Chùa Thiên Mụ, Huế, Ngôi Cổ Tự Danh Tiếng Bên Dòng Sông Hương

30/08/202018:56(Xem: 8437)
Chùa Thiên Mụ, Huế, Ngôi Cổ Tự Danh Tiếng Bên Dòng Sông Hương

Chua Linh Mu (4)


CHÙA THIÊN MỤ, HUẾ
NGÔI CỔ TỰ DANH TIẾNG BÊN DÒNG SÔNG HƯƠNG

Bài viết của Nhiếp ảnh gia Võ Văn Tường
Do Phật tử Quảng Hương diễn đọc
từ Trang Nhà Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu




 

Chùa Thiên Mụ thường gọi là chùa Linh Mụ, tọa lạc trên đồi Hà Khê, đường Nguyễn Phúc Nguyên, xã Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa nằm ở bờ bắc sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế 5km.

Sách Ô Châu cận lụccủa Tiến sĩ Dương Văn An cho biết chùa Thiên Mụ ở phía nam xã Giang Đạm, huyện Kim Trà, nóc ở đỉnh núi, chân gối dòng sông.

Chùa được chúa Tiên - Nguyễn Hoàng cho xây dựng vào năm 1601. Năm 1665, chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu chùa khang trang. Năm 1695, Thiền sư Thạch Liêm, người Trung Quốc, được chúa Nguyễn mời làm trụ trì chùa. Từ chùa Thiên Mụ và chùa Khánh Vân (Huế), Ngài đã truyền bá Thiền phái Tào Động ở đàng Trong.Hòa thượng Thạch Liêm đã tả cảnh chùa Thiên Mụ: “Đêm 15 trời mưa, ra đến chùa Thiên Mụ. Chùa này tức Vương phủ ngày xưa (?) chung quanh có trồng nhiều cây cổ thụ, day mặt ra bờ sông; trước chùa ngư phủ, tiều phu tấp nập sớm chiều qua lại. Trong chùa cột kèo chạm trổ rất tinh xảo …” (1)

Năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc đại hồng chung (cao 2,5m, đường kính 1,4m, nặng 3285 cân, tương đương 1.985,8 kg). Năm 1714, chúa cho sửa chùa khang trang, mỹ lệ;mở an cư kiết hạ trong vườn Tỳ Da suốt tháng; cho người sang Trung Quốc thỉnh Tam Tạng kinh điển hơn ngàn bộ đem về lưu giữ tại chùa. Năm 1715, công trình hoàn thành, chúa cho dựng bia để ghi nhớ. Tấm bia đá “Ngự kiến Thiên Mụ tự” (cao 2,6m, rộng 1,25m) đặt trên lưng một con rùa bằng đá cẩm thạch (dài 2,2m, rộng 1,6m). Tấm bia khắc chính lời văn của vị Quốc chúa là tư liệu lịch sử quý và có giá trị chính xác. Văn bia có đoạn: “Quyên góp ngọc ngà, chẳng tiếc vàng bạc, hễ luật nước đã truyền, công việc xây dựng lâu đài cung điện do quan lính đảm trách chẳng sợ lao nhọc, đến cùng lực có toàn dân giúp sức, chẳng sợ năm tháng kéo dài.” (2). Minh Vương đã miêu tả cảnh chùa Thiên Mụ bấy giờ: “Từ cửa núi đi vào có điện Thiên Vương, điện Ngọc Hoàng, Đại Hùng Bửu Điện, nhà thuyết pháp, lầu tàng Kinh. Hai bên là lầu chuông và lầu trống; rồi điện Thập Vương, nhà Vân Thủy, nhà ăn, nhà tọa Thiền; rồi điện Đại Bi, điện Dược Sư, nhà ở của chư Tăng, nhà trọ cho khách, không dưới vài mươi sở. Bên sau là vườn Tỳ Da, trong vườn có nhà Phương trượng và các chỗ, cũng không dưới vài chục sở. Tất cả đều sáng chói rực rỡ, khiến cho người xem phải kinh ngạc sợ hãi, thật là một tòa quang minh trong thế giới toàn sắc vàng rực vậy”.(3)

và bài minh ca ngợi ngôi danh lam này:

                                    “... Phía Nam nước Việt chừ, núi sông đẹp đẽ

                                    Ngôi chùa hùng tráng chừ, cửa Thiền nắng chiếu

                                    Tánh vốn trong sạch chừ, nước chảy róc rách

                                    Đất nước an ổn chừ, bốn cảnh thanh nhàn”.


Sau khi chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) xưng vương, ông đã truy tôn bảy đời chúa trước lên vương hiệu và chạm bài vị thờ ở chùa Thiên Mụ.

Năm 1776, chúa Nguyễn Phúc Thuần thất trận bỏ chạy khỏi kinh thành. Quân Trịnh chiếm Phú Xuân. Chùa Thiên Mụ không có vị trú trì chăm sóc trở thành nơi hoang liêu. 10 năm sau, năm 1786, quân Trịnh lại bị quân Tây Sơn đánh bại, chùa Thiên Mụ đi vào giai đoạn hoang tàn, đổ nát cho đến năm 1815.

Năm 1815, vua Gia Long đã cho trùng kiến chùa Thiên Mụ, xây Đại Hùng Bảo Điện, điện Di Lặc và điện Quan Âm. Đến đời vua Minh Mạng, vua đã năm lần cho mở đại trai đàn tại chùa vào các năm: 1820, 1825, 1835, 1837 và 1838. Vua đã ngự giá lên chùa dự lễ đại trai đàn năm 1835.

Năm 1844, nhân dịp mừng lễ “bát thọ” của bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (vợ vua Gia Long, bà nội vua Thiệu Trị), vua Thiệu Trị đã cho kiến thiết chùa Thiên Mụ thành ngôi phạm vũ có giá trị về kiến trúc và mỹ thuật. Công trình kiến trúc nổi tiếng của chùa là ngôi tháp hình bát giác, 7 tầng, cao 21m, được vua Thiệu Trị cho xây dựng năm 1844, mang tên tháp Từ Nhân. Năm sau, vua sắc chỉ đổi tên Phước Duyên bảo tháp. Mỗi tầng tháp đều có thờ tượng Phật.

Năm 1844, vua Thiệu Trị cho xây bốn trụ biểu lớn trước ngôi tháp. Năm 1846, xây hai bi đình. Một bi đình dựng bia “Thiên Mụ chung thanh”khắc thơ của vua các dịp vua viếng chùa. Một bi đình dựng bia “Phước Duyên bảo tháp bi ký”nói ý nghĩa việc xây tháp Phước Duyên.Trước tháp, vua cho xây đình Hương Nguyện, ngôi nhà vuông tám mái, trên chóp đặt một pháp luân. Hai bên đình là lầu đặt tấm bia lớn trên lưng rùa năm 1715 và đại hồng chung đúc năm 1710 đời chúa Nguyễn Phúc Chu.

Đến đời vua Tự Đức, chùa đổi tên là chùa Linh Mụ. Vua cho khắc bức hoành có chữ “Linh MụTự” treo ở cổng tam quan.

Trận bão năm 1904 làm chùa bị sập đổ nhiều nơi. Năm 1907, đời vua Thành Thái, chùa được trùng tu, thay đổi một số công trình kiến trúc.Sách “Châu bản triều Nguyễn” cho biết vào năm 1908, tháp Phước Duyên bị sét đánh hỏng, triều đình đã xuất 132 đồng 3 hào 1 xu cho Bộ Công sửa chữa.

Chùa bị hư hỏng nặng năm 1943. Từ năm 1945, Hòa thượng Thích Đôn Hậu đã tổ chức công cuộc đại trùng tu kéo dài hơn 30 năm.

Chùa Thiên Mụ là một trong 16 công trình nằm trong danh mục Di sản văn hóa thế giới (1993) của quần thể di tích Huế. Ngày 28/8/2003, chùa đã khởi công trùng tu với kinh phí khoảng 15 tỷ đồng do Nhà nước cấp.

Ngôi chùa ngày nay có hai phần. Phần sân ngoài mang tính kỷ niệm, xây dựng kiên cố. Đó là: trụ biểu, tháp, bia và chuông. Phần bên trong cổng tam quan là các công trình kiến trúc tôn trí tượng thờ như: ngôi Đại Hùng Bửu Điện, điện Địa Tạng, điện Quan Âm … Điện Đại Hùng xây dựng theo kiểu nhà “trùng thiềm điệp ốc”, nét riêngcủa chùa Huế. Bên cạnh điện Đại Hùng có hòn non bộ lớn của ông Đào Tấn và chiếc xe ô tô Austin - di vật: “Ngày 11/6/1963. Hòa thượng Thích Quảng Đức đã dùng chiếc xe này đi từ chùa Ấn Quang đến ngã tư đường Phan Đình Phùng - Lê Văn Duyệt, Sài Gòn. Vừa bước xuống xe, Hòa thượng tĩnh tọa giữa lòng đường, rồi tẩm xăng và châm lửa tự thiêu để phản đối chính sách bạo tàn kỳ thị Phật giáo và đàn áp tự do tín ngưỡng của chế độ Ngô Đình Diệm”. Cuối khu vườn là ngôi tháp mộ của cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu.

Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chùa còn bảo lưu nhiều tượng cổ, pháp khí, di vật các thế kỷ 17, 18 và 19 như: khánh đồng, đại hồng chung, bia đá, bốn chữ “Linh Thứu CaoPhong” thủ bút của chúa Nguyễn Phúc Chu. Các bộ tượng Tam Thế Phật, đức Phật Thích Ca, Bồ tát Di Lặc, Quan Âm Thủ Quyển, Kim Cang, Minh Vương, Hộ Pháp … ở chùa đều là những tác phẩm mỹ thuật đặc sắc và lớn nhất trong các ngôi chùa xứ Huế.

Đại hồng chung chùa Thiên Mụ đúc năm 1710, trình độ mỹ thuật cao, có 4 con rồng quẫy mình, 4 con phượng bay đuôi, cành lá uốn như lượn sóng. Đại hồng chung được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận là Bảo vật Quốc gia đợt 2 ngày 30/12/2013.

Tấm bia “Ngự kiến Thiên Mụ tự” năm 1715 được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận là Bảo vật Quốc gia đợt 8 ngày 15/01/2020.

Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã xác lập hai kỷ lục ở chùa là:

01. Tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ, ngôi tháp bát giác cổ và cao nhất (ngày 11/6/2006)

02. Chùa Thiên Mụ, ngôi chùa có tấm bia thời Lê Trung Hưng lớn nhất (ngày 05/5/2008)

 

Gió đưa cành trúc la đà,

Tiếng chuông Linh Mụ canh gà Thọ Xương.


Chùa Thiên Mụ là ngôi cổ tự nổi tiếng. Câu ca dao từ bao đời đã để lại trong lòng người dân Huế và du khách đến Huế hình ảnh một cảnh chùa đẹp, thơ mộng bên bờ sông Hương.

 

Võ Văn Tường

 

 

(1), (2), (3): Hà Xuân Liêm, 2000, Những ngôi chùa Huế, Nxb. Thuận Hóa, Huế.

 

Chú thích ảnh:

 
Chua Linh Mu (1)

Ảnh 01. Toàn cảnh chùa

Chua Linh Mu (2)
Ảnh 02. Thuyền đưa du khách viếng chùa

Chua Linh Mu (3)Chua Linh Mu (4)
Ảnh 03, 04. Toàn cảnh chùa

Chua Linh Mu (5)
Ảnh 05, 06. Tháp Phước Duyên và tượng thờ trong tháp

Chua Linh Mu (7)Chua Linh Mu (8)Chua Linh Mu (9)
Ảnh 07-09. Đại hồng chung (năm 1710)

Chua Linh Mu (10)Chua Linh Mu (11)
Ảnh 10, 11. Bia khắc bài thơ “Thiên Mụ chung thanh” của vua Thiệu Trị

Chua Linh Mu (12)Chua Linh Mu (13)Chua Linh Mu (14)Chua Linh Mu (15)
Ảnh 12-15. Bia khắc bài “Ngự kiến Thiên Mụ tự” của chúa Nguyễn Phúc Chu

Chua Linh Mu (16)Chua Linh Mu (17)
Ảnh 16, 17. Bia khắc bài “Thiên Mụ tự Phước Duyên bảo tháp bi” của vua Thiệu Trị

Chua Linh Mu (18)Chua Linh Mu (19)
Ảnh 18-20. Cổng tam quan

Chua Linh Mu (21)Chua Linh Mu (22)
Ảnh 21, 22. Tượng Hộ Pháp

Chua Linh Mu (23)Chua Linh Mu (24)
Ảnh 23, 24. Ngôi Đại Hùng Bửu Điện




Chua Linh Mu (25)
Ảnh 26. Tượng Bồ tát Di Lặc

Chua Linh Mu (26)
Ảnh 27. Tượng Bồ tát Quán Thế Âm

Chua Linh Mu (27)
Ảnh 28. Tụng kinh

Chua Linh Mu (29)Chua Linh Mu (30)
Ảnh 29, 30. Điện Địa Tạng

Chua Linh Mu (31)Chua Linh Mu (32)
Ảnh 31-33. Điện Quan Âm

Chua Linh Mu (33)Chua Linh Mu (34)
Ảnh 34, 35. Bàn thờ Thập Điện Minh Vương

Chua Linh Mu (35)
Ảnh 36. Bức hoành “Linh Thứu Cao Phong”

Chua Linh Mu (36)
Ảnh 37. Tháp mộ cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu

Chua Linh Mu (38)
Ảnh 38-39. Hòn non bộ lớn

Chua Linh Mu (39)
Ảnh 40. Nhà khách

Chua Linh Mu (40)Chua Linh Mu (41)
Ảnh 41-42. Hòa thượng trụ trì và các chú tiểu

Chua Linh Mu (42)
Ảnh 43. Chiếc xe di vật ngày 11/6/1963

Chua Linh Mu (43)Chua Linh Mu (44)
Ảnh 44-45. Khách Quốc tế viếng chùa

Chua Linh Mu (45)
Ảnh 46. Bến thuyền chùa Thiên Mụ
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/01/2026(Xem: 1148)
Sau thời gian điều phục bệnh duyên tại Thiền thất trên Đồi Trại Thủy, ngày 24/01/2026, Trưởng lão Hòa thượng Thích Phước An đã nhập viện tại Khánh Hòa để điều trị bệnh cũ tái phát. Hiện nay, bệnh duyên của Đức Tăng Trưởng được Bác sĩ chẩn đoán với nhiều dấu hiệu không tốt, tứ đại mỗi ngày suy hao do tuổi cao sức yếu. Để tỏ lòng tôn kính đối với bậc Tôn trưởng trong ngôi nhà Phật pháp, Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống GHPGVNTN trân trọng thông bạch đến Chư tôn tịnh đức Tăng-già nhị bộ, Thiện tín Phật tử trong và ngoài nước tùy thuận nhân duyên tổ chức các khóa lễ kỳ an, mang năng lượng công đức tu tập, phụng hành Phật sự của tứ chúng, nhất tâm hồi hướng kỳ nguyện cho Đức Trưởng lão Hòa thượng Tăng Trưởng Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống GHPGVNTN được bệnh duyên tiêu trừ, tứ đại điều hòa, cửu trụ Ta bà hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sanh.
16/01/2026(Xem: 1261)
Chùa Linh Nghĩa tọa lạc thôn Phú Khánh trung, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh (cũ), tỉnh Khánh Hòa. Xưa thật xưa, nơi đây là Nghĩa Trũng Đàn (義塚壇) do các quan triều trong Phủ Diên Khánh, Khánh Hòa sáng lập năm Tự Đức thứ tư – 1851, chính là nơi thờ cúng hài cốt của các nghĩa sĩ trận vong và chư vong linh trong thời nhà Nguyễn (1752-1792)... Nghĩa trũng là tên gọi chung chỉ những khu mộ tập trung dành cho những người hy sinh vì đại nghĩa, đặc biệt là các nghĩa sĩ, liệt sĩ, hay những người chết oan, vong vất vưởng không có nơi nương tựa... Đàn là nơi bày biện thiết lễ để cúng kiếng, cầu siêu (như đàn tràng)…
15/01/2026(Xem: 1353)
Tịnh xá Linh Sơn tọa lạc trên đỉnh một ngọn đồi gần bên đèo Rù Rì, thuộc địa phận thôn Lương Hòa, xã Vĩnh Lương (cũ), phường Bắc Nha Trang. Thuở sơ khai, Tịnh xá Linh Sơn chỉ là một am cốc đơn sơ do Sư Thích Giác Lượng tạo dựng giữa rừng cây đá núi rậm rạp để tịnh tu vào những năm đầu thập niên 1970 của thế kỷ trước. Đến năm 1973, sau khi Đức Thầy Thích Giác An- đệ tử Tổ sư Minh Đăng Quang, khai sáng Tổ đình Nam Trung của Giáo đoàn III hệ phái Khất Sĩ, trong đó có Tịnh xá Ngọc Tòng- viên tịch (vào ngày 16 tháng 7 sau ngày Tự Tứ mùa Vu lan Tân Hợi 1971) thì Sư Giác Lượng với đương vị Trị Sự Trưởng đã về “mái cốc am thiền” an trú suốt 3 tháng, sống đời viễn ly thanh tịnh để hoàn thành tập tài liệu “Lưu Kỷ” mang giá trị lịch sử thiêng liêng. Lưu Kỷ là tập sách được biên soạn, ghi lại toàn bộ những sự kiện, hình ảnh, cảm xúc và chứng tích liên quan đến sự viên tịch của cố Trưởng lão Giác An vốn là bổn sư truyền giới của Sư Giác Lượng.
12/01/2026(Xem: 1624)
Sáng 8 giờ, thứ Hai ngày 12 tháng 01 năm 2026, trong tinh thần từ bi cứu khổ và hộ trì Tam Bảo, Hòa Thượng Thích Thông Mẫn đã quang lâm Chùa Thiên Minh, thành kính cúng dường Pháp bảo đến Hòa Thượng Viện Chủ Thích Khế Chơn, nhằm hỗ trợ các tự viện tại những địa phương chịu nhiều thiệt hại bởi bão lũ miền Trung Việt Nam. Trong không gian tuy khiêm tốn mà trang nghiêm, Hòa Thượng Khế Chơn – Viện Chủ cùng Hòa Thượng Thích Thông Mẫn đã cử hành lễ cúng dường Pháp bảo đến 25 ngôi chùa vùng lũ. Sau thời pháp ngắn đầy đạo vị về ý nghĩa Tam Bảo, đại chúng đồng hướng tâm đảnh lễ, cung kính tiếp nhận Pháp, khơi dậy niềm tin và nghị lực tu học giữa những khó khăn chồng chất. Hoàn mãn Phật sự, đoàn nhanh chóng lên đường tiếp tục hành trình về huyện Phú Vang (cũ), nay là xã Vĩnh Lộc.
11/01/2026(Xem: 561)
Với hoài bão và tâm nguyện phát triển Tu viện Vạn Hạnh tọa lạc tại đường Độc Lập, phường Phú Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh (Quốc lộ 51, TP. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa—Vũng Tàu cũ) do Cố Hòa thượng Thích Đồng Huy khai sơn vào năm 1970 trở thành nơi tu học cho Chư Tăng Ni và Phật tử tại làng Vạn Hạnh ở núi Thị Vải cũng như các Tăng Ni và Phật tử khắp nơi. Nay, chúng tôi, chúng con, được sự ủy nhiệm của Tông môn do Hòa thượng Thích Minh Thiện và Thượng tọa Thích Minh Chánh cùng Huynh đệ trong pháp phái giao phó kế thừa Trụ trì và phát triển chốn Tổ trở thành Trung tâm Phật giáo của Làng Vạn Hạnh.
01/08/2025(Xem: 1265)
Chùa Viên Giác tọa lạc tại khối phố Tu Lễ, phường Cẩm Phô, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, nay là phường Hội An, thành phố Đà Nẵng. Chùa được dân làng Cẩm Phô trùng tạo vào năm Thiệu Trị nguyên niên, Tân Sửu (1841), tính đến nay đã được 184 năm. Với chiều dài lịch sử gần hai thế kỷ gắn bó cùng vận mệnh thịnh suy của dân tộc và đạo pháp, chùa Viên Giác đã đóng góp phần nhỏ của mình trong sự phát triển của lịch sử Phật giáo Quảng Nam trong quá khứ và hiện tại.
01/07/2025(Xem: 1220)
Theo sách "Thiền Uyển tập anh", thiền sư Đạo Hạnh là con ông Từ Vinh và bà Tăng Thị ở làng Yên Lãng (tục gọi là làng Láng), là người thông minh, hiếu học, có chí lớn, tính tình phóng khoáng. Sau khi cha mất, Từ Đạo Hạnh chọn con đường đi Tây Vực để học đạo. Tuy không đến được Ấn Độ nhưng ông đã học được những phép thuật ở phái Mật Tông của Phật giáo. Khi trở về, ông đến tu tại núi Phật Tích (Hà Tây).
22/06/2025(Xem: 1673)
Chùa Thanh Lợi Trụ Trì: TT Thích Tịnh Quang Địa chỉ: Thôn Cửu Lợi Xã Cam Hoà. Huyện Cam Lâm Tỉnh Khánh Hoà. Việt Nam
20/06/2025(Xem: 1139)
Cụm tháp Bạc sừng sững trên đồi cao lộng gió, dưới chân có khúc quanh của dòng sông Côn. Nghìn năm trước tháp kiêu hãnh dưới bầu trời xanh, nghìn năm sau tháp cô quạnh giữa dòng đời xuôi ngược. Trong tám tháng lưu lại ở Chăm Pa, có thể thượng hoàng Trần Nhân Tông đã đến viếng tháp này vì tháp không xa kinh đô Đồ Bàn (Vijaya) là mấy. Lịch sử thịnh – suy rất vô thường, sự - yếu mạnh thay đổi liên tục… Đến năm 1471 vua Lê Thánh Tông mang đại quân đến đây và đã cho phá huỷ kinh đô Đồ Bàn, cả vùng đất này nhập vào Đại Việt.
20/05/2025(Xem: 1985)
Kính Bạch Chư Tôn Hoà Thượng, Chư Thượng Toạ, Đại Đức Tăng Ni, Kính Thưa Quý Đạo Hữu Phật Tử, Quý Thiện Nam Tín Nữ, Quý Doanh Nghiệp, Các Nhà Hảo Tâm Trong Và Ngoài Nước. Chùa Đa_ An Lạc Thiền Tự, Toạ Lạc Tại xóm 5, Quán Khái , Vĩnh Phong, xã Tiền Phong, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng. Chùa Được Xây Dựng Từ Thế Kỷ Thứ XVI Trải Qua Bao Thăng Trầm Mưa Nắng Nay Đã Xuống Cấp. Với Tâm Nguyện Phục Hưng Ngôi Tam Bảo, Hoằng Dương Phật Pháp, Chư Tăng Bổn Tự Cùng Nhân Dân, Phật Tử Địa Phương Muốn Triển Khai Tu Sữa Xây Dựng Lại Ngôi Tam Bảo Để Trang Nghiêm Cảnh Phật Và Giúp Phật Tử Có Điều Kiện Tốt Hơn Để Học Phật, Nghe Pháp, Tu Dưỡng Tâm Bồ Đề. Vì Tâm Nguyện Đó Bổn Tự Viết Tâm Thư Kêu Gọi Quý Doanh Nghiệp, Tổ Chức, Các Mạnh Thường Quân, Các Nhà Hảo Tâm Chung Tay Người Ít Người Nhiều Phát Tâm Công Đức Xây Dựng Chùa Đa_ An Lạc Thiền Tự.