Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Thái Lan và Cha Tôi và Chùa Phật và Chuyến Đi Vượt Biển và Quá Khứ và Hiện Tại

22/02/202420:38(Xem: 472)
Thái Lan và Cha Tôi và Chùa Phật và Chuyến Đi Vượt Biển và Quá Khứ và Hiện Tại
trinh chinh


Thái Lan và Cha Tôi và Chùa Phật
và Chuyến Đi Vượt Biển và Quá Khứ và Hiện Tại






Tôi lấy tựa đề này vì tôi thích ý tưởng của Nam Lê khi anh đặt tên cho chương đầu tiên trong quyển sách của anh có tên là ‘The Boat’ (Chiếc Thuyền), một quyển sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và đoạt được nhiều giải thưởng văn học ở Anh, ở Úc và ở Mỹ. Chương sách đầu tiên đó được tác giả đặt một cái tên khá dài: ‘Love and Honor and Pity and Pride and Compassion and Sacrifice’ (Tình Yêu và Danh Dự và Thương Hại và Kiêu Hãnh và Tình Thương và Hy Sinh).


Đây là một chương sách khá hiếm được tác giả viết rất chân thành và sâu lắng về sự xung đột mãnh liệt giữa anh và cha anh, một người lính trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa và những khó khăn to lớn mà cả hai đều phải trải qua trong những năm tháng đầu tiên đặt chân đến Úc. Giữa một người con trai được nuôi nấng theo tinh thần và giá trị của Á Châu nhưng lại được dạy bảo theo văn hóa của Tây Âu ở trường học lẫn cả trường đời.

Cái hay của những quyển sách cực hay là ở chổ đó. Nó nói lên được những gì mình muốn nói. Và nó ghi nhận lại những kỷ niệm, những chặng đường mà mình đã đi qua chính xác còn hơn là người trong cuộc. Cứ y như là chuyện của mình đã tìm ra được một người viết hộ.

Lúc tôi đọc chương sách này của Nam Lê vào những ngày cuối năm, đến những đoạn anh và cha anh cãi vả to tiếng, anh phải bỏ nhà ra đi trong tiếng khóc nghẹn ngào của người mẹ thì chính tôi cũng đã bị những kỷ niệm riêng tư của mình hơn 3 thập niên về trước tấp nập quay về làm cho tôi không thể nào chú trọng đọc tiếp được. Ba tôi và tôi cũng có những xung đột mãnh liệt như thế.

Là con trai độc nhất trong một gia đình được cho là ‘gia giáo’ (tôi rất ghét hai chữ này lúc mới lớn), cả hai ba mẹ tôi đều là thầy cô giáo có trên 20 năm trong nghề, vì vậy các anh chị em tôi từ nhỏ và đặc biệt là tôi, đã được toi luyện rất ư là kỹ lưỡng. Và điều đó có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là hình như từ nhỏ tôi đã luôn luôn được cây roi mây của ba mẹ chiếu cố một cách rất thắm thiết. Chiếu cố vì tội đi chơi không xin phép, về nhà muộn, đi chân không… thả diều. Cho đến tội trốn học đánh bài. Hoặc bực mình chửi bậy.

Có lẽ vì vậy mà cho đến giờ phút này ngay những lúc nóng giận nhất tôi vẫn không thể nào dùng từ ngữ Việt Nam để… ĐM!

Tôi vẫn còn nhớ mang máng kỷ niệm cuối cùng tôi bị ba tôi đánh ở Việt Nam. Đó là vào khoảng năm 78, 79 trước khi ba tôi vượt biên sang Thái Lan. Sau năm 75, ba tôi đã bị bắt đi học tập cải tạo và sau khi ông được thả ra, cả gia đình của tôi đã không được tiếp tục cho ở Sài Gòn mà phải dọn đi kinh tế mới. Lúc đó bên ngoại tôi ở Phú Quốc vẫn còn một khu đất trống ở gần rừng. Thế là ba mẹ tôi đã xin về ở đó. Cũng may là họ cho.

Dĩ nhiên là với số tuổi đời 7, 8 của tôi vào thời điểm đó, tôi đã không thể nào cảm nhận được những gì mà ba mẹ tôi đã vừa phải trải qua. Lúc ấy tôi chỉ không thể hiểu là tại sao ba mẹ tôi lại có thể từ bỏ một ngôi nhà tô có đầy đủ tiện nghi ở Gia Định để dọn về một nơi đồng không hiu quạnh dựng nhà, lấy tranh làm nóc, lấy đất làm nền. Cứ mỗi khi mưa to về là cả nhà lại đầy nhũng ra nước. Đã vậy lại không có điện, mà nước cũng không luôn. Mảnh đất trống khá to nhưng lại không được tốt cho lắm. Đào lên ở đâu thì cứ y như rằng chỉ thấy toàn là nước đục đầy phèn. Vì vậy cứ mỗi chiều nhiệm vụ của tôi là phải sang nhà hàng xóm bên cạnh gánh nước về cho cả nhà xài. Và sẵn tiện tưới luôn cây trái trồng quanh, nhất là giàn bầu trước nhà. Chỉ có 4, 5 gốc gì đó nhưng nó rất được thích ngốn nhiều nước, ít nhất cũng phải là 5, 7 đôi nước của tôi mỗi ngày. Cộng thêm khoản nước xài, tắm rữa cho cả nhà, mỗi chiều tôi nghĩ tôi gánh ít nhất cũng phải là 10, 15 đôi nước. Đã bảo tôi là con trai một trong nhà mà!

Lúc ấy tôi chưa cao như bây giờ nên việc gánh nước có phần khó khăn. Nếu tôi không cẩn thận thì đít của hai thùng nước có thể chạm mặt đất rất dễ dàng và không cần phải nói, nếu nó va vào đá (vì tôi lười nhón chân lên) thì coi như hỏng toét. Không những nước sẽ đổ vơi đi mà đít thùng sẽ lủng và khi về đến nhà thì trong thùng sẽ chẳng còn nhiểu nước.

Trong một lần xui xẻo như vậy, ghi vừa gánh thùng không về đến nhà thì tôi đã gặp ba tôi. Có lẽ hôm ấy ông mệt vì vừa đi làm cu li ở bến cảng về - từ hôm được thả ra khỏi trại cải tạo ông không được cho phép đi dạy lại. Cũng có thể ông đang bực mình vì bị gạt mất tiền một lần nữa sau bao nhiêu lần tổ chức vượt biên nhưng không thành của gia đình. Tôi thật không nhớ rõ là ông đã nói gì với tôi khi thấy thùng nước một lần nữa đã bị tôi làm cho thủng đáy. Hình ảnh duy nhất mà tôi vẫn còn ghi nhận lại trong ký ức của tôi vào thời điểm đó là cảnh tôi chạy vòng vòng chiếc võng mà mẹ tôi đang ngồi để tránh những đòn đánh của ba tôi, miệng la oai oải: ‘Con xin lỗi ba. Con không dám vậy nữa đâu. Mẹ ơi. Mẹ ơi. Xin dùm con’.

Không ít lâu sau đó thì ba tôi đã thành công trong chuyến vượt biển cuối cùng của ông. Tuy không còn tiền bạc để lo cho cả gia đình được đi chung như ý nguyện nhưng ông đã may mắn có một người bạn hảo tâm cho ông đi nhờ mà không cần phải trả một đồng nào cho chuyến đi không hẹn ngày trở lại.

Trên chiếc thuyền mỏng manh không dài quá 10 mét, ba tôi và hai người bạn cùng hai người con nhỏ của họ đã vượt đại dương cố đi tìm đến một bến bờ tự do tươi sáng hơn. Nhưng sau 10 ngày lênh đênh trên biển vì máy tàu bị hỏng, chỉ cần có một bến bờ, bất kỳ là ở đâu để tấp họ cũng không tìm thấy. Không nước, hết lương thực, cả tàu vỏn vẹn 5 người chỉ biết nằm chờ chết. Mắt hai đứa bé đã đứng tròng. Hàng chục tàu buôn, chiến hạm của thế giới đi ngang qua. Nhưng chẳng ai dừng lại cứu giúp.

Ngoại trừ duy nhất một chiếc tàu đánh cá người Thái. Họ cứu sống 5 mạng người mặc cho lúc ấy có lệnh của chính phủ là không được cứu vớt tỵ nạn Việt Nam. Và sẽ bị phạt rất nặng nếu như bị phát hiện.

Vì thế sau khi được chăm sóc tận tình, được cho ăn uống và nghĩ dưỡng để lấy lại sức, chiếc tàu nhỏ của họ đã được kéo vào gần đất liền trước khi được thả trôi để cập bến. Bước chân lên bờ, ba tôi và gia đình người bạn của ông đã lập tức được dân làng giúp đỡ và đem về một ngôi chùa gần cạnh lưu trú. Không ít lâu sau, họ được chuyển về trại tỵ nạn và chỉ sau 3 tháng, ba tôi đã được cho đi định cư ở Úc nhờ vào khả năng tiếng Anh lưu loát của một thầy giáo dạy ngoại ngữ từ lúc còn ở quê nhà.

Năm năm sau ngày ông bỏ nước ra đi thì gia đình tôi được đoàn tụ ở Úc. Vì thế có thể nói tuổi ấu thơ của anh chị em tôi lúc còn ở Việt Nam hầu như không có hình bóng của người cha nhà giáo. Là một người cha, ông luôn chu toàn đầy đủ cho cuộc sống của chúng tôi lúc còn ở Việt Nam cũng như cho đến khi chúng tôi vào trung học, lên đại học và ra trường ở Úc.

Nhưng nếu bảo tôi kể lại một kỷ niệm vui, đẹp giữa tôi và ba tôi thời tôi còn thơ ấu thì tôi chịu. Không có nhiều. Kỷ niệm đầu tiên mà tôi nhớ về ba tôi là lần tôi được đi theo mẹ để thăm ông trong một trại cải tạo ở Năm Căn, Cà Mau lúc tôi 6 tuổi. Đó là một chuyến đi rất xa, rất lâu, rất mệt và đối với riêng tôi thì có quá là… nhiều muỗi. Lần sau đó là lúc ông dắt tôi đi vào một vùng kinh tế mới cũng ở đâu đó rất xa, rất nắng, rất nóng và phải đi bộ cả ngày mới tìm được nước uống.

Sau này về Phú Quốc thì tôi chỉ nhớ những lần ông dắt tôi đi vượt biên, lội suối, trèo núi, ăn cơm thiêu, đi suốt đêm trong sợ hãi, sợ bị bắt nhưng cuối cùng thì cũng bị bắt và vào ngồi tù ăn bo bo lúc vừa mới 9 tuổi.

Và dĩ nhiên là tôi luôn nhớ trận đòn cuối cùng của ông dành cho tôi.

Có lẽ vì vậy mà khi tôi sang Úc năm 14 tuổi, tuổi bắt đầu của sự nổi loạn, thiếu hiểu biết nhưng lại hơi thừa nam khí (ý tôi muốn dùng chữ ‘testosterone’ ở đây), thì tôi đã không cảm thấy gần gũi với ông. Việc ông khó khăn từ cử chỉ cho đến lời nói, từ việc học cho đến cách dùng điện thoại tán dóc của tôi càng làm cho tôi có cảm giác như ông quá khắt khe, quá câu nệ, và nhất là có quá nhiều kiểm soát trong cuộc sống của tôi mà tôi lúc ấy rất thành tâm nghĩ rằng hoàn toàn không cần thiết.

Cứ mỗi khi đụng chuyện thì y như rằng ông sẽ bắt đầu bằng câu ‘Ở Việt Nam thì mày blah blah blah….’. Lúc ấy tôi nghĩ rất đơn giản: ‘Well, you are not in Vietnam anymore!’. Ba đâu có còn ở Việt Nam nữa đâu mà ‘tại’ ‘thì’ với ‘bị’. Tôi thật không thể nhớ rõ bao nhiêu lần tôi đã to tiếng với ba tôi, đã cãi vả, tức giận đến độ không thể nào khóc được. Và cũng như Nam Lê, tôi cũng đã từng phải bỏ nhà ra đi trong nước mắt ngậm ngùi của mẹ tôi, bị dằn xé giữa hai bên, chồng và con. Tôi thấy hình như điều này xảy ra trong khá nhiều gia đình Việt Nam. Người mẹ thường là người phải im lặng và nhịn nhục, nhẫn nại làm đầu cầu cho 2 bên chồng con được yên thắm và thông cảm cho nhau.

Nhưng rồi thì ngày qua ngày, tháng lại tháng và mọi chuyện cũng đi vào dĩ vãng. Vừa tốt nghiệp đại học xong thì tôi cũng khăn gói lên đường đi theo tiếng gọi của giang hồ cho mãi đến ngày hôm nay. Những khi có dịp về thăm nhà thì tôi và ba tôi cũng tâm sự cùng nhau, không sâu đậm lắm như những người bạn thân thiết, nhưng cũng không còn xung khắc như những ngày tháng cũ.

Ông vẫn thường nhắc đến chuyến vượt biển năm nào của ông, vẫn còn trăn trở đôi khi không cần thiết, và luôn tự đánh giá về sự đời, đôi khi có phần tiêu cực, mặc dù sự đời luôn không ngừng biến đổi. Thường thì tôi chỉ nghe và để lại đó, ít khi có dịp để tâm suy ngẫm. Phần vì cuộc sống của tôi quá bận rộn. Cũng có thể vì tôi đã nghe quá nhiều và bị nhàm chán từ những lúc tôi còn sống chung với ông trước khi dọn ra riêng.

Mãi cho đến khi tôi có dịp đi cùng ông tìm lại ngôi chùa nơi ông đã từng được cưu mang sau chuyến đi vượt biển hãi hùng.

Theo Phật giáo thì hầu như tất cả mọi chuyện xảy ra trên thế gian này đều do một chữ Duyên. Là một người có thể cho là khá sùng đạo, ba tôi cho là đã có duyên khi gặp lại người bạn cùng thuyền năm xưa ở Mỹ và được cho biết tên của làng chài lưới mà ông ta vẫn còn nhớ rõ lúc vừa được cứu lên bờ. Càng có duyên hơn nữa là trước đây tôi có dịp ở Thái Lan nhiều hơn những nơi khác. Thế là tôi và ba tôi đã gặp nhau trên đất Thái. Ba lần trước đến đây để mong tìm ra ngôi chùa từng cưu mang ông đều đã không thành công. Ông đã phải tạm cúng dường những ngôi chùa khác mà ông đặt chân đến.

Nhưng lần này thì không. Với cái tên Thái rất đầy đủ cùng hai người bạn thân của tôi nói rành tiếng Thái, sau bốn tiếng lái xe từ Bangkok, chúng tôi đã tìm lại được làng chài lưới và ngôi chùa khá dể dàng. Sau một lúc dò hỏi những người Thái trong làng, chúng tôi đã có thể xác nhận chắc chắn đây là nơi mà ba tôi đã được cứu sống hơn bốn thập niên về trước.

Bước xuống xe đi ngược về phiá biển để đến ngôi chùa, tôi nghe miệng ông lẩm bẩm: ‘Đúng là chổ này rồi. Đúng là chổ này rồi’. Đây là đồn cảnh sát nơi ông phải đến trình diện lúc tàu vừa mới cập bến. Đây là cầu tàu bằng gỗ của năm xưa nhưng bây giờ đã được xây bằng bê tông dài hẳn ra. Và đây là ngôi chùa nhỏ nằm bên cạnh một con lạch do một sư ông biết nói tiếng Anh trụ trì.

Nhưng tất cả đều đã thay đổi. Chùa đã được xây lớn và rộng hơn gấp nhiều lần, khá ồn ào vì có nhiều khách đến hành hương. Chỉ còn dãy nhà cũ ở tận phiá sau cùng là ông có thể ngờ ngợ nhận ra. Con lạch đã bị lấp đi từ lâu và theo nhà sư già nhất có mặt ở chùa thì sư ông, người đã tiếp xúc và trực tiếp nuôi dưỡng ba tôi, cũng đã viên tịch cách đây trên 10 năm. Nghe nói đâu ông từng là sĩ quan trong quân đội Thái Lan trước khi đi tu. Nhờ vậy mà ông biết nói tiếng Anh.

Ngồi nghe người sư già thuật lại câu chuyện của hơn 40 năm trước, tôi thầm tiếc cho ba tôi. Cuối cùng thì ông cũng đã được toại nguyện, đã tìm lại được một phần hồn của ông. Nhưng nó đã không còn nguyên vẹn như những gì ông tưởng nhớ sau bao nhiêu năm vật đổi, sao dời. Người xưa không còn mà cảnh cũ cũng bằng không. Có còn đâu chỉ là những kỷ niệm của một thời khó nhọc nơi xứ người và tôi nghĩ rằng những gì ông lưu luyến, ôm ấp những lúc ông cô đơn nhất, thiếu thốn nhất cũng đã không còn hiện hữu.

Đời người là thế. Kỷ niệm, vui hay buồn, chỉ đẹp, chỉ có một thời vì ta sẽ không bao giờ tìm lại được nó. Nếu như ta có đầy phép thần thông để đi ngược dòng thời gian, trở về quá khứ thì ta cũng sẽ không thể nào tìm lại được những cảm xúc của một thời đã qua.

Thế gian luôn thay đổi. Và ngay cả chính chúng ta cũng thay đổi theo thời gian.

Trước khi ra về, tôi theo ba tôi vào chùa lễ phật, thắp nhang cảm ơn Trời Phật đã cho ông một cơ hội sống để làm lại cuộc đời. Nếu không thì cũng chưa biết tương lai của chị em tôi sẽ ra sao. Cũng có thể là tôi vẫn phải lam lũ ở đâu đó bên quê nhà gánh nước tưới cây sống qua ngày, không tương lai, không nhà cửa. Tôi bước ra cổng chùa trong gió chiều lồng lộng nhìn về biển đông ở phiá xa và chợt nghĩ đến chữ Duyên trong cuộc sống.


trinh hoi va cha
Luật Sư Trịnh Hội & Thân Phụ, Ông Trịnh Chỉnh



Đúng là tất cả đều do một chữ Duyên mà ra. Ít có ai trong chúng ta có thể chủ động, kiểm soát được mọi khía cạnh trong đời. Nhất là đối với thế hệ của ba tôi. Cuộc sống đang sung túc, đầy đủ, bỗng nhiên ông mất tất cả. Mất nhà cửa, mất việc làm và mất cả gia đình yên ấm. Ông không là một tội đồ nhưng vẫn phải vào tù. Ông vào tù nhưng không biết ngày ra. Được tha ra nhưng ông lại không được trở lại nghề cũ. Để rồi bị hạch hỏi, bị ức chế đến cùng cực. Cuối cùng ông đã phải bỏ nước ra đi và cũng còn may, không phải bỏ thây trên biển cả.

Không may mắn như thế hệ của chúng tôi, cả cuộc đời ông hình như chẳng lúc nào ông có thể làm chủ cuộc sống của chính mình, của gia đình mà ông đã mãi mãi mất cơ hội làm gia trưởng. Có lẽ vì thế mà ông đã cố gắng hết sức kiểm soát chặt chẽ cuộc sống của những người con ông. Mặc cho những lời phản đối của đám trẻ đang trưởng thành trong một nền văn hóa mới. Mặc cho những xáo trộn trong gia đình vì hoàn cảnh của một thời loạn lạc. Ông phải cố nắm chặt lấy nó. Vì ông không còn một sự chọn lựa nào khác.

‘Con Hội’. Tôi quay lại và nhìn ba tôi đang chầm chậm bước ra cổng chùa đến đứng gần cạnh tôi. Ông xin được một lá sâm cho tôi và bảo tôi cầm lấy. Bỗng nhiên ông giơ cả hai cánh tay của ông và ôm tôi vào lòng. Lúc ấy tôi chỉ biết đứng yên để cho ông ôm chặt vai. Hình như tôi nghe có tiếng khóc thầm của một người cha mà trước đó chưa bao giờ trong đời tôi thấy ông xúc động. Hình như là ông đang cảm ơn tôi.

Nhưng tôi phải cảm ơn ba tôi mới đúng. Tôi phải có duyên mới được chia xẻ, được ở cạnh ba tôi ngày ông tìm lại được quá khứ, nơi ông được tái sinh. Tôi phải có duyên mới nhận thức được những cột mốc mà ba tôi đã đi qua trong cuộc đời. Và nhất là vì ông đã phải từng dùng mạng sống của chính mình để tìm một bến bờ mới cho riêng ông, cho gia đình.

Và cho cả riêng tôi.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/04/2024(Xem: 22015)
Phật giáo Việt Nam trong hai thế kỷ cận đại và hiện đại, xuất hiện một số nhân vật đạo hạnh cao vời, kỳ tài xuất chúng, có những cống hiến to lớn, dài lâu cho Đạo pháp và Dân tộc. Ngôn ngữ nhà Thiền xưng tụng những vị này là Bồ-tát, Đại sĩ, Thánh Tăng, hay Long Tượng, là những tôn danh chỉ được tìm thấy trong kinh điển, sử sách, trong lịch sử truyền miệng hoặc trên những bia đá ngàn năm nơi cổ tháp. Triết gia Phạm Công Thiện trong buổi ra mắt tác phẩm “Huyền Thoại Duy Ma Cật” của Hòa thượng Tuệ Sỹ tại thành phố Houston, tiểu bang Texas ngày 04 tháng 11 năm 2007, đã gọi tác giả là “bậc Long Tượng: Tuệ Sỹ” và diễn giải thêm, “Long Tượng là bậc Thầy của cả một dân tộc, nếu chưa muốn nói là bậc Thầy của thế giới.”
15/04/2024(Xem: 140)
Thù thắng thay, hoan hỷ thay, kính cảm niệm, cách điều hành Tu một ngày bát quan trai giới! Mỗi tháng một ngày, cho Phật Tử tại gia Gìn giữ trọn vẹn 8 giới Đức Phật đã chế ra (1) Phật tử còn ràng buộc gia duyên, cần phát nguyện, tinh tấn thực hành trọn vẹn(2) Sẽ tích lũy vô lượng công đức khi thực hiện ! Đặc biệt hôm nay 14/4/2024 nhân dịp chuyến du hành của HT Pháp Tông, trú trì chùa Huyền Không tại cố đô Huế /VN cũng là nhà Sư VIỆT NAM đầu tiên cũng là nhà sư nước ngoài đầu tiên được HOÀNG GIA THÁI LAN cúng dường TƯỚC HIỆU CAO QUÝ - CHAO KHUN (TĂNG CANG ĐỆ NGŨ PHẨM). Tu viện Quảng Đức đã dành cho các đạo hữu khoá tu bát quan trai một sự lợi lạc hoan hỷ vô cùng khi mời được HT Pháp Tông đến với bài pháp thoại chủ đề “Phật học tu tập” và sau đó là những câu hỏi của quý đạo hữu đã trải nghiệm và có chướng ngại gì để cùng Ngài thảo luận. Thù thắng thay, hoan hỷ thay, kính cảm niệm, cách điều hành Tu một ngày bát qua
08/04/2024(Xem: 481)
Tết Thanh Minh không phải là ngày lễ tết lớn trong năm, nhưng nó lại mang đậm nét đẹp văn hóa của người Việt Nam. Tết Thanh Minh cũng không có ngày cố định thời gian, mà là ngày đầu tiên của tiết Thanh minh, nó có thể rơi vào mùng 4 hoặc mùng 5/4 dương lịch (sau khi kết thúc tiết Xuân phân). Tiết Thanh minh là 1 trong 24 tiết khí (theo quan niệm của các nước phương Đông). Tính từ đầu năm trở đi, tiết Thanh minh đứng thứ 5, trong 24 tiết khí sau các tiết Lập xuân, Vũ thủy, Kinh trập, Xuân phân. Vào dịp Tiết Thanh minh trời mát mẻ quang đãng, thường bắt đầu sau ngày Lập Xuân 45 ngày và sau ngày Đông chí 105 ngày). Tiết thanh minh kéo dài khoảng 15 - 16 ngày.
06/04/2024(Xem: 473)
Cách đây khá lâu, tôi đã có lần đọc câu chuyện về những người phạm nhân ở trong trại cải tạo và mối tương quan đồng cảm của những người giám thị trại giam dành cho họ, đó là chia sẻ về Phật pháp, đặc biệt là đối với những tử tội. Hãy tưởng tượng rằng những người đang phải đếm ngược cái chết đến từng ngày, từng giờ khi thân thể vẫn còn đang khỏe mạnh, đó chính là nỗi ám ảnh, sợ hãi khiến tinh thần con người có thể trở nên bấn loạn, mất lý trí và họ trở thành người tâm thần, rồ dại có thể dẫn đến những việc làm tiêu cực, chẳng hạn như nguyền rủa người xung quanh, la hét, thậm chí tự vẫn trước ngày thi hành án.
03/04/2024(Xem: 770)
Có thể do một sự thần khải, thiên khải, mặc khải hoặc một phép mầu nhiệm, phép linh thiêng, phép huyền bí nào đó, hoặc do đại giác ngộ, đại ân sủng mà toàn thể loài người bỗng dưng trở thành tu sĩ! Thật đại phúc! Vui mừng khôn xiết! Mấy ngàn năm qua với bao lời rao giảng, truyền đạo, răn dạy mà con người vẫn cứ mê luyến vào cuộc sống phàm tục, sinh con đẻ cái, làm giàu, hưởng lạc thú trong cái cõi đời ô trọc này. Nay thì - đúng là ước mơ đã thành hiện thực của các giáo hội. Trong nỗi vui mừng khôn tả đó, việc đầu tiên là phải giải tán ngay phái bộ truyền giáo bởi vì mọi người đã trở thành tu sĩ rồi thì cần gì phải truyền đạo nữa? Tuyên truyền cho ai bây giờ? Còn đất đâu? Còn dân ngoại đạo nữa đâu mà tuyên truyền? Thôi thì cả triệu tấn giấy, hình ảnh, tài liệu, phim ảnh, CD, DVD, Video được đem ra đốt, bao nhiêu đài phát thanh, chương trình truyền hình, website truyền đạo cũng đều dẹp bỏ. Tuy nhiên trong nỗi hân hoan ấy việc chuyển hóa cả một cấu trúc xã hội thế tục vô cùng phức tạp qua
03/04/2024(Xem: 489)
Quả đúng vậy, chỉ vì một ý nguyện muốn đền đáp ân hội ngộ và duyên được cộng tác với Trạng nhà Quảng Đức do TT Thích Nguyên Tạng Trụ trì Tu Viện Quảng Đức kiêm và Tổng Thư Ký GHPGVNTN tại Hải ngoại Ức Châu & Tân Tây Lan làm chủ biên mà một lần nữa con có đại duyên con được tham khảo lại toàn bộ Cư Trần Lạc Đạo khi đoc qua chi tiết về Tu Viện Quảng Đức để rồi tìm lại một sưu tập cũ thật quý giá có liên quan đến bài Cư Trần Lạc Đạo khiến con suy ngẫm và tư duy nhiều đêm nên cuối cùng kính xin mượn bài viết để nhận sự chỉ dạy của quý Ngài.
03/04/2024(Xem: 709)
Danh và thực trong đời sống xã hội là nói cái tên gọi và thực chất, chức danh và khả năng, danh vị và tài đức. Danh mà không đi đôi với thực thì gọi là hữu danh vô thực (1). Tổ chức có nhiều kẻ hữu danh vô thực rất dễ dẫn đến sự phân rã, suy yếu, thất bại. Xã hội có quá nhiều kẻ hữu danh vô thực chắc chắn sẽ dẫn đến rối loạn, suy đồi, khó tiến bộ. Ở những địa vị cao trong giai tầng xã hội, danh với thực mà quá cách biệt thì nói không ai nghe, trên dưới không đồng lòng, dù có kế sách gì hay cũng không thực hiện được chu toàn.
28/03/2024(Xem: 153)
Trên tay bạn,chiếc đồng hồ đeo tay đắt giá, hoặc người yêu, người thân quý tặng...bạn không thể không dùng nó. Có thể, bạn phải đeo mang nó suốt đời... Bạn muốn buông đi, hơi khó buông : Vì, e bạn đã tự coi thường bạn mình. Khi trao tặng bạn, sở hữu chủ đã hàm ý: Tôi yêu quý bạn trọn cả đời tôi.
27/03/2024(Xem: 748)
Chinh Phụ Ngâm, nguyên tác của danh sĩ Đặng Trần Côn, diễn nôm song thất lục bát của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm là một áng thơ tình kiệt tác của Việt Nam và thế giới. Tập thơ diễn tả nỗi thương nhớ chồng, người chinh phu nơi quan ải, và những đau khổ người khuê phụ thời chiến loạn phải chịu đựng trong sự sự bạo tàn của chiến tranh. Tiếp tục sự đóng góp cá nhân cho công trình bảo tồn và phổ biến văn hóa Việt mà tôi bắt đầu từ tập thơ nhạc song ngữ “A Garden of Vietnamese Lyrics & Verse”, gồm khoảng 150 bài thơ và nhạc của nhiều tác giả, tiền chiến và hiện đại, xuất bản năm 2019, cho đến tác phẩm song ngữ “The Tale of Kiều” được phổ biến năm 2023 qua ebook, sách in, trang mạng và youtube videos, rồi năm giáp thìn này, tôi vừa hoàn tất tập thơ song ngữ “Chinh Phụ Ngâm / Lament Song of a Soldier’s Wife”.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
110,220,567