trong trẻo bên ngoài khung cửa phòng biệt giam, nơi cách biệt giữa tự do và giam cầm là điều đáng quý, nhưng dường như, con người thường chỉ nhận ra những giá trị sống trong những giây phút cận kề sinh tử, khi cuộc sống không còn như lúc bình thường mới thấy những điều ngỡ là bình thường trở nên quý giá. Thế nhưng đâu phải ai cũng may mắn sinh ra trong những gia đình có điều kiện để được dạy bảo đến nơi đến chốn, để được lo lắng bảo bọc không mắc phải sai lầm, đâu phải ai cũng đủ mạnh mẽ, tỉnh táo để vượt qua được tham vọng, vượt qua những cái bẫy của tiền tài địa vị, để rồi khi rơi vào đó, con người phải trải qua những khúc ngoặt làm thay đổi cuộc đời mình, thay đổi suy nghĩ của mình thậm chí có những người không còn cơ hội để thay đổi nữa.

Câu chuyện một giám thị trại giam ngồi nói chuyện cùng một phạm nhân về những triết lý nhân sinh trong Phật pháp mà tôi được đọc khá lâu nhưng vẫn còn nguyên vẹn sự thâm trầm trong tâm tưởng, đó như hình ảnh ở hai bờ đối lập trong bản ngã một con người, giữa thiện và ác, giữa sự nghiêm khắc và bao dung, để mỗi người dù có rơi vào tận cùng khúc quanh nào cũng thấy đâu đó có một vầng ánh sáng, để họ không hoàn toàn rơi vào bóng đêm dù ngoài kia là những bức tường sắc lạnh.

Triết lý sẽ thật sự trở nên vô nghĩa nếu con người chỉ nói suông mà không thể vận dụng nó vào bất kỳ hoàn cảnh, tình huống nào, nhưng câu chuyện “Lời kinh sau những buồng biệt giam” sẽ là một câu chuyện đầy tính nhân văn, đầy tình người bởi nó đã hiện thực hóa lòng từ bi trong đạo Phật một cách sâu sắc nhất, bởi tình thương của Phật dành cho chúng sinh đều bình đẳng như nhau, không phân biệt là người tự do hay một kẻ tội đồ, tình thương trong triết lý từ bi nhà Phật có thể giúp an ủi, nâng đỡ và chữa lành vết thương lâu năm, có thể tha thứ tội lỗi trong tiềm thức con người để cứu rỗi tha nhân vẫn còn đang bế tắc, lần mò trong cảm giác mặc cảm, trong tự ti, hay những thời khắc hoang mang, cuồng dại nhất.

Nếu người tự do, đang có đời sống hạnh phúc bên ngoài cần đến Phật một thì người đang ở trong hoàn cảnh lao tù lại cần đến Phật gấp nhiều lần, bởi nơi đó chứa đựng nhiều bí bách nội tâm mà con người cần có một phương pháp, một bàn tay tháo gỡ, vậy thì còn gì phù hợp hơn khi những lời Kinh Phật được mang vào nơi đó, nơi có những con người cần phục thiện hoàn lương, cần giải tỏa được những áp lực tội lỗi, cần sửa đổi từ người tà thành người chánh, nơi đó chính là nơi giáo lý nhà Phật bộc lộ hết những nội hàm và giá trị không chỉ tín ngưỡng tâm linh, mà còn là tình thương yên dịu nhất.

Nhân loại luôn trầm luân, lặn ngụp trong muôn vàn biển khổ, cái khổ tận cùng là khi mất đi sự tự do, là khi sự sống của mình phải nằm trong tay người khác, chờ ngày định đoạt, sẽ thật đáng sợ nếu thời điểm đó, hoàn cảnh đó con người không có phương pháp nào buông xả và cứu chữa, là phải đối diện với sự xáo trộn tâm lý cùng kiệt để đương đầu với nỗi cô đơn, sợ hãi tận cùng, trong những nút thắt đó, giáo lý nhà Phật đã chỉ ra được cho con người những lý do của nỗi thống khổ và dẫn dắt chúng sinh đi qua con đường thoát khỏi trầm lao cả về thể xác lẫn tinh thần, từ đó hóa giải nỗi sợ hãi của con người về “cái chết” để chúng ta có thể sám hối và nhẹ nhàng đón nhận thời khắc sinh tử như một quy luật tự nhiên, trong thân giả tạm này, không còn đau đớn nữa.

Đạo Phật rực rỡ và đẹp đẽ từ ánh đạo mầu trong những ngôi Chùa, là hình ảnh an yên từ những đạo tràng với phật tử áo lam thuần thành, tay búp sen và tâm rỗng lặng, nhưng đạo Phật càng đẹp hơn, từ bi hơn khi lan tỏa đến những nơi đang đầy nặng phận đời của những người yếu thế, những người đang phải mang trên mình cái nhìn khác biệt của cộng đồng. Để thấy rằng Phật luôn đến với tha nhân trong tình thương và sự thấu cảm sâu xa nhất, trong mắt Phật không có tội đồ, không có người sang kẻ hèn, người được kẻ mất, người tốt kẻ xấu, trong mắt Phật và ngọn từ bi của Phật tỏa xuống cõi tục trần này đều phẳng lặng như nhau, bất kỳ người đó là ai, một khi tiếp nhận, cảm thụ và đến với Phật bằng niềm tin, tình thương thì luôn có được sự che chở tâm hồn.

Khi Nghị Định số 95/2023/NĐ-CP của Chính phủ ban hành vào ngày 29 tháng 12 năm 2023, có hiệu lực thi hành từ ngày 30 tháng 3 năm 2024 về “Quy định chi tiết một số Điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng Tôn giáo”, trong đó có tại Điều 4 quy định “Việc sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định tại khoản 5 Điều 6 của Luật tín ngưỡng, tôn giáo” như sau:

1. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc (sau đây gọi là người bị quản lý, giam giữ) được sử dụng kinh sách xuất bản dưới hình thức sách in, phát hành hợp pháp để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân và được bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo bằng lời nói hoặc hành vi của cá nhân theo quy định của pháp luật về nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc (sau đây gọi là cơ sở quản lý, giam giữ).

2. Việc sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của người bị quản lý, giam giữ tại cơ sở quản lý, giam giữ không được làm ảnh hưởng đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người khác và không trái với quy định của pháp luật có liên quan.

3. Việc bảo đảm và quản lý kinh sách; thời gian, địa điểm sử dụng kinh sách và bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo cho người bị quản lý, giam giữ tại cơ sở quản lý, giam giữ được thực hiện theo nội quy, quy chế của cơ sở quản lý, giam giữ. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn cụ thể việc ban hành nội quy, quy chế của cơ sở quản lý, giam giữ thuộc phạm vi quản lý.

Có thể thấy rằng Nghị định được ban hành với điều lệ trên là một tinh thần nhân văn giữa người và người vì đã góp phần rất lớn vào việc mang tính ngưỡng tôn giáo đến cho người bị tạm giam, tạm giữ nhằm phục vụ nhu cầu tâm linh tín ngưỡng của chúng sinh, việc gieo trồng tinh thần từ bi, sự tu tập quán niệm bản thân, biết sám hối những điều chưa lành để chuyển hóa thành điều lành từ người phạm tội, để khi được trở về đời sống bình thường, họ có thể sống tốt hơn, biết cách vượt qua những rào cản tâm lý, biết cách đối diện với những thử thách trong đời sống hằng ngày mà không rơi vào bi quan, tiêu cực.

Pháp luật vận dụng tinh thần đạo giáo, đặc biệt là đạo Phật vào việc giáo hóa chúng sinh là điều vô cùng cần thiết, đặc biệt là đối với những người đang rơi vào góc kẹt nội tâm, những người yếu thế ngoài xã hội, bởi đó không chỉ góp phần làm giảm bớt áp lực đau khổ cho con người mà còn giúp họ hướng thiện từ bên trong, để cảm thấy lòng người, tình người trong căn phòng biệt giam, trong khu xà lim không chỉ toàn lạnh lẽo.

“Những lời Kinh từ buồng biệt giam” sẽ là những lời Kinh đầy tình thương, lòng từ bi trắc ẩn của người nhà Phật dành cho những người lầm lỡ, là ngọn đèn soi cho họ giữa mê mịt cuộc đời, là ngọn nguồn nước mát tỏa xuống những ngày tháng đau khổ và buồn tủi giúp con người có một lý tưởng sống tốt hơn, đó không còn là những triết lý suông trong kinh điển mà đã cứu rỗi cho thật nhiều người, giúp họ bước ra ánh sáng từ những vũng lầy tăm tối. Nhân sinh có câu “Quay đầu là bờ” hàm chứa rằng trong đời người, không ai là không một lần phạm lỗi nhưng nếu biết nhìn nhận và sửa đổi sẽ không ai lại không có sự bao dung, mà sự bao dung của Phật để hướng thiện cho người đời càng vị tha, rộng mở hơn thế nữa.

Tôi mong những lời Kinh này sẽ không chỉ dừng lại trên quyển sách mà còn được tiếp diễn bằng những lời giáo huấn của những bậc chân tu, để giáo lý nhà Phật không chỉ dừng lại ở những ngôi Chùa mà có thể đến những nơi này, nơi mà những phận người trầm lao đang rất cần sự yêu thương, chia sẻ và giác ngộ từ tấm lòng nhà Phật.



Võ Đào Phương Trâm (An Tường Anh).

                                                                                         

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/04/2026(Xem: 1459)
Giữa dòng đời vô thường biến động, hiếm có ai khi tuổi đã xế chiều mà tâm vẫn an nhiên, trí vẫn sáng suốt, và lòng vẫn hướng trọn về Tam Bảo như lão cư sĩ Thị Tâm Ngô Văn Phát (hình trên, cụ đứng bên phải HT Bảo Lạc, bên trái là con trai cụ, anh Thị Chơn Ngô Ngọc Diệp). Cuộc đời của Cụ là một hành trình dài qua bao thăng trầm lịch sử, nhưng cũng chính là một minh chứng sống động cho sức mạnh của chánh tín và hạnh nguyện tu tập bền bỉ. Lão cư sĩ Thị Tâm sinh ngày 30/10/1929 (Kỷ Tỵ), từng là Thủ khoa Khóa 11 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (1955), giữ cấp bậc Trung Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Cụ đã trải qua những năm tháng gian lao trong lao tù cải tạo tại Hoàng Liên Sơn. Sau đó, định cư tại Hannover (CHLB Đức) từ năm 1984, Cụ tiếp tục dấn thân phụng sự đạo pháp và cộng đồng, cộng tác lâu dài với báo Viên Giác, đảm nhiệm vai trò Hội trưởng Hội Phật tử Việt Nam tại CHLB Đức suốt nhiều năm.
14/04/2026(Xem: 227)
Nghiệm tâm tu học…! Từng thời khắc trong cuộc đời này, ai biết tìm về hơi thở, ai biết tìm về đức tính từ bi, ai biết tìm về đức tính kham nhẫn thì chúng ta sẽ luôn luôn an trú trong từng hạnh nguyện nghiệm tâm tu học như từng dấu ấn xưa nay. Nghiệm tâm tu học, là pháp hành trong từng thời khắc, quán chiếu về hơi thở, tập nhìn bằng đôi mắt tình thương, nở nụ cười trong từng khoảnh khắc đi qua, trì niệm trong từng thời công phu tu tập cảm thấy tâm tự tại. Nghiệm tâm tu học, là pháp hành trong pháp hoa kinh, ở phẩm Trì, trong đó có đoạn: ….”Lại có bậc học và vô học tám nghìn người đã đặng thọ ký đồng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay hướng về phía Phật nói lời thệ rằng : “Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ ở cõi khác rộng nói Kinh này. Vì sao? - Vì người trong nước Ta-bà nhiều điều tệ ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, giận hờn, dua vạy tâm không chơn thật”. Nghiệm tâm tu học trong đoạn kinh trên, chúng con rút ra được ba điều: 1: Tâm cung kính cá
13/04/2026(Xem: 794)
Bài viết này phân tích các mối liên kết xuyên quốc gia giữa các chùa Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại tại châu Âu, Úc Châu và Nhật Bản thông qua lăng kính của sự lưu chuyển của Tăng sĩ. Thay vì xem các ngôi chùa này như những không gian tôn giáo dân tộc biệt lập, nghiên cứu này khái niệm hóa chúng như những thực thể vừa gắn kết với địa phương, vừa được liên kết với nhau thông qua sự di chuyển của chư Tăng, mối quan hệ thầy–trò, và các thực hành nghi lễ chung. Tập trung vào một vị Hòa Thượng, lãnh đạo Phật Giáo người Việt tại Đức [2], đóng vai trò như một nút trung tâm trong mạng lưới này, nghiên cứu dựa trên khảo sát thực địa nhiều địa điểm (2023–2025) để lập luận rằng các mối quan hệ liên tự viện có thể được hiểu như một cấu trúc năng động được duy trì bởi sự lưu chuyển Tăng sĩ mang tính lặp lại. Bằng cách nhấn mạnh vai trò của sự lưu chuyển Tăng sĩ, bài viết trình bày các chùa Phật giáo Việt Nam hải ngoại như những tác nhân mang tính quan hệ, được định hình bởi cả sự gắn kết địa phương
10/04/2026(Xem: 2839)
Đặng Tấn Tới là thi sỹ của đất trời. Anh từ vũ trụ, càn khôn đến đây để rong chơi, Chơi Trong Buổi Hội Mấy Màu Thanh Thiên, như một bài thơ mà anh đã viết cách đây hơn nửa thế kỷ.Với anh, thi ca là Hơi Thở: “Một hơi vừa đi mất Cho ta hơi mới đầy Chan hòa hương màu đất Vui trời chơi gió bay”
09/04/2026(Xem: 727)
Cố vấn tâm lý, theo tôi học được từ Lifeline là sau khi lắng nghe ông ta tâm sự, tôi sẽ cùng ông tìm ra các hướng đi và cùng ông thảo luận các lợi hại của từng hướng đi...để rồi sau đó tự ông quyết định hướng đi cho mình. Ông không trả lời tôi vội, ông đắn đo cân nhắc khá lâu, rồi ngập ngừng nói với tôi: “Thôi, tôi không làm đâu” Tôi hỏi nhẹ: “Vì sao vậy ông?” Ông trả lời: “Dù sao tụi nó cũng là con tôi. Kiện tụi nó ra tòa, đưa tụi nó lên báo, tôi có thắng, thì tụi nó thua cả đời” Ông nói thêm, giọng rất nhỏ: “Tôi già rồi. Ráng chịu thêm nữa…cũng chẳng sao, dù gì nước mắt cũng chảy xuống mà”. Làm gì được, được làm gì…trong cảnh đời “bơ vơ ở tuổi xế chiều” này đây?
03/04/2026(Xem: 1254)
Làm sao để giá trị tinh thần không bị thời gian và công nghệ AI làm lu mờ. ( Cảm tác sau khi đọc bài viết của TT Thích Nguyên Tạng nhân kỹ niệm lễ Huý Nhật của HT Thích Trí Tịnh vào ngày 6/4/2026 ) Có những bậc cao tăng và ngay cả những bậc trí tuệ như Socrates, Friedrich Nietzsche hay Lao Tzu… cũng từng bị hiểu sai, lãng quên, rồi được “tái khám phá”. Không phải vì họ mất giá trị, mà vì:”Thời đại thay đổi nhanh hơn khả năng tiếp nhận của con người, hơn thế nữa giá trị tinh thần thường không “ồn ào” như công nghệ và nhất là đám đông thường bị cuốn vào cái mới, không phải cái sâu.” Do vậy tên tuổi đáng kính thường bị che khuất tạm thời bởi dòng chảy thời đại. Phải chăng cái nguy cơ lớn nhất của thời đại AI ngày nay không phải là quên… mà là “nông” Phải chăng AI có thể: (Viết thay ta-Nghĩ nhanh hơn ta-Tổng hợp tri thức nhanh chóng) Nhưng AI cũng tạo ra một nguy cơ tinh vi: Con người tưởng mình hiểu… nhưng thực ra chỉ “chạm bề mặt”. Do đó nếu chỉ sống bằng tri thức vay mượn, thì
03/04/2026(Xem: 908)
“Khi Thế giới của chúng ta ngày càng nhỏ lại, nhưng chúng ta lại cứ nghĩ mình ngày càng lớn ra”. Trong xã hội ngày nay, khi con người thường đề cao bề nổi, ưa thích sự thể hiện bản thân vượt qua giá trị đích thực, thích thổi phồng những danh xưng, thành công hay một cuộc sống ngập tràn sự hào nhoáng. Nó tạo ra sự khao khát để khẳng định mình so với người khác bởi tâm lý sợ bị lãng quên, sợ bị nhạt nhòa và sợ bị bỏ lại sau lưng. Nó giúp con người tạo ra một bề mặt “kiêu hãnh” và khi tâm kiêu hãnh hình thành, trở thành chất xúc tác gây nghiện, con người sẽ bắt đầu trở nên kiêu mạn và lệ thuộc vào những thứ phù phiếm bên ngoài mà quên đi những giá trị cốt lõi bên trong.
30/03/2026(Xem: 805)
Nàng Persephone lại trở về, vườn xuân xanh biếc cây lá, muôn hoa khoe sắc hương, cỏ xanh một màu mướt mát. Cái vòng quay sanh – diệt vừa trọn một vòng. Nàng Persephone trở về đem lại sự hồi sinh sau mùa đông ảm đạm. Vô số nụ hoa nhỏ trên thảm cỏ, những nụ hoa pansee cho đến những loài hoa dại khác mà ta không biết tên, trên cành vô số hoa đào, hoa anh đào…Cánh hoa lả tả bay trong gió khiến ta ngỡ cảnh thiên thai. Chiều làm về, trút bỏ giày đi chân trần trên thảm cỏ, ta cảm nhận cả một sự bình yên chi lạ. Bàn chân trần bó rọ trong những đôi giày, dù giày lao động hay giày thời trang hàng hiệu cũng không sao hạnh phúc bằng chân trần trên cỏ xanh. Bàn chân trần tiếp xúc với đất mẹ mà nghe nhẹ nhõm thư thái trong tâm hồn. Vườn ta muôn hoa khoe hương sắc, mùa xuân rực rỡ với thủy tiên, tulip, hoa đào, mẫu đơn…ấy là những loại hoa mà loài người yêu thích và xem trọng. Riêng vườn ta thì chẳng có quý tiện hay trọng khinh, hoa trồng hay hoa dại cũng như nhau. Cánh hoa đào hòa mình cù
30/03/2026(Xem: 1051)
Buổi sáng yên tĩnh, khi tiếng chuông chùa vang lên trong không gian, ta chợt dừng lại một chút và nhận ra rằng có một bài pháp rất lớn mà ta thường bỏ quên. Bài pháp đó không nằm trong kinh sách hay nơi giảng đường, mà chính là cuộc đời mà ta đang sống mỗi ngày, là từng hơi thở đang diễn ra ngay trong hiện tại. Đức Phật dạy rằng toàn bộ hành trình sinh tử của con người gắn liền với khổ đau. Không ai trong chúng ta có thể đứng ngoài quy luật đó. Dù cuộc sống có những niềm vui, nhưng niềm vui ấy không kéo dài; những nỗi buồn cũng vậy, đến rồi đi. Những người ta gặp trong đời, dù thân hay sơ, đều mang đến cho ta những bài học. Nếu nhìn sâu, ta sẽ thấy tất cả đều là “Pháp” – là những điều giúp ta hiểu hơn về chính mình và về cuộc đời. Tuy nhiên, không phải lúc nào ta cũng nhận ra điều đó. Khi tâm còn rối loạn, ta chỉ thấy vui buồn, hơn thua, được mất. Chỉ khi tâm lắng lại, ta mới có thể nhận ra ý nghĩa sâu hơn phía sau mỗi trải nghiệm.
25/03/2026(Xem: 3577)
Góp nhặt vô thường xếp lại ngăn, Trí tuệ giao thoa nhẹ bước chân Giấc mơ hiện về nhắc tâm trí Nhìn đời bao dung lẫn tri ân Thế gian vạn biến, đừng dính mắc Với lòng bi mẫn giải mã dần Duy trì thói quen hằng quán chiếu Chúc phúc đến ai, chữa sai lầm